- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Pārājikakaṇḍa
Bản dịch
Bi Vb Pj 5 — Ba-la-di 5
5. Ubbhajāṇumaṇḍalikāsikkhāpada
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, Sāḷha cháu trai của Migāra có ý định xây dựng trú xá cho hội chúng tỳ khưu ni. Khi ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra đã đi đến gặp các tỳ khưu ni và nói điều này:—“Thưa các ni sư, tôi muốn xây dựng trú xá cho hội chúng tỳ khưu ni. Hãy giao cho tôi vị tỳ khưu ni là vị phụ trách công trình mới.” Vào lúc bấy giờ, có bốn chị em đã xuất gia nơi các tỳ khưu ni là: Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, Thullanandā. Trong số các cô ấy, tỳ khưu ni Sundarīnandā đã xuất gia lúc còn trẻ, đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, trí tuệ, kinh nghiệm, thông minh, sắc sảo, cần cù, biết cách suy xét tính toán, có khả năng để xây dựng, có khả năng để hoàn thành công việc ấy. Khi ấy, hội chúng tỳ khưu ni đã chỉ định tỳ khưu ni Sundarīnandā làm vị phụ trách công trình mới rồi đã giao cho Sāḷha cháu trai của Migāra. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā thường xuyên đi đến nhà của Sāḷha cháu trai của Migāra (nói rằng):—“Hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục.” Sāḷha cháu trai của Migāra cũng thường xuyên đi đến chỗ ngụ của các tỳ khưu ni để biết được việc đã làm xong hoặc chưa làm xong. Do sự thường xuyên gặp gỡ, hai người đã sanh tâm quyến luyến. Khi ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra trong khi không có được cơ hội để gần gũi thân mật với tỳ khưu ni Sundarīnandā nên đã làm bữa trai phạn dâng hội chúng tỳ khưu ni chính vì mục đích ấy. Khi ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra trong khi xếp đặt chỗ ngồi ở nhà ăn (nghĩ rằng): “Chừng này vị tỳ khưu ni là thâm niên hơn ni sư Sundarīnandā” rồi đã sắp xếp chỗ ngồi phía bên này, “Chừng này vị là trẻ hơn” rồi đã sắp xếp chỗ ngồi ở phía bên kia, và đã sắp xếp chỗ ngồi cho tỳ khưu ni Sundarīnandā ở góc tường là nơi đã được che khuất. Như thế, các tỳ khưu ni trưởng lão có thể tin rằng: “Cô ta đang ngồi ở chỗ các tỳ khưu ni mới tu,” còn các tỳ khưu ni mới tu có thể tin rằng: “Cô ta đang ngồi ở chỗ các tỳ khưu ni trưởng lão.”
Inda-bh 2Sau đó, Sāḷha cháu trai của Migāra đã cho người thông báo thời giờ đến hội chúng tỳ khưu ni rằng:—“Thưa các ni sư, đã đến giờ, bữa ăn đã chuẩn bị xong.” Tỳ khưu ni Sundarīnandā đã xét đoán rằng: “Sāḷha cháu trai của Migāra đã làm bữa trai phạn dâng hội chúng tỳ khưu ni không phải vì phước báu, anh ta có ý muốn gần gũi thân mật với ta; nếu ta đi thì ta sẽ bị mất phẩm giá!” nên đã bảo vị tỳ khưu ni học trò rằng:—“Hãy đi và mang thức ăn về cho ta. Và ai hỏi ta thì cho hay rằng: ‘Cô bị bệnh.’”—“Thưa ni sư, xin vâng,” vị tỳ khưu ni ấy đã trả lời tỳ khưu ni Sundarīnandā.
Inda-bh 3Vào lúc bấy giờ, Sāḷha cháu trai của Migāra đứng ở bên ngoài cánh cổng ra vào hỏi han về tỳ khưu ni Sundarīnandā rằng:—“Thưa ni sư, ni sư Sundarīnandā ở đâu? Thưa ni sư, ni sư Sundarīnandā ở đâu?” Khi được nói như thế, vị tỳ khưu ni học trò của tỳ khưu ni Sundarīnandā đã nói với Sāḷha cháu trai của Migāra điều này:—“Này đạo hữu, (ni sư) bị bệnh. Tôi sẽ mang thức ăn về.” Khi ấy, Sāḷha cháu trai của Migāra (nghĩ rằng): “Sở dĩ ta đã làm bữa trai phạn nhằm lợi ích cho hội chúng tỳ khưu ni có nguyên nhân là ni sư Sundarīnandā” nên đã ra lệnh cho mọi người rằng: “Hãy dâng bữa trai phạn đến hội chúng tỳ khưu ni,” nói xong đã đi đến chỗ ngụ của các tỳ khưu ni.
Inda-bh 4Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā đứng ở bên ngoài cổng ra vào tu viện trông ngóng Sāḷha cháu trai của Migāra. Rồi tỳ khưu ni Sundarīnandā đã nhìn thấy Sāḷha cháu trai của Migāra từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã đi vào tu viện trùm y kín đầu rồi nằm xuống ở chiếc giường. Sau đó, Sāḷha cháu trai của Migāra đã đi đến gặp tỳ khưu ni Sundarīnandā, sau khi đến đã nói với tỳ khưu ni Sundarīnandā điều này:—“Thưa ni sư, có phải ni sư không được khoẻ? Sao lại nằm?”—“Này đạo hữu, bởi vì điều ấy là như vậy! Là khi nàng thích chàng mà chàng lại không thích!”—“Thưa ni sư, sao tôi lại không thích ni sư được? Ngặt là tôi không có được cơ hội để gần gũi thân mật với ni sư.” Rồi Sāḷha cháu trai của Migāra nhiễm dục vọng đã thực hiện việc xúc chạm cơ thể với tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng.
