- Majjhima Nikāya 54
Potaliyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Potaliyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Anguttarapa. Apāna là một thị trấn của Anguttarapa.
SC 2Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Apāna để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong, trên con đường khất thực trở về, Thế Tôn đi đến một khu rừng để nghỉ trưa. Sau khi đi sâu vào khu rừng ấy, Ngài ngồi dưới một gốc cây.
SC 3Gia chủ Potaliya, toàn thân mặc đồ đầy đủ, mang dù, đi dép, ngao du tản bộ khắp mọi nơi, và đi đến khu rừng ấy. Sau khi đi sâu vào (khu rừng), gia chủ Potaliya, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời hỏi thăm, thân hữu rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Potaliya đang đứng một bên
SC 4—Này Gia chủ, có các chỗ ngồi. Nếu Ông muốn, hãy ngồi xuống.
SC 5Nghe nói vậy, gia chủ Potaliya nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama gọi ta với danh từ Gia chủ”, nên phẫn nộ không hoan hỷ và đứng im. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Gia chủ Potaliya
SC 6—Này Gia chủ, có các chỗ ngồi. Nếu Ông muốn, hãy ngồi xuống.
SC 7Lần thứ hai, gia chủ Potaliya nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama gọi ta với danh từ Gia chủ”, nên phẫn nộ, không hoan hỷ và đứng im. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với gia chủ Potaliya
SC 8—Này Gia chủ, có các chỗ ngồi. Nếu Ông muốn, hãy ngồi xuống.
SC 9Nghe nói vậy, gia chủ Potaliya nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama gọi ta với danh từ Gia chủ”, nên phẫn nộ, không hoan hỷ, nói với Thế Tôn
SC 10—Tôn giả Gotama, thật không thích đáng, không hợp lẽ, Tôn giả gọi tôi là Gia chủ.
SC 11—Này Gia chủ, nhưng hình dung của Ông, tướng mạo của ông, hình tướng của Ông giống như một gia chủ.
SC 12—Nhưng Tôn giả Gotama, tất cả nghiệp vụ đã được tôi từ bỏ, tất cả tục sự đã được tôi đoạn tận.
SC 13—Nhưng này Gia chủ, như thế nào tất cả nghiệp vụ đã được Ông từ bỏ, tất cả tục sự đã được Ông đoạn tận?
SC 14—Ở đây, này Tôn giả Gotama, tài sản, ngũ cốc, hay vàng bạc, tất cả đều giao cho các con tôi thừa hưởng. Ở đây, tôi không khuyên bảo, tôi không can gián; tôi sống với tối thiểu đồ ăn, đồ mặc. Như vậy, này Tôn giả Gotama, tất cả nghiệp vụ được tôi từ bỏ, tất cả tục sự được tôi đoạn tận.
SC 15—Này Gia chủ, sự đoạn tận các tục sự mà Ông nói khác với sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh.
SC 16—Bạch Thế Tôn, như thế nào là sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh? Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho tôi về sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh.
SC 17—Này Gia chủ, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 18—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 19Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 20—Này Gia chủ, tám pháp này đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Thế nào là tám? Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ. Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ. Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ. Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ. Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ. Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ. Y cứ không phẫn não, phẫn não cần phải từ bỏ. Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ. Này Gia chủ, tám pháp này được nói một cách vắn tắt, không được giải thích rộng rãi, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh.
SC 21—Bạch Thế Tôn, tám pháp này được Thế Tôn nói một cách vắn tắt, không được giải thích rộng rãi, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn vì lòng thương tưởng, giải thích rộng rãi tám pháp này.
