- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Pācittiyakaṇḍa
- Tuvaṭṭavagga
Bản dịch
Bi Vb Pc 40 — Ba-dật-đề 40
40. Cārikanapakkamanasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni sống mùa mưa ở ngay tại nơi ấy trong thành Rājagaha, mùa lạnh tại nơi ấy, mùa nóng tại nơi ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các hướng đi của các tỳ khưu ni bị tắt nghẽn, tăm tối. Các hướng đi không còn được các vị ni này nhận ra nữa.”
Inda-bh 2Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu ni vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự tốt đẹp cho hội chúng, … (như trên) … nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni khi trải qua mùa (an cư) mưa mà không ra đi du hành cho dầu chỉ năm hoặc sáu do tuần thì phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni: … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Khi trải qua mùa (an cư) mưa nghĩa là đã trải qua (mùa an cư mưa) ba tháng thời kỳ đầu hoặc ba tháng thời kỳ sau. Vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ không ra đi du hành cho dầu chỉ năm hoặc sáu do tuần,” khi vừa buông bỏ trách nhiệm thì phạm tội pācittiya.
Khi có trường hợp nguy hiểm, vị ni tìm kiếm nhưng không có được vị tỳ khưu ni thứ hai, vị ni bị bệnh, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ mười. Phẩm Nằm Chung là thứ tư.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY:
Việc nằm (chung), tấm trải, sự quấy rầy, vị ni bị ốm đau, và chỗ ngụ, (sống) thân cận, hai điều về quốc độ, với trong mùa (an cư) mưa, vị ni du hành.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on offenses entailing confession
- The subchapter on lying down
4. Phẩm Pācittiya (Phân Tích Tỳ Khưu Ni)
40. Cārikanapakkamanasikkhāpada
40. Not wandering after the rainy season
Origin story
1. Học Giới Thứ Nhất
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena bhikkhuniyo tattheva rājagahe vassaṁ vasanti, tattha hemantaṁ, tattha gimhaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“āhundarikā bhikkhunīnaṁ disā andhakārā, na imāsaṁ disā pakkhāyantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhuniyo tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho tā bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At that time the nuns were staying right there at Rājagaha for the rainy season, the winter, and the summer. People complained and criticized them, “The nuns are leaving the districts in darkness and obscurity. They don’t brighten them up by their presence.”
The nuns heard the complaints of those people. They then told the monks, who in turn told the Buddha.
793. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, trong tu viện Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, chúng tỳ-khưu-ni được một vị cận sự nam không rõ tên thỉnh mời dùng tỏi rằng: “Vị thánh nữ nào cần tỏi, tôi xin thỉnh mời dùng tỏi.” Và người giữ ruộng cũng được ra lệnh rằng: “Nếu các tỳ-khưu-ni đến, hãy cúng dường cho mỗi vị tỳ-khưu-ni hai ba củ.” Cũng vào lúc bấy giờ, tại Sāvatthī có một lễ hội. Số tỏi đã được mang đến đều đã hết. Các tỳ-khưu-ni đến gặp vị cận sự nam ấy và nói rằng: “Thưa hiền hữu, chúng tôi cần tỏi.” – “Thưa các thánh nữ, không có. Số tỏi đã mang đến đều đã hết. Xin các ngài hãy đi ra ruộng.” Tỳ-khưu-ni Thullanandā đi ra ruộng, do không biết chừng mực nên đã cho lấy nhiều tỏi. Người giữ ruộng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” Các tỳ-khưu-ni đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của người giữ ruộng ấy. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục ... (vân vân) ... các vị ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao thánh nữ Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, có thật là tỳ-khưu-ni Thullanandā không biết chừng mực đã cho lấy nhiều tỏi không?” – “Bạch Thế Tôn, là thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, tại sao tỳ-khưu-ni Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy! Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (vân vân) ...” Sau khi thuyết một bài pháp, ngài gọi các tỳ-khưu:
“Yā pana bhikkhunī vassaṁvuṭṭhā cārikaṁ na pakkameyya antamaso chappañcayojanānipi, pācittiyan”ti.
- Yā panāti
- yā yādisā …pe…
- bhikkhunīti
Final ruling
‘If a nun who has completed the rainy-season residence does not go wandering at least 65 to 80 kilometers, she commits an offense entailing confession.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Nun:
810. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở xứ Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodhārāma. Bấy giờ, bà Mahāpajāpati Gotamī đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, bà đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở phía cuối gió (và bạch rằng): “Bạch Thế Tôn, thân người nữ có mùi hôi.” Bấy giờ, đức Thế Tôn (nói rằng): “Các tỳ-khưu-ni hãy thực hành việc thanh lọc bằng nước,” rồi ngài đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bà Mahāpajāpati Gotamī bằng bài pháp thoại. Bấy giờ, bà Mahāpajāpati Gotamī, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra đi. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ-khưu lại và nói rằng: “Này các tỳ-khưu, ta cho phép các tỳ-khưu-ni thực hành việc thanh lọc bằng nước.” Và vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu-ni, với ý nghĩ rằng: “Việc thanh lọc bằng nước đã được đức Thế Tôn cho phép,” trong khi thực hành việc thanh lọc bằng nước quá sâu đã làm cho bộ phận tiểu tiện bị thương tích. Bấy giờ, vị tỳ-khưu-ni ấy đã trình báo sự việc này cho các vị tỳ-khưu-ni. Những vị tỳ-khưu-ni có tính thiểu dục ... (như trên) ... các vị ấy đã chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: “Tại sao tỳ-khưu-ni lại có thể thực hành việc thanh lọc bằng nước quá sâu được chứ?” ... (như trên) ... – Này các tỳ-khưu, có thật là tỳ-khưu-ni thực hành việc thanh lọc bằng nước quá sâu phải không? – “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (như trên) ... – Này các tỳ-khưu, tại sao tỳ-khưu-ni lại có thể thực hành việc thanh lọc bằng nước quá sâu được chứ? Này các tỳ-khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ... (như trên) ... Và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni nên trình bày điều học này như sau:
“Cārikaṁ na pakkamissāmi antamaso chappañcayojanānipī”ti dhuraṁ nikkhittamatte āpatti pācittiyassa.
Anāpatti—sati antarāye, pariyesitvā dutiyikaṁ bhikkhuniṁ na labhati, gilānāya, āpadāsu, ummattikāya, ādikammikāyāti.
Dasamasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
Tuvaṭṭavaggo catuttho.
If she thinks, “I won’t go wandering, not even 65 to 80 kilometers,” then by the mere fact of abandoning her duty, she commits an offense entailing confession.
Non-offenses
There is no offense: if there is an obstacle; if she searches for a companion nun, but is unable to find one; if she is sick; if there is an emergency; if she is insane; if she is the first offender.
The tenth training rule is finished.
The fourth subchapter on lying down is finished.
817. Vị nào: vị nào, bất luận loại nào ... (như trên) ... Tỳ khưu ni: ... (như trên) ... vị tỳ khưu ni được đề cập trong trường hợp này.