Inda-bh 5Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ yếu đuối già cả bị bệnh ở bàn chân đang nằm không xa tỳ khưu ni Sundarīnandā. Vị tỳ khưu ni ấy đã nhìn thấy Sāḷha cháu trai của Migāra nhiễm dục vọng đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng, sau khi thấy mới phàn nàn phê phán chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng?”
Inda-bh 6Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng?” Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn phê phán chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 7Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn đối với tỳ khưu ni Sundarīnandā, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại ưng thuận việc xúc chạm cơ thể của người nam nhiễm dục vọng vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau đó, khi đã khiển trách tỳ khưu ni Sundarīnandā bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hòa nhã, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực. Ngài đã thuyết Pháp thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 8—“Này các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu ni vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những tỳ khưu ni ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu ni hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng ưng thuận sự sờ vào hoặc sự vuốt ve hoặc sự nắm lấy hoặc sự chạm vào hoặc sự ôm chặt của người nam nhiễm dục vọng từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên, vị ni này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú, là người nữ có liên quan đến phần trên đầu gối.”
Inda-bh 9Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào có mối quan hệ như vầy, có giai cấp như vầy, có tên như vầy, có họ như vầy, có giới hạnh như vầy, có trú xứ như vầy, có hành xứ như vầy, là vị trưởng lão ni (trên mười năm ), mới tu (dưới năm năm), hoặc trung niên (trên năm năm); vị ni ấy được gọi là ‘vị ni nào.’
Tỳ khưu ni: ‘Người nữ đi khất thực’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ chấp nhận việc đi khất thực’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ mặc y đã được cắt rời’ là tỳ khưu ni. Là tỳ khưu ni do sự thừa nhận. Là tỳ khưu ni do tự mình xác nhận. Là tỳ khưu ni khi được (đức Phật) nói rằng: ‘Này tỳ khưu ni, hãy đi đến.’ ‘Người nữ đã tu lên bậc trên bằng Tam Quy’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ hiền thiện’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ có thực chất’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ Thánh hữu học’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ Thánh vô học’ là tỳ khưu ni. ‘Người nữ đã được tu lên bậc trên bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư không sai sót, đáng được duy trì với cả hai hội chúng có sự hợp nhất’ là tỳ khưu ni. Ở đây, vị tỳ khưu ni đã được tu lên bậc trên bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư không sai sót, đáng được duy trì với cả hai hội chúng có sự hợp nhất, vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
(Nữ) nhiễm dục vọng nghĩa là người nữ có dục vọng, có sự khao khát, có tâm quyến luyến.
(Nam) nhiễm dục vọng nghĩa là người nam có dục vọng, có sự khao khát, có tâm quyến luyến.
Người nam nghĩa là nam nhân loại, không phải Dạ-xoa nam, không phải ma nam, không phải thú đực, có trí suy xét, có khả năng thực hiện việc xúc chạm cơ thể.
Từ xương đòn (ở cổ) trở xuống: là phía dưới xương đòn (ở cổ).
Từ đầu gối trở lên là phía trên đầu gối.
Sự sờ vào nghĩa là việc được cọ xát vào.
Sự vuốt ve nghĩa là sự di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác.
Sự nắm lấy nghĩa là việc được nắm lấy.
Sự chạm vào nghĩa là việc được đụng vào.
Hoặc ưng thuận sự ôm chặt: sau khi nắm lấy phần thân thể rồi ưng thuận việc ôm chặt vào.
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị ni trước đây.
Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy; tương tợ như thế, vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng ưng thuận sự sờ vào hoặc sự vuốt ve hoặc sự nắm lấy hoặc sự chạm vào hoặc sự ôm chặt của người nam nhiễm dục vọng từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên thì không còn là nữ Sa-môn, không phải là Thích nữ; vì thế được gọi ‘là vị phạm tội pārājika.’
Không được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ni ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’
Trường hợp bị nhiễm dục vọng cả hai, vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên thì phạm tội pārājika. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội thullaccaya. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội thullaccaya. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên từ đầu gối trở xuống thì phạm tội thullaccaya. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa.
Trường hợp bị nhiễm dục vọng một phía, vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên thì phạm tội thullaccaya. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên từ đầu gối trở xuống thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa.
Trường hợp bị nhiễm dục vọng cả hai, đối với Dạ-xoa nam hoặc ma nam hoặc thú đực, vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên, thì phạm tội thullaccaya. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên từ đầu gối trở xuống thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa.
Trường hợp bị nhiễm dục vọng một phía, vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào thân (đối tượng) từ xương đòn (ở cổ) trở lên từ đầu gối trở xuống thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật được gắn liền với thân (đối tượng) bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa. Vị sờ vào vật (đối tượng) ném ra bằng vật ném ra thì phạm tội dukkaṭa.
Không cố ý, vị ni thất niệm, vị ni không hay biết, vị ni không ưng thuận, vị ni bị điên, vị ni có tâm bị rối loạn, vị ni bị thọ khổ hành hạ, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Dứt điều pārājika thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on offenses entailing expulsion
5. The training rule on physical contact with a man
Origin story
Phần Bất Cộng Trụ
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Homage to the Buddha, the Perfected One, the fully Awakened One
Con xin cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena sāḷho migāranattā bhikkhunisaṅghassa vihāraṁ kattukāmo hoti. Atha kho sāḷho migāranattā bhikkhuniyo upasaṅkamitvā etadavoca—“icchāmahaṁ, ayye, bhikkhunisaṅghassa vihāraṁ kātuṁ. Detha me navakammikaṁ bhikkhunin”ti.