SC 22—Này Gia chủ, vậy Ông hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 23—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 24Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 25—Khi được nói: “Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể sát sanh, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ của các kiết sử ấy. Nếu ta sát sanh, không những ta tự trách mắng ta vì duyên sát sanh, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên sát sanh; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên sát sanh. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự sát sanh này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não nào có thể khởi lên, do duyên sát sanh, đối với vị đã từ bỏ sát sanh, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 26Khi được nói: “Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể lấy của không cho, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta lấy của không cho, không những ta tự trách mắng ta vì duyên lấy của không cho, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên lấy của không cho; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên lấy của không cho. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự lấy của không cho này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não nào có thể khởi lên do duyên lấy của không cho, đối với vị đã từ bỏ lấy của không cho, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 27Khi được nói: “Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể nói láo, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta nói láo, không những ta tự trách mắng ta vì duyên nói láo, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên nói láo; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên nói láo. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính nói láo này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên, do duyên nói láo, đối với vị đã từ bỏ nói láo, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 28Khi được nói: “Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể nói hai lưỡi, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta nói hai lưỡi, không những ta tự trách mắng ta vì duyên nói hai lưỡi, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu cũng khiển trách ta vì duyên nói hai lưỡi, và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên nói hai lưỡi. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự nói hai lưỡi này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên nói hai lưỡi, đối với vị đã từ bỏ nói hai lưỡi, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 29Khi được nói: “Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể có tham dục, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta tham dục, không những ta tự trách mắng ta vì duyên tham dục, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu cũng khiển trách ta vì duyên tham dục; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên tham dục. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự tham dục này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên tham dục, đối với vị đã từ bỏ tham dục, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 30Khi được nói: “Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể hủy báng sân hận, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta hủy báng sân hận, không những ta tự trách mắng ta vì duyên hủy báng, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên hủy báng sân hận; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên hủy báng sân hận. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự hủy báng sân hận này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên hủy báng sân hận, đối với vị đã từ bỏ hủy báng sân hận, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 31Khi được nói: “Y cứ không phẫn não, phẫn não cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể có phẫn não, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta có phẫn não, không những ta tự trách mắng ta vì duyên phẫn não, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên phẫn não; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên phẫn não. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự phẫn nào này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên phẫn não, đối với vị đã từ bỏ phẫn não, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không phẫn não, phẫn não cần được từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 32Khi được nói: “Y cứ không quá mạn, quá mạn cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có quá mạn, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta có quá mạn, không những ta tự trách mắng ta vì duyên quá mạn, các bậc có trí sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên quá mạn; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên quá mạn. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự quá mạn này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên quá mạn, đối với vị đã từ bỏ quá mạn, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.
SC 33Này Gia chủ, tám pháp được nói lên vắn tắt và được giải thích rộng rãi này, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh, nhưng thật sự chưa phải là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh.
SC 34—Bạch Thế Tôn, như thế nào là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh? Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con như thế nào là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ, toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh.
SC 35—Này Gia chủ, vậy Ông hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 36—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 37Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 38—Này Gia chủ, ví như có con chó đói lả, suy nhược, đi đến một lò thịt giết bò. Ở đây, có người giết bò thiện xảo hay người đệ tử quăng cho nó một khúc xương, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Con chó ấy, khi gặm khúc xương ấy, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu có thể đoạn trừ được đói lả suy nhược của nó không?
SC 39—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Với khúc xương khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu ấy, bạch Thế Tôn, con chó kia chỉ có mệt nhọc khốn khổ mà thôi.
SC 40—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhất chủng, ở đây, mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 41Này Gia chủ, ví như con chim kên, con chim diều hâu, hay con chim ưng giành được miếng thịt liền bay bổng lên; các con chim kên khác, chim diều hâu khác, hay chim ưng khác bay đuổi theo, đuổi sát theo giành giựt xé nát miếng thịt ấy. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Nếu con chim kên, chim diều hâu hay chim ưng ấy không vứt bỏ ngay miếng thịt ấy, nó có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết không?
SC 42—Thưa có, bạch Thế Tôn.
SC 43—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 44Này Gia chủ, ví như một người cầm một bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào, nếu người ấy không vứt bỏ ngay bó đuốc ấy, bó đuốc cỏ đang cháy rực ấy có thể đốt cháy tay, hay đốt cháy cánh tay, hay đốt cháy một thân phần của người ấy, người ấy có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết không?
SC 45—Thưa có, bạch Thế Tôn.
SC 46—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như bó đuốc cỏ, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ … (như trên) … vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 47Này Gia chủ, ví như một hố than hừng, sâu hơn thân người, đầy những than hừng, cháy không thành ngọn, cháy không thành khói, và một người đi đến muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, né tránh khổ. Nhưng có hai nhà lực sĩ, nắm chặt hai cánh tay người ấy và lôi người ấy đến hố than hừng. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có co rúm thân, vật qua vật lại phía này phía kia không?
SC 48—Bạch Thế Tôn, có. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy biết: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
SC 49—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ … (như trên) … vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 50Này Gia chủ, ví như có người nằm mộng, thấy vườn khả ái, rừng núi khả ái, đất đai khả ái, ao hồ khả ái; khi tỉnh dậy, người ấy không thấy gì cả. Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, … (như trên) … vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 51Này Gia chủ, ví như có người mượn tài vật cho mượn như xe cộ xứng đáng bậc sang trọng, các đồ châu báu trang sức mỹ diệu, và với những đồ vật vay mượn ấy, người ấy đi vào chợ phố, được (tôn trọng) đi trước, được nhiều người vây quanh, và quần chúng thấy người ấy bèn nói: “Người này thật sự giàu sang, và người giàu sang hưởng thọ tài vật như vậy”. Nhưng những người chủ thấy người kia ở chỗ nào liền lấy lui những vật sở hữu của mình. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có phải sự (trá hình) dị tính của người kia được chấm dứt ở đây?