Tena kho pana samayena catasso bhaginiyo bhikkhunīsu pabbajitā honti—nandā, nandavatī, sundarīnandā, thullanandāti. Tāsu sundarīnandā bhikkhunī taruṇapabbajitā abhirūpā hoti dassanīyā pāsādikā paṇḍitā byattā medhāvinī dakkhā analasā, tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgatā, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. Atha kho bhikkhunisaṅgho sundarīnandaṁ bhikkhuniṁ sammannitvā sāḷhassa migāranattuno navakammikaṁ adāsi. Tena kho pana samayena sundarīnandā bhikkhunī sāḷhassa migāranattuno nivesanaṁ abhikkhaṇaṁ gacchati—“vāsiṁ detha, parasuṁ detha, kuṭhāriṁ detha, kudālaṁ detha, nikhādanaṁ dethā”ti. Sāḷhopi migāranattā bhikkhunupassayaṁ abhikkhaṇaṁ gacchati katākataṁ jānituṁ. Te abhiṇhadassanena paṭibaddhacittā ahesuṁ.
At one time when the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery, Migāra’s grandson Sāḷha wanted to build a dwelling for the Sangha of nuns. He went to the nuns and said, “Venerables, I wish to build a dwelling for the Sangha of nuns. Please get me the nun in charge of building work.”
At that time four sisters had gone forth as nuns: Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, and Thullanandā. Of these, the nun Sundarīnandā had gone forth when she was young, and she was beautiful, intelligent, skilled, and diligent, and she possessed good judgment in regard to doing and arranging things well. After appointing Sundarīnandā to be in charge of building work, the Sangha made her work with Sāḷha. As a consequence of this, Sundarīnandā would often go to Sāḷha’s house to ask for tools, whether a machete, a hatchet, an ax, a spade, or a chisel. And Sāḷha would often go to the nunnery to find out about the progress of the building work. And because they saw each other frequently, they fell in love.
1. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn trú ngụ ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, Sāḷha là cháu của Migāra có ý muốn xây dựng một ngôi trú xá cho chúng tỳ khưu ni. Khi ấy, Sāḷha là cháu của Migāra sau khi đi đến các tỳ khưu ni đã nói lên điều này: ‘Thưa các sư cô, tôi muốn xây dựng một ngôi trú xá cho chúng tỳ khưu ni. Xin quý vị hãy cử cho tôi một vị tỳ khưu ni trông coi công việc mới.’ Vào lúc bấy giờ, có bốn chị em đã xuất gia trong hàng tỳ khưu ni là Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, và Thullanandā. Trong số ấy, tỳ khưu ni Sundarīnandā đã xuất gia khi còn trẻ, có dung sắc xinh đẹp, đáng ưa nhìn, đáng mến; là người có trí tuệ, sáng suốt, thông minh, khéo léo, không biếng nhác, và được hội đủ sự thẩm xét thích hợp trong các công việc ấy, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp đặt. Khi ấy, chúng tỳ khưu ni sau khi chỉ định tỳ khưu ni Sundarīnandā đã giao cho Sāḷha là cháu của Migāra việc trông coi công việc mới. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā thường xuyên đi đến nhà của Sāḷha là cháu của Migāra (và nói): ‘Hãy cho cái bào, hãy cho cái búa lưỡi vòm, hãy cho cái rìu, hãy cho cái cuốc, hãy cho cái đục.’ Và Sāḷha là cháu của Migāra cũng thường xuyên đi đến trú xá của tỳ khưu ni để xem xét việc đã làm và chưa làm. Do việc gặp gỡ thường xuyên, hai người họ đã có tâm quyến luyến.
Atha kho sāḷho migāranattā sundarīnandaṁ bhikkhuniṁ dūsetuṁ okāsaṁ alabhamāno etadevaatthāya bhikkhunisaṅghassa bhattaṁ akāsi. Atha kho sāḷho migāranattā bhattagge āsanaṁ paññapento “ettakā bhikkhuniyo ayyāya sundarīnandāya vuḍḍhatarā”ti—ekamantaṁ āsanaṁ paññapesi “ettakā navakatarā”ti—ekamantaṁ āsanaṁ paññapesi. Paṭicchanne okāse nikūṭe sundarīnandāya bhikkhuniyā āsanaṁ paññapesi, yathā therā bhikkhuniyo jāneyyuṁ—“navakānaṁ bhikkhunīnaṁ santike nisinnā”ti; navakāpi bhikkhuniyo jāneyyuṁ—“therānaṁ bhikkhunīnaṁ santike nisinnā”ti. Atha kho sāḷho migāranattā bhikkhunisaṅghassa kālaṁ ārocāpesi—“kālo, ayye, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Sundarīnandā bhikkhunī sallakkhetvā—“na bahukato sāḷho migāranattā bhikkhunisaṅghassa bhattaṁ akāsi; maṁ so dūsetukāmo. Sacāhaṁ gamissāmi vissaro me bhavissatī”ti, antevāsiniṁ bhikkhuniṁ āṇāpesi—“gaccha me piṇḍapātaṁ nīhara. Yo ce maṁ pucchati, ‘gilānā’ti paṭivedehī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho sā bhikkhunī sundarīnandāya bhikkhuniyā paccassosi.
Tena kho pana samayena sāḷho migāranattā bahidvārakoṭṭhake ṭhito hoti sundarīnandaṁ bhikkhuniṁ paṭipucchanto—“kahaṁ, ayye, ayyā sundarīnandā? Kahaṁ, ayye, ayyā sundarīnandā”ti? Evaṁ vutte, sundarīnandāya bhikkhuniyā antevāsinī bhikkhunī sāḷhaṁ migāranattāraṁ etadavoca—“gilānāvuso; piṇḍapātaṁ nīharissāmī”ti.
But because Sāḷha could not find any opportunity to be intimate with Sundarīnandā, he invited the Sangha of nuns for a meal. When preparing the seats in the dining hall, he counted the number of nuns senior to Venerable Sundarīnandā and placed their seats to one side, and he counted the number of nuns junior to her and placed their seats on the other side. He then placed Sundarīnandā’s seat in a concealed spot in a corner. In this way the senior nuns would think she was seated close to the junior ones and the junior nuns would think she was seated close to the senior ones. Soon afterwards he informed the Sangha that the meal was ready.
Sundarīnandā thought, “Sāḷha hasn’t prepared a meal for the Sangha as a service, but because he wants to be intimate with me. If I go, I will get into trouble.” She then told a nun who was her pupil, “Go and bring back almsfood for me. If anyone asks about me, tell them I’m sick.”
“Yes, venerable,” she replied.
Soon afterwards Sāḷha was standing outside his gatehouse repeatedly inquiring after Sundarīnandā: “Venerables, where’s Venerable Sundarīnandā?” The nun who was Sundarīnandā’s pupil told him: “She’s sick. I’m bringing her almsfood.”
656. Khi ấy, Sāḷha là cháu của Migāra do không có được cơ hội để làm hại tỳ khưu ni Sundarīnandā nên đã dâng bữa ăn đến chúng tỳ khưu ni chỉ vì mục đích ấy. Khi ấy, Sāḷha là cháu của Migāra trong khi sắp đặt chỗ ngồi ở nhà ăn đã sắp đặt chỗ ngồi ở một bên (nghĩ rằng): ‘Chừng này tỳ khưu ni lớn tuổi hơn sư cô Sundarīnandā,’ và đã sắp đặt chỗ ngồi ở một bên (nghĩ rằng): ‘Chừng này vị nhỏ tuổi hơn.’ Vị ấy đã sắp đặt chỗ ngồi cho tỳ khưu ni Sundarīnandā ở một nơi kín đáo, trong một góc khuất, để cho các vị tỳ khưu ni trưởng lão có thể biết rằng: ‘(Vị ấy) đang ngồi gần các tỳ khưu ni trẻ,’ và các tỳ khưu ni trẻ cũng có thể biết rằng: ‘(Vị ấy) đang ngồi gần các vị tỳ khưu ni trưởng lão.’ Khi ấy, Sāḷha là cháu của Migāra đã cho báo thời gian đến chúng tỳ khưu ni rằng: ‘Thưa các sư cô, đã đến giờ, bữa ăn đã được dọn sẵn.’ Tỳ khưu ni Sundarīnandā sau khi suy xét rằng: ‘Sāḷha là cháu của Migāra đã dâng bữa ăn đến chúng tỳ khưu ni không phải vì có nhiều thiện ý; người ấy muốn làm hại ta. Nếu ta đi, điều tai tiếng sẽ xảy đến cho ta,’ đã ra lệnh cho một tỳ khưu ni đệ tử rằng: ‘Hãy đi mang vật thực khất thực về cho ta. Và nếu có ai hỏi về ta, hãy báo lại rằng: ‘Vị ấy bị bệnh.’’ ‘Vâng, thưa sư cô,’ tỳ khưu ni ấy đã vâng lời tỳ khưu ni Sundarīnandā.
Tena kho pana samayena sundarīnandā bhikkhunī bahārāmakoṭṭhake ṭhitā hoti sāḷhaṁ migāranattāraṁ patimānentī. Addasā kho sundarīnandā bhikkhunī sāḷhaṁ migāranattāraṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna upassayaṁ pavisitvā sasīsaṁ pārupitvā mañcake nipajji. Atha kho sāḷho migāranattā yena sundarīnandā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sundarīnandaṁ bhikkhuniṁ etadavoca—“kiṁ te, ayye, aphāsu, kissa nipannāsī”ti?
“Evañhetaṁ, āvuso, hoti yā anicchantaṁ icchatī”ti.
“Kyāhaṁ taṁ, ayye, na icchissāmi? Api cāhaṁ okāsaṁ na labhāmi taṁ dūsetun”ti. Avassuto avassutāya sundarīnandāya bhikkhuniyā kāyasaṁsaggaṁ samāpajji.
Just then Sundarīnandā was standing outside the monastery gatehouse longing for Sāḷha. When she saw him coming, she entered the nunnery, put on her upper robe so that it covered her head, and lay down on her bed. Sāḷha approached her and said, “Venerable, what’s wrong with you? Why are you lying down?”
“That’s what happens when you desire someone who doesn’t desire you in return.”
“What do you mean I don’t desire you? I just couldn’t find an opportunity to be intimate with you.” And both having lust, he made physical contact with Sundarīnandā.