SC 52—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì những người chủ lấy lui những vật sở hữu của mình.
SC 53—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như tài vật vay mượn, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ … (như trên) … vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 54Này Gia chủ, ví như gần thôn làng hay gần thị tứ có một nhóm rừng, ở đấy, có một cây đầy những trái chín, nhưng không có trái nào rơi xuống đất. Rồi một người đi đến, ước mong trái cây, tìm cầu trái cây, đi khắp đó đây để tìm trái cây. Người ấy đi sâu vào ngôi rừng ấy, thấy cây ấy đầy những trái chín. Người ấy có thể nghĩ như sau: “Cây này đầy những trái chín nhưng không có trái nào rơi xuống đất, nhưng ta biết leo cây. Vậy ta hãy leo lên cây ấy ăn cho thỏa thích và bọc đầy áo (để đem về). Rồi người ấy leo lên cây ấy, ăn cho thỏa thích và bọc đầy áo (để đem về). Rồi một người thứ hai đi đến, ước mong trái cây, tìm cầu trái cây, đi khắp đó đây để tìm trái cây, và tay mang một búa sắc bén. Người này đi sâu vào ngôi rừng ấy, thấy cây ấy đầy những trái chín. Người này có thể nghĩ như sau: “Cây này đầy những trái chín, nhưng không có trái nào rơi xuống đất. Nhưng ta không biết leo cây. Vậy ta hãy chặt cây này tận gốc, ăn cho thỏa thích, và bọc đầy áo (để đem về)”. Rồi người này chặt cây ấy tận gốc. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Nếu người kia không leo xuống thật mau, thời cây ấy khi rơi đổ xuống, sẽ làm cho người thứ nhất, hoặc bị gãy tay, hoặc bị gãy chân, hoặc bị gãy một phần thân nào. Và do nhân duyên ấy, sẽ bị chết hay đi đến đau khổ gần như chết?
SC 55—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 56—Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như cây có trái, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.
SC 57Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy, sau khi thành tựu xả niệm thanh tịnh vô thượng này, nhớ đến các đời sống trước, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 58Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy sau khi thành tựu xả niệm thanh tịnh vô thượng này, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 59Này Gia chủ vị Thánh đệ tử ấy, sau khi thành tựu xả niệm thanh tịnh vô thượng này, và với các lậu hoặc được đoạn trừ, vị này với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
SC 60Này Gia chủ, cho đến như vậy là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả sự tục sự trong giới luật bậc Thánh. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ông có thấy ở nơi Ông một sự đoạn tận tục sự như vậy, giống như sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh?
SC 61—Bạch Thế Tôn, con là ai mà có thể có sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh? Bạch Thế Tôn, con còn rất xa với sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt, tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh. Bạch Thế Tôn, xưa kia, đối với các vị Du sĩ không phải thù thắng, chúng con xem là thù thắng; dầu họ không thù thắng, chúng con cúng dường các món ăn thù thắng; dầu họ không thù thắng, chúng con mời họ ở trong những trú xứ thù thắng. Bạch Thế Tôn, còn đối với các Tỷ-kheo thù thắng, chúng con xem là không thù thắng; dầu các vị ấy thù thắng, chúng con cúng dường các món ăn không thù thắng; dầu các vị ấy thù thắng, chúng con mời các vị ấy ở trong các trú xứ không thù thắng. Nhưng nay, bạch Thế Tôn, đối với các Du sĩ không thù thắng, chúng con sẽ biết là không thù thắng; vì họ không thù thắng, chúng con sẽ cúng dường các món ăn không thù thắng,; vì họ không thù thắng chúng con sẽ mời họ ở trong các trú xứ không thù thắng. Còn đối với các Tỷ-kheo thù thắng, chúng con sẽ biết các vị ấy là thù thắng; vì các vị ấy thù thắng, chúng con sẽ cúng dường các món ăn thù thắng; vì các vị ấy thù thắng, chúng con sẽ mời các vị ấy ở trong các trú xứ thù thắng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thật sự đã gợi ở nơi con lòng ái kính Sa-môn đối với các vị Sa-môn, lòng tịnh tín Sa-môn đối với các Sa-môn, lòng tôn kính Sa-môn đối với các Sa-môn.