Vào lúc bấy giờ, Sāḷha, cháu của Migāra, đang đứng ở bên ngoài cổng vòm hỏi về tỳ-khưu-ni Sundarīnandā rằng: “Thưa các sư cô, sư cô Sundarīnandā ở đâu? Thưa các sư cô, sư cô Sundarīnandā ở đâu?” Khi được nói vậy, vị tỳ-khưu-ni đệ tử của tỳ-khưu-ni Sundarīnandā đã thưa với Sāḷha, cháu của Migāra, điều này: “Thưa thí chủ, (sư cô) bị bệnh. Tôi sẽ mang vật thực khất thực đi.” Bấy giờ, Sāḷha, cháu của Migāra, (nghĩ rằng): “Ta đã cúng dường bữa ăn đến hội chúng tỳ-khưu-ni là vì sư cô Sundarīnandā,” rồi ra lệnh cho các người làm rằng: “Hãy phục vụ bữa ăn đến hội chúng tỳ-khưu-ni,” sau khi nói xong, ông ta đi đến trú xứ của tỳ-khưu-ni. Vào lúc bấy giờ, tỳ-khưu-ni Sundarīnandā đang đứng ở bên ngoài cổng tu viện, đang trông chờ Sāḷha, cháu của Migāra. Tỳ-khưu-ni Sundarīnandā đã nhìn thấy Sāḷha, cháu của Migāra, đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, vị ni đã đi vào trú xứ, trùm kín cả đầu, rồi nằm xuống giường. Bấy giờ, Sāḷha, cháu của Migāra, đi đến chỗ tỳ-khưu-ni Sundarīnandā; sau khi đến, ông ta đã nói với tỳ-khưu-ni Sundarīnandā điều này: “Thưa sư cô, sư cô không khỏe về điều gì, tại sao sư cô lại nằm?” “Thưa thí chủ, sự việc là như vậy đối với người nữ mong muốn người không mong muốn (mình).” “Thưa sư cô, tại sao tôi lại không mong muốn sư cô? Hơn nữa, tôi đã không có được cơ hội để làm hại sư cô.” (Ông ta) bị thôi thúc bởi dục vọng đã có sự tiếp xúc thân thể với tỳ-khưu-ni Sundarīnandā, người (cũng) bị thôi thúc bởi dục vọng.
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī jarādubbalā caraṇagilānā sundarīnandāya bhikkhuniyā avidūre nipannā hoti. Addasā kho sā bhikkhunī sāḷhaṁ migāranattāraṁ avassutaṁ avassutāya sundarīnandāya bhikkhuniyā kāyasaṁsaggaṁ samāpajjantaṁ. Disvāna ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma ayyā sundarīnandā avassutā avassutassa purisapuggalassa kāyasaṁsaggaṁ sādiyissatī”ti. Atha kho sā bhikkhunī bhikkhunīnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Yā tā bhikkhuniyo appicchā santuṭṭhā lajjiniyo kukkuccikā sikkhākāmā tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā sundarīnandā avassutā avassutassa purisapuggalassa kāyasaṁsaggaṁ sādiyissatī”ti. Atha kho tā bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Ye te bhikkhū appicchā santuṭṭhā lajjino kukkuccakā sikkhākāmā te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma sundarīnandā bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa kāyasaṁsaggaṁ sādiyissatī”ti.
Just then a nun who was weak from old age and had problems with her feet was lying down not far from Sundarīnandā. She saw how Sāḷha made physical contact with Sundarīnandā while both of them had lust. She complained and criticized her, “How could Venerable Sundarīnandā consent to a man making physical contact with her, when they both had lust?” That nun then told the nuns what had happened. The nuns of few desires, who had a sense of conscience, and who were contented, afraid of wrongdoing, and fond of the training, complained and criticized her, “How could Venerable Sundarīnandā consent to a man making physical contact with her, when they both had lust?” Those nuns then told the monks. And the monks of few desires, who had a sense of conscience, and who were contented, afraid of wrongdoing, and fond of the training, criticized her in the same way.
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu-ni nọ già yếu, bị bệnh ở chân, đang nằm ở nơi không xa tỳ-khưu-ni Sundarīnandā. Vị tỳ-khưu-ni ấy đã nhìn thấy Sāḷha, cháu của Migāra, người bị thôi thúc bởi dục vọng, đang có sự tiếp xúc thân thể với tỳ-khưu-ni Sundarīnandā, người (cũng) bị thôi thúc bởi dục vọng. Sau khi nhìn thấy, vị ni đã phàn nàn, chê bai, và lan truyền rằng: “Tại sao sư cô Sundarīnandā, người bị thôi thúc bởi dục vọng, lại có thể chấp thuận sự tiếp xúc thân thể của một người nam bị thôi thúc bởi dục vọng chứ!” Bấy giờ, vị tỳ-khưu-ni ấy đã trình báo sự việc này đến các tỳ-khưu-ni. Những tỳ-khưu-ni nào có thiểu dục, biết đủ, có lòng hổ thẹn, hay chê trách (điều ác), và ham học hỏi, các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, và lan truyền rằng: “Tại sao sư cô Sundarīnandā, người bị thôi thúc bởi dục vọng, lại có thể chấp thuận sự tiếp xúc thân thể của một người nam bị thôi thúc bởi dục vọng chứ!” Bấy giờ, các tỳ-khưu-ni ấy đã trình báo sự việc này đến các tỳ-khưu. Những tỳ-khưu nào có thiểu dục, biết đủ, có lòng hổ thẹn, hay chê trách (điều ác), và ham học hỏi, các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, và lan truyền rằng: “Tại sao tỳ-khưu-ni Sundarīnandā, người bị thôi thúc bởi dục vọng, lại có thể chấp thuận sự tiếp xúc thân thể của một người nam bị thôi thúc bởi dục vọng chứ!”
Atha kho te bhikkhū sundarīnandaṁ bhikkhuniṁ anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, sundarīnandā bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa kāyasaṁsaggaṁ sādiyatī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, sundarīnandāya bhikkhuniyā ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma, bhikkhave, sundarīnandā bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa kāyasaṁsaggaṁ sādiyissati. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya. Atha khvetaṁ, bhikkhave, appasannānañceva appasādāya pasannānañca ekaccānaṁ aññathattāyā”ti. Atha kho bhagavā sundarīnandaṁ bhikkhuniṁ anekapariyāyena vigarahitvā dubbharatāya dupposatāya mahicchatāya asantuṭṭhitāya saṅgaṇikāya kosajjassa avaṇṇaṁ bhāsitvā, anekapariyāyena subharatāya suposatāya appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇaṁ bhāsitvā, bhikkhūnaṁ tadanucchavikaṁ tadanulomikaṁ dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, bhikkhunīnaṁ sikkhāpadaṁ paññapessāmi dasa atthavase paṭicca—saṅghasuṭṭhutāya, saṅghaphāsutāya, dummaṅkūnaṁ bhikkhunīnaṁ niggahāya, pesalānaṁ bhikkhunīnaṁ phāsuvihārāya, diṭṭhadhammikānaṁ āsavānaṁ saṁvarāya, samparāyikānaṁ āsavānaṁ paṭighātāya, appasannānaṁ pasādāya, pasannānaṁ bhiyyobhāvāya, saddhammaṭṭhitiyā vinayānuggahāya.
Evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
After rebuking the nun Sundarīnandā in many ways, they told the Buddha. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the nun Sundarīnandā acted like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her, “It’s not suitable, monks, it’s not proper for the nun Sundarīnandā, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could Sundarīnandā consent to a man making physical contact with her, when they both had lust? This will affect people’s confidence, and cause some to lose it.” And the Buddha spoke in many ways in dispraise of being difficult to support and maintain, in dispraise of great desires, discontent, socializing, and laziness; but he spoke in many ways in praise of being easy to support and maintain, of fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, serenity, reduction in things, and being energetic. After giving a teaching on what is right and proper, he addressed the monks:
“Well then, monks, I will lay down a training rule for the following ten reasons: for the well-being of the Sangha, for the comfort of the Sangha, for the restraint of bad nuns, for the ease of good nuns, for the restraint of the corruptions relating to the present life, for the restraint of the corruptions relating to future lives, to give rise to confidence in those without it, to increase the confidence of those who have it, for the longevity of the true Teaching, and for supporting the training.
And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
Bấy giờ, các tỳ-khưu ấy, sau khi đã khiển trách tỳ-khưu-ni Sundarīnandā bằng nhiều cách, đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đã cho triệu tập hội chúng tỳ-khưu và hỏi các tỳ-khưu rằng: “Này các tỳ-khưu, có thật là tỳ-khưu-ni Sundarīnandā, người bị thôi thúc bởi dục vọng, đã chấp thuận sự tiếp xúc thân thể của một người nam bị thôi thúc bởi dục vọng không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn, đã khiển trách rằng: “Này các tỳ-khưu, (việc làm) của tỳ-khưu-ni Sundarīnandā là không thích hợp, không thuận theo, không tương xứng, không phải là hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ-khưu, tại sao tỳ-khưu-ni Sundarīnandā, người bị thôi thúc bởi dục vọng, lại có thể chấp thuận sự tiếp xúc thân thể của một người nam bị thôi thúc bởi dục vọng chứ! Này các tỳ-khưu, việc này không đưa đến sự phát sinh đức tin cho những người chưa có đức tin, hoặc làm tăng trưởng đức tin cho những người đã có đức tin. Mà này các tỳ-khưu, việc này chỉ đưa đến sự không phát sinh đức tin cho những người chưa có đức tin và làm cho một số người đã có đức tin bị thay đổi khác đi.” Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi đã khiển trách tỳ-khưu-ni Sundarīnandā bằng nhiều cách, đã nói về những điều bất hảo của sự khó nuôi dưỡng, khó hộ trì, có nhiều ham muốn, không biết đủ, thích hội chúng, và biếng nhác; sau khi đã nói bằng nhiều cách về những điều tốt đẹp của sự dễ nuôi dưỡng, dễ hộ trì, của người thiểu dục, biết đủ, sống khổ hạnh, rũ bỏ (phiền não), đáng kính tín, không tích lũy, và tinh cần nỗ lực; sau khi đã thuyết một bài pháp thoại thích hợp và tương xứng cho các tỳ-khưu, ngài đã gọi các tỳ-khưu rằng: “Này các tỳ-khưu, vì lẽ ấy, ta sẽ chế định học giới cho các tỳ-khưu-ni, dựa vào mười mục đích: vì sự tốt đẹp của hội chúng, vì sự an ổn của hội chúng, để nhiếp phục các tỳ-khưu-ni hư hỏng, để các tỳ-khưu-ni đức hạnh được an trú, để ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, để đối phó với các lậu hoặc trong tương lai, để làm phát sinh đức tin cho những người chưa có đức tin, để làm tăng trưởng đức tin cho những người đã có đức tin, vì sự tồn tại của Chánh pháp, và để hỗ trợ cho Luật. Và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni hãy tụng đọc học giới này như sau: –
“Yā pana bhikkhunī avassutā avassutassa purisapuggalassa adhakkhakaṁ ubbhajāṇumaṇḍalaṁ āmasanaṁ vā parāmasanaṁ vā gahaṇaṁ vā chupanaṁ vā paṭipīḷanaṁ vā sādiyeyya, ayampi pārājikā hoti asaṁvāsā ubbhajāṇumaṇḍalikā”ti.
- Yā panāti
‘If a lustful nun consents to a lustful man making physical contact with her, to touching her, to taking hold of her, to contacting her, or to squeezing her, anywhere below the collar bone but above the knees, she too is expelled and excluded from the community. The training rule on above the knees.’”