SC 62Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 15–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Potaliya
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āpaṇaṁ piṇḍāya pāvisi. Āpaṇe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yenaññataro vanasaṇḍo tenupasaṅkami divāvihārāya. Taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Potaliyopi kho gahapati sampannanivāsanapāvuraṇo chattupāhanāhi jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena so vanasaṇḍo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho potaliyaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca: “saṁvijjanti kho, gahapati, āsanāni; sace ākaṅkhasi nisīdā”ti.
Evaṁ vutte, potaliyo gahapati “gahapativādena maṁ samaṇo gotamo samudācaratī”ti kupito anattamano tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho bhagavā …pe… tatiyampi kho bhagavā potaliyaṁ gahapatiṁ etadavoca: “saṁvijjanti kho, gahapati, āsanāni; sace ākaṅkhasi nisīdā”ti.
Evaṁ vutte, potaliyo gahapati “gahapativādena maṁ samaṇo gotamo samudācaratī”ti kupito anattamano bhagavantaṁ etadavoca: “tayidaṁ, bho gotama, nacchannaṁ, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yaṁ maṁ tvaṁ gahapativādena samudācarasī”ti.
“Te hi te, gahapati, ākārā, te liṅgā, te nimittā yathā taṁ gahapatissā”ti.
“Tathā hi pana me, bho gotama, sabbe kammantā paṭikkhittā, sabbe vohārā samucchinnā”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, gahapati, sabbe kammantā paṭikkhittā, sabbe vohārā samucchinnā”ti?
“Idha me, bho gotama, yaṁ ahosi dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā sabbaṁ taṁ puttānaṁ dāyajjaṁ niyyātaṁ, tatthāhaṁ anovādī anupavādī ghāsacchādanaparamo viharāmi. Evaṁ kho me, bho gotama, sabbe kammantā paṭikkhittā, sabbe vohārā samucchinnā”ti.
“Aññathā kho tvaṁ, gahapati, vohārasamucchedaṁ vadasi, aññathā ca pana ariyassa vinaye vohārasamucchedo hotī”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye vohārasamucchedo hoti? Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye vohārasamucchedo hotī”ti.
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho potaliyo gahapati bhagavato paccassosi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Āpaṇa for alms. He wandered for alms in Āpaṇa. After the meal, on his return from almsround, he went to a certain forest grove for the day’s meditation. Having plunged deep into it, he sat at the root of a certain tree to meditate.
Potaliya the householder also approached that forest grove while going for a walk. He was well dressed in sarong and cloak, with parasol and sandals. Having plunged deep into it, he went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he stood to one side, and the Buddha said to him, “There are seats, householder. Please sit if you wish.”
When he said this, Potaliya was angry and upset. Thinking, “The ascetic Gotama addresses me as ‘householder’!” he stayed silent.
For a second time … and a third time the Buddha said to him, “There are seats, householder. Please sit if you wish.”
When he said this, Potaliya was angry and upset. Thinking, “The ascetic Gotama addresses me as ‘householder’!” he said to the Buddha, “Worthy Gotama, it is neither proper nor appropriate for you to address me as ‘householder’.”
“Well, householder, you have the features, attributes, and signs of a householder.”
“Worthy Gotama, it’s because I have turned down all work and cut off all business.”
“Householder, in what way have you turned down all work and cut off all business?”
“Worthy Gotama, all the money, grain, gold, and silver I used to have has been handed over to my children as their inheritance. And in this matter I do not advise or reprimand them, but live with nothing more than food and clothes. That’s how I have turned down all work and cut off all business.”
“The cutting off of business as you describe it is one thing, householder, but the cutting off of business in the Noble One’s training is quite different.”
“But what, sir, is cutting off of business in the Noble One’s training? Sir, please teach me this.”
“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” said Potaliya.
31. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Aṅguttarāpa, tại một thị trấn của người Aṅguttarāpa tên là Āpaṇa. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào Āpaṇa để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Āpaṇa, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực trở về, Ngài đi đến một khu rừng để nghỉ ban ngày. Sau khi vào khu rừng ấy, Ngài ngồi nghỉ ban ngày dưới gốc một cây. Lúc bấy giờ, gia chủ Potaliya, mặc y phục sang trọng, mang dù và giày, đang đi kinh hành, đi dạo, đã đi đến khu rừng ấy; sau khi đến, ông vào khu rừng ấy rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn chào hỏi, thăm hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi, thăm hỏi thân hữu, ông đứng một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Potaliya đang đứng một bên: “Này gia chủ, có chỗ ngồi đấy. Nếu ông muốn, hãy ngồi xuống.” Khi được nói vậy, gia chủ Potaliya nghĩ: “Sa-môn Gotama gọi ta bằng từ ‘gia chủ’,” rồi tức giận, không hài lòng, và giữ im lặng. Lần thứ hai… Lần thứ ba, Thế Tôn lại nói với gia chủ Potaliya: “Này gia chủ, có chỗ ngồi đấy. Nếu ông muốn, hãy ngồi xuống.” Khi được nói vậy, gia chủ Potaliya nghĩ: “Sa-môn Gotama gọi ta bằng từ ‘gia chủ’,” rồi tức giận, không hài lòng, và nói với Thế Tôn: “Thưa ngài Gotama, điều này không thích hợp, điều này không xứng đáng, việc ngài gọi tôi bằng từ ‘gia chủ’.” “Này gia chủ, ông có những dáng vẻ, những đặc điểm, những dấu hiệu của một gia chủ.” “Thưa ngài Gotama, nhưng tôi đã từ bỏ mọi công việc, đã cắt đứt mọi giao dịch.” “Này gia chủ, ông đã từ bỏ mọi công việc, đã cắt đứt mọi giao dịch như thế nào?” “Thưa ngài Gotama, ở đây, bất cứ tài sản, ngũ cốc, bạc, hay vàng nào tôi có, tất cả tôi đã giao lại cho các con trai làm của thừa kế. Về việc đó, tôi không khuyên bảo, không chỉ trích, chỉ sống với thức ăn và y phục vừa đủ. Thưa ngài Gotama, như vậy tôi đã từ bỏ mọi công việc, đã cắt đứt mọi giao dịch.” “Này gia chủ, ông nói về việc cắt đứt giao dịch theo một cách khác, nhưng trong giới luật của bậc Thánh, việc cắt đứt giao dịch lại theo một cách khác.” “Bạch Thế Tôn, trong giới luật của bậc Thánh, việc cắt đứt giao dịch là như thế nào? Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con về cách cắt đứt giao dịch trong giới luật của bậc Thánh.” “Vậy thì, này gia chủ, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn.
Bhagavā etadavoca:
“aṭṭha kho ime, gahapati, dhammā ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti. Katame aṭṭha? Apāṇātipātaṁ nissāya pāṇātipāto pahātabbo; dinnādānaṁ nissāya adinnādānaṁ pahātabbaṁ; saccavācaṁ nissāya musāvādo pahātabbo; apisuṇaṁ vācaṁ nissāya pisuṇā vācā pahātabbā; agiddhilobhaṁ nissāya giddhilobho pahātabbo; anindārosaṁ nissāya nindāroso pahātabbo; akkodhūpāyāsaṁ nissāya kodhūpāyāso pahātabbo; anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo. Ime kho, gahapati, aṭṭha dhammā saṅkhittena vuttā, vitthārena avibhattā, ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattantī”ti.
“Ye me, bhante, bhagavatā aṭṭha dhammā saṅkhittena vuttā, vitthārena avibhattā, ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti, sādhu me, bhante, bhagavā ime aṭṭha dhamme vitthārena vibhajatu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho potaliyo gahapati bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“‘Apāṇātipātaṁ nissāya pāṇātipāto pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu pāṇātipātī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno. Ahañceva kho pana pāṇātipātī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya pāṇātipātapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ pāṇātipātapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā pāṇātipātapaccayā. Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ pāṇātipāto.
The Buddha said this:
“Householder, these eight things lead to the cutting off of business in the Noble One’s training. What eight? Killing living creatures should be given up, relying on not killing living creatures. Stealing should be given up, relying on not stealing. Lying should be given up, relying on speaking the truth. Backbiting should be given up, relying on not backbiting. Greed and lust should be given up, relying on not being greedy and lustful. Blaming and insulting should be given up, relying on not blaming and not insulting. Anger and distress should be given up, relying on not being angry and distressed. Arrogance should be given up, relying on not being arrogant. These are the eight things—stated in brief without being analyzed in detail—that lead to the cutting off of business in the Noble One’s training.”
“Sir, please teach me these eight things in detail out of sympathy.”
“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” said Potaliya. The Buddha said this:
“‘Killing living creatures should be given up, relying on not killing living creatures.’ That’s what I said, but why did I say it? It’s when a noble disciple reflects: ‘I am practicing to give up and cut off the fetters that might cause me to kill living creatures. But if I were to kill living creatures, because of that I would reprimand myself; sensible people, after examination, would criticize me; and when my body breaks up, after death, I could expect to be reborn in a bad place. And killing living creatures is itself a fetter and a hindrance.