Definitions
- A:
657. “Vị tỳ-khưu-ni nào, bị thôi thúc bởi dục vọng, chấp thuận việc một người nam bị thôi thúc bởi dục vọng sờ soạng, hay xoa bóp, hay nắm giữ, hay chạm vào, hay ép sát vào (phần thân thể) bên dưới xương đòn và bên trên hai đầu gối, vị tỳ-khưu-ni này cũng phạm tội pārājikā, không được sống chung, (tội này) liên quan đến (vùng) bên trên hai đầu gối.”
658. “Vị nào” có nghĩa là: vị nào, bất luận là loại nào, thuộc thành phần nào, thuộc dòng dõi nào, có tên gọi nào, thuộc gia tộc nào, có giới hạnh nào, có cách an trú nào, có cảnh giới hành hoạt nào; dù là trưởng lão, hay mới tu, hay bậc trung; đây được gọi là “vị nào.”
Vị tỳ-khưu-ni (bhikkhunī): là vị khất thực (bhikkhikā) nên là tỳ-khưu-ni; là vị đi đến hạnh khất thực nên là tỳ-khưu-ni; là vị mang y phục đã được cắt may nên là tỳ-khưu-ni; là tỳ-khưu-ni do danh xưng; là tỳ-khưu-ni do sự thừa nhận; là tỳ-khưu-ni do (lời gọi) ‘hãy đến đây, tỳ-khưu-ni;’ là tỳ-khưu-ni do đã thọ cụ túc bằng ba sự quy y; vị hiền thiện là tỳ-khưu-ni; vị có cốt lõi là tỳ-khưu-ni; vị hữu học là tỳ-khưu-ni; vị vô học là tỳ-khưu-ni; là tỳ-khưu-ni do đã được thọ cụ túc bởi hai Tăng chúng hòa hợp bằng nghiệp sự bạch tứ yết-ma không thể bị hủy bỏ, xứng đáng với trường hợp. Trong số ấy, vị tỳ-khưu-ni nào đã được thọ cụ túc bởi hai Tăng chúng hòa hợp bằng nghiệp sự bạch tứ yết-ma không thể bị hủy bỏ, xứng đáng với trường hợp, vị tỳ-khưu-ni này được chủ định trong ý nghĩa này.
Được gọi là bị ướt át là có lòng tham ái, có sự luyến tiếc, có tâm bị trói buộc.
Được gọi là bị ướt át là có lòng tham ái, có sự luyến tiếc, có tâm bị trói buộc.
Được gọi là người nam là người nam thuộc loài người, không phải là dạ-xoa, không phải là ngạ quỷ, không phải là loài bàng sanh; là người có trí, có khả năng để thực hiện việc thân thể giao tiếp.
Bên dưới xương đòn là phần dưới xương đòn.
Bên trên đầu gối là phần trên đầu gối.
Được gọi là sờ mó chỉ là sự vuốt ve.
Được gọi là vuốt ve là sự làm cho lay động từ bên này qua bên kia.
Được gọi là cầm lấy chỉ là sự nắm giữ.
Được gọi là chạm đến chỉ là sự tiếp xúc.
Hay là chấp nhận sự ép chạm có nghĩa là sau khi nắm lấy bộ phận cơ thể, vị ấy chấp nhận sự ép chặt.
Cả vị này nữa được nói là dựa vào những vị trước.
Bị phạm tội pārājika có nghĩa là: Ví như người nam bị chặt đầu không có khả năng sống với thân thể được nối lại ấy, cũng tương tự như thế, vị tỳ-khưu-ni bị ướt át, trong khi chấp nhận việc sờ mó, hoặc vuốt ve, hoặc cầm lấy, hoặc chạm đến, hoặc ép chạm ở phần dưới xương đòn, trên đầu gối của người nam bị ướt át thì không phải là sa-môn, không phải là con gái của dòng họ Thích Ca. Do đó, được nói là bị phạm tội pārājika.
Permutations
Both having lust: contact below the collar bone but above the knees
Không được sống chung có nghĩa là: Được gọi là sự sống chung là cùng hành sự, cùng tụng đọc, và đồng học giới; đây được gọi là sự sống chung. Sự sống chung ấy không có cùng với vị ấy. Do đó, được gọi là không được sống chung.
Ubhatoavassute adhakkhakaṁ ubbhajāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti pārājikassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti thullaccayassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti thullaccayassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact below the collar bone but above the knees, both having lust: (1) If he, with his own body, makes physical contact with her body, she commits an offense entailing expulsion. (2) If he, with his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits a serious offense. (3) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with her body, she commits a serious offense. (4) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct.
659. Khi cả hai đều bị ướt át, ở phần dưới xương đòn, trên đầu gối, nếu dùng thân sờ mó thân, phạm tội pārājika. Nếu dùng thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội thullaccaya. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó thân, phạm tội thullaccaya. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If he, with something released by him, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If he, with something released by him, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If he, with something released by him, makes physical contact with something released by her, she commits an offense of wrong conduct.
Both having lust: contact above the collar bone or below the knees
Nếu dùng vật không dính liền sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật không dính liền, phạm tội dukkaṭa.
Ubbhakkhakaṁ adhojāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti thullaccayassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact above the collar bone or below the knees, both having lust: (1) If he, with his own body, makes physical contact with her body, she commits a serious offense. (2) If he, with his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct.
Ở phần trên xương đòn, dưới đầu gối, nếu dùng thân sờ mó thân, phạm tội thullaccaya. Nếu dùng thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If he, with something released by him, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If he, with something released by him, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If he, with something released by him, makes physical contact with something released by her, she commits an offense of wrong conduct.
Only the nun having lust: contact below the collar bone but above the knees
Nếu dùng vật không dính liền sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật không dính liền, phạm tội dukkaṭa.