32. Thế Tôn nói điều này: “Này gia chủ, có tám pháp này trong giới luật của bậc Thánh đưa đến sự cắt đứt giao dịch. Tám pháp ấy là gì? Nương vào việc không sát sanh, sự sát sanh cần được từ bỏ. Nương vào việc nhận của đã cho, sự lấy của không cho cần được từ bỏ. Nương vào lời nói chân thật, lời nói dối trá cần được từ bỏ. Nương vào lời nói không chia rẽ, lời nói chia rẽ cần được từ bỏ. Nương vào việc không tham lam, sự tham lam cần được từ bỏ. Nương vào việc không khiển trách, sự khiển trách cần được từ bỏ. Nương vào việc không phẫn nộ, sự phẫn nộ cần được từ bỏ. Nương vào việc không ngã mạn, sự ngã mạn cần được từ bỏ. Này gia chủ, tám pháp này được nói một cách tóm tắt, chưa được phân tích chi tiết, trong giới luật của bậc Thánh đưa đến sự cắt đứt giao dịch.” “Bạch Thế Tôn, tám pháp mà Thế Tôn đã nói cho con một cách tóm tắt, chưa được phân tích chi tiết, trong giới luật của bậc Thánh đưa đến sự cắt đứt giao dịch, lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà phân tích chi tiết tám pháp này cho con.” “Vậy thì, này gia chủ, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
33. ‘Dựa vào việc không sát sanh, việc sát sanh cần được đoạn trừ.’ Lời này đã được nói ra, nhưng do duyên vào đâu mà được nói ra như vậy? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do nhân duyên của những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người sát sanh, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn những kiết sử ấy. Nếu như chính ta là người sát sanh, thì do duyên sát sanh, tự mình cũng sẽ khiển trách mình; do duyên sát sanh, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; do duyên sát sanh, sau khi thân hoại mạng chung, ác thú là điều có thể được chờ đợi. Chính việc sát sanh này là kiết sử, là triền cái. Và do duyên sát sanh, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi, đối với người đã từ bỏ sát sanh, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không còn nữa.’ Lời đã được nói rằng: ‘Dựa vào việc không sát sanh, việc sát sanh cần được đoạn trừ,’ là do duyên vào điều này mà được nói ra.
‘Dinnādānaṁ nissāya adinnādānaṁ pahātabban’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu adinnādāyī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno. Ahañceva kho pana adinnādāyī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya adinnādānapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ adinnādānapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā adinnādānapaccayā. Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ adinnādānaṁ. Ye ca adinnādānapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā adinnādānā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’. ‘Dinnādānaṁ nissāya adinnādānaṁ pahātabban’ti—iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Stealing …
34. ‘Dựa vào việc lấy của được cho, việc lấy của không cho cần được đoạn trừ.’ Lời này đã được nói ra, nhưng do duyên vào đâu mà được nói ra như vậy? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do nhân duyên của những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người lấy của không cho, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn những kiết sử ấy. Nếu như chính ta là người lấy của không cho, thì do duyên lấy của không cho, tự mình cũng sẽ khiển trách mình; do duyên lấy của không cho, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; do duyên lấy của không cho, sau khi thân hoại mạng chung, ác thú là điều có thể được chờ đợi. Chính việc lấy của không cho này là kiết sử, là triền cái. Và do duyên lấy của không cho, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi, đối với người đã từ bỏ việc lấy của không cho, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không còn nữa.’ Lời đã được nói rằng: ‘Dựa vào việc lấy của được cho, việc lấy của không cho cần được đoạn trừ,’ là do duyên vào điều này mà được nói ra.
35. ‘Dựa vào lời nói chân thật, lời nói dối trá cần được đoạn trừ.’ Lời này đã được nói ra, nhưng do duyên vào đâu mà được nói ra như vậy? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do nhân duyên của những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người nói dối, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn những kiết sử ấy. Nếu như chính ta là người nói dối, thì do duyên nói dối, tự mình cũng sẽ khiển trách mình; do duyên nói dối, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; do duyên nói dối, sau khi thân hoại mạng chung, ác thú là điều có thể được chờ đợi. Chính lời nói dối này là kiết sử, là triền cái. Và do duyên nói dối, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi, đối với người đã từ bỏ lời nói dối, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không còn nữa.’ Lời đã được nói rằng: ‘Dựa vào lời nói chân thật, lời nói dối trá cần được đoạn trừ,’ là do duyên vào điều này mà được nói ra.
36. ‘Dựa vào lời nói không đâm thọc, lời nói đâm thọc cần được đoạn trừ.’ Lời này đã được nói ra, nhưng do duyên vào đâu mà được nói ra như vậy? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do nhân duyên của những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người nói lời đâm thọc, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn những kiết sử ấy. Nếu như chính ta là người nói lời đâm thọc, thì do duyên nói lời đâm thọc, tự mình cũng sẽ khiển trách mình; do duyên nói lời đâm thọc, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; do duyên nói lời đâm thọc, sau khi thân hoại mạng chung, ác thú là điều có thể được chờ đợi. Chính lời nói đâm thọc này là kiết sử, là triền cái. Và do duyên nói lời đâm thọc, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi, đối với người đã từ bỏ lời nói đâm thọc, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không còn nữa.’ Lời đã được nói rằng: ‘Dựa vào lời nói không đâm thọc, lời nói đâm thọc cần được đoạn trừ,’ là do duyên vào điều này mà được nói ra.
37. ‘Dựa vào việc không tham lam thèm muốn, việc tham lam thèm muốn cần được đoạn trừ.’ Lời này đã được nói ra, nhưng do duyên vào đâu mà được nói ra như vậy? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do nhân duyên của những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người tham lam thèm muốn, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn những kiết sử ấy. Nếu như chính ta là người tham lam thèm muốn, thì do duyên tham lam thèm muốn, tự mình cũng sẽ khiển trách mình; do duyên tham lam thèm muốn, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; do duyên tham lam thèm muốn, sau khi thân hoại mạng chung, ác thú là điều có thể được chờ đợi. Chính việc tham lam thèm muốn này là kiết sử, là triền cái. Và do duyên tham lam thèm muốn, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi, đối với người đã từ bỏ tham lam thèm muốn, những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không còn nữa.’ Lời đã được nói rằng: ‘Dựa vào việc không tham lam thèm muốn, việc tham lam thèm muốn cần được đoạn trừ,’ là do duyên vào điều này mà được nói ra.
38. ‘Nương vào sự không chỉ trích, cần phải đoạn trừ sự chỉ trích.’ Lời dạy này đã được nói ra như vậy, và lời dạy này được nói ra dựa vào điều gì? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người hay chỉ trích, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn các kiết sử ấy. Nếu ta là người hay chỉ trích, thì do duyên chỉ trích, chính tự ta cũng sẽ khiển trách ta; do duyên chỉ trích, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê bai ta; do duyên chỉ trích, sau khi thân hoại mạng chung, một ác thú có thể được chờ đợi. Chính sự chỉ trích này là một kiết sử, là một triền cái. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi do duyên chỉ trích, thì đối với người không chỉ trích, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không sanh khởi.’ ‘Nương vào sự không chỉ trích, cần phải đoạn trừ sự chỉ trích.’ Lời dạy đã được nói ra như vậy là dựa vào điều này.
39. ‘Nương vào sự không phẫn nộ, phiền muộn, cần phải đoạn trừ sự phẫn nộ, phiền muộn.’ Lời dạy này đã được nói ra như vậy, và lời dạy này được nói ra dựa vào điều gì? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người hay phẫn nộ, phiền muộn, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn các kiết sử ấy. Nếu ta là người hay phẫn nộ, phiền muộn, thì do duyên phẫn nộ, phiền muộn, chính tự ta cũng sẽ khiển trách ta; do duyên phẫn nộ, phiền muộn, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê bai ta; do duyên phẫn nộ, phiền muộn, sau khi thân hoại mạng chung, một ác thú có thể được chờ đợi. Chính sự phẫn nộ, phiền muộn này là một kiết sử, là một triền cái. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi do duyên phẫn nộ, phiền muộn, thì đối với người không phẫn nộ, phiền muộn, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không sanh khởi.’ ‘Nương vào sự không phẫn nộ, phiền muộn, cần phải đoạn trừ sự phẫn nộ, phiền muộn.’ Lời dạy đã được nói ra như vậy là dựa vào điều này.
‘Anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu atimānī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno. Ahañceva kho pana atimānī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya atimānapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ atimānapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā atimānapaccayā. Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ atimāno. Ye ca atimānapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, anatimānissa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’. ‘Anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo’ti—iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Arrogance should be given up, relying on not being arrogant.’ That’s what I said, but why did I say it? It’s when a noble disciple reflects: ‘I am practicing to give up and cut off the fetters that might cause me to be arrogant. But if I were to be arrogant, because of that I would reprimand myself; sensible people, after examination, would criticize me; and when my body breaks up, after death, I could expect to be reborn in a bad place. And arrogance is itself a fetter and a hindrance. The distressing and feverish defilements that might arise because of arrogance do not occur in someone who is not arrogant.’ ‘Arrogance should be given up by not being arrogant.’ That’s what I said, and this is why I said it.