Ekatoavassute adhakkhakaṁ ubbhajāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti thullaccayassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact below the collar bone but above the knees, only the nun having lust: (1) If he, with his own body, makes physical contact with her body, she commits a serious offense. (2) If he, with his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct.
660. Khi một bên bị ướt át, ở phần dưới xương đòn, trên đầu gối, nếu dùng thân sờ mó thân, phạm tội thullaccaya. Nếu dùng thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If he, with something released by him, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If he, with something released by him, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If he, with something released by him, makes physical contact with something released by her, she commits an offense of wrong conduct.
Only the nun having lust: contact above the collar bone or below the knees
Nếu dùng vật không dính liền sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật không dính liền, phạm tội dukkaṭa.
Ubbhakkhakaṁ adhojāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact above the collar bone or below the knees, only the nun having lust: (1) If he, with his own body, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (2) If he, with his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If he, with something connected to his own body, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct.
Ở phần trên xương đòn, dưới đầu gối, nếu dùng thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If he, with something released by him, makes physical contact with her body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If he, with something released by him, makes physical contact with something connected to her body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If he, with something released by him, makes physical contact with something released by her, she commits an offense of wrong conduct.
Both having lust: contact with other beings below the collar bone but above the knees
Nếu dùng vật không dính liền sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật không dính liền, phạm tội dukkaṭa.
Ubhatoavassute yakkhassa vā petassa vā paṇḍakassa vā tiracchānagatamanussaviggahassa vā adhakkhakaṁ ubbhajāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti thullaccayassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact with a spirit, a ghost, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, or an animal in human form, below the collar bone but above the knees, both having lust: (1) If she, with her own body, makes physical contact with their body, she commits a serious offense. (2) If she, with her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct.
661. Khi cả hai đều bị ướt át, đối với dạ-xoa, hoặc ngạ quỷ, hoặc người á nam á nữ, hoặc loài bàng sanh có hình dạng người, ở phần dưới xương đòn, trên đầu gối, nếu dùng thân sờ mó thân, phạm tội thullaccaya. Nếu dùng thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If she, with something released by her, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If she, with something released by her, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If she, with something released by her, makes physical contact with something released by them, she commits an offense of wrong conduct.
Both having lust: contact with other beings above the collar bone or below the knees
Nếu dùng vật không dính liền sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật không dính liền sờ mó vật không dính liền, phạm tội dukkaṭa.
Ubbhakkhakaṁ adhojāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact with a spirit, a ghost, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, or an animal in human form, above the collar bone or below the knees, both having lust: (1) If she, with her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (2) If she, with her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct.
Ở phần trên xương đòn, dưới đầu gối, nếu dùng thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân sờ mó vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If she, with something released by her, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If she, with something released by her, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If she, with something released by her, makes physical contact with something released by them, she commits an offense of wrong conduct.
Only the nun having lust: contact with other beings below the collar bone but above the knees
Dùng vật phải xả bỏ (nissaggiya) chạm vào thân, phạm tội tác ác (dukkaṭa). Dùng vật phải xả bỏ chạm vào vật liên thuộc với thân, phạm tội tác ác (dukkaṭa). Dùng vật phải xả bỏ chạm vào một vật phải xả bỏ khác, phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Ekatoavassute adhakkhakaṁ ubbhajāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact with a spirit, a ghost, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, or an animal in human form, below the collar bone but above the knees, only the nun having lust: (1) If she, with her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (2) If she, with her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct.
662. Khi một bên có sự khao khát (dục tâm), đối với vùng dưới xương đòn và trên đầu gối, nếu chạm thân vào thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng thân chạm vào vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân chạm vào thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân chạm vào vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
(5) If she, with something released by her, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If she, with something released by her, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If she, with something released by her, makes physical contact with something released by them, she commits an offense of wrong conduct.
Only the nun having lust: contact with other beings above the collar bone or below the knees
Nếu dùng vật rời thân chạm vào thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật rời thân chạm vào vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật rời thân chạm vào vật rời thân, phạm tội dukkaṭa.
Ubbhakkhakaṁ adhojāṇumaṇḍalaṁ kāyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Physical contact with a spirit, a ghost, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, or an animal in human form, above the collar bone or below the knees, only the nun having lust: (1) If she, with her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (2) If she, with her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (3) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (4) If she, with something connected to her own body, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct.
Đối với vùng trên xương đòn và dưới đầu gối, nếu dùng thân chạm vào thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng thân chạm vào vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân chạm vào thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật liên hệ đến thân chạm vào vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa.
Nissaggiyena kāyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena kāyapaṭibaddhaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa. Nissaggiyena nissaggiyaṁ āmasati, āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—asañcicca, assatiyā, ajānantiyā,
(5) If she, with something released by her, makes physical contact with their body, she commits an offense of wrong conduct. (6) If she, with something released by her, makes physical contact with something connected to their body, she commits an offense of wrong conduct. (7) If she, with something released by her, makes physical contact with something released by them, she commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense: if it is unintentional; if she is not mindful; if she does not know;
Nếu dùng vật rời thân chạm vào thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật rời thân chạm vào vật liên hệ đến thân, phạm tội dukkaṭa. Nếu dùng vật rời thân chạm vào vật rời thân, phạm tội dukkaṭa.
663. Không phạm tội: khi không cố ý, do vô ý (thất niệm), do không biết, khi không ưng thuận, người điên, người loạn tâm, người bị đau đớn bức bách, người sơ phạm.
Paṭhamapārājikaṁ samattaṁ.
The fifth offense entailing expulsion is finished.
Học giới Pārājika thứ nhất đã hoàn thành.