40. ‘Nương vào sự không quá mạn, cần phải đoạn trừ sự quá mạn.’ Lời dạy này đã được nói ra như vậy, và lời dạy này được nói ra dựa vào điều gì? Này gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Do những kiết sử nào mà ta có thể trở thành người có tâm quá mạn, ta đang thực hành để đoạn trừ, để cắt đứt hoàn toàn các kiết sử ấy. Nếu ta là người có tâm quá mạn, thì do duyên quá mạn, chính tự ta cũng sẽ khiển trách ta; do duyên quá mạn, các bậc hiền trí sau khi xem xét cũng sẽ chê bai ta; do duyên quá mạn, sau khi thân hoại mạng chung, một ác thú có thể được chờ đợi. Chính sự quá mạn này là một kiết sử, là một triền cái. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào có thể sanh khởi do duyên quá mạn, thì đối với người không có tâm quá mạn, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không sanh khởi.’ ‘Nương vào sự không quá mạn, cần phải đoạn trừ sự quá mạn.’ Lời dạy đã được nói ra như vậy là dựa vào điều này.
Ime kho, gahapati, aṭṭha dhammā saṅkhittena vuttā, vitthārena vibhattā, ye ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti; na tveva tāva ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hotī”ti.
These are the eight things—stated in brief and analyzed in detail—that lead to the cutting off of business in the Noble One’s training. But just this much does not constitute the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training.”
41. Này gia chủ, tám pháp này đã được nói một cách tóm tắt, đã được phân tích một cách chi tiết, là những pháp đưa đến sự đoạn tuyệt các ngôn ngữ thế tục trong giới luật của bậc Thánh; tuy nhiên, trong giới luật của bậc Thánh, sự đoạn tuyệt tất cả ngôn ngữ thế tục một cách toàn diện, một cách trọn vẹn, một cách tuyệt đối vẫn chưa xảy ra.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hoti? Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hotī”ti.
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho potaliyo gahapati bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“But, sir, how is there the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training? Sir, please teach me this.”
“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” said Potaliya. The Buddha said this:
‘Bạch Thế Tôn, vậy thì làm thế nào trong giới luật của bậc Thánh, sự đoạn tuyệt tất cả ngôn ngữ thế tục một cách toàn diện, một cách trọn vẹn, một cách tuyệt đối lại xảy ra? Bạch Thế Tôn, mong thay Thế Tôn hãy thuyết Pháp cho con về cách thức mà trong giới luật của bậc Thánh, sự đoạn tuyệt tất cả ngôn ngữ thế tục một cách toàn diện, một cách trọn vẹn, một cách tuyệt đối lại xảy ra.’ ‘Vậy thì, này gia chủ, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Gia chủ Potaliya đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
Lời Nói Về Sự Nguy Hại Của Các Dục
“Seyyathāpi, gahapati, kukkuro jighacchādubbalyapareto goghātakasūnaṁ paccupaṭṭhito assa. Tamenaṁ dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā aṭṭhikaṅkalaṁ sunikkantaṁ nikkantaṁ nimmaṁsaṁ lohitamakkhitaṁ upasumbheyya. Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, api nu kho so kukkuro amuṁ aṭṭhikaṅkalaṁ sunikkantaṁ nikkantaṁ nimmaṁsaṁ lohitamakkhitaṁ palehanto jighacchādubbalyaṁ paṭivineyyā”ti?
“Householder, suppose a dog weak with hunger was hanging around a butcher’s shop. A deft butcher or their apprentice would toss them a skeleton scraped clean of flesh and smeared in blood. What do you think, householder? Gnawing on such a fleshless skeleton, would that dog still get rid of its hunger?”
42. Này gia chủ, ví như có một con chó bị đói khát và kiệt sức hành hạ, đang đứng gần một lò mổ bò. Rồi một người đồ tể giết bò thiện nghệ hoặc đệ tử của người ấy quăng cho nó một khúc xương đã được cạo sạch, lóc sạch, không còn thịt, chỉ dính máu. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào, liệu con chó ấy khi liếm khúc xương đã được cạo sạch, lóc sạch, không còn thịt, chỉ dính máu kia, có thể xua tan được cơn đói khát và kiệt sức của nó không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bạch Thế Tôn, không thể được.
Vì sao vậy?
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ abhinivajjetvā, yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti.
“In the same way, a noble disciple reflects: ‘With the simile of a skeleton the Buddha said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.’ Having truly seen this with right understanding, they shun equanimity based on diversity and develop only the equanimity based on unity, where all kinds of grasping to the worldly pleasures of the flesh cease without remainder.
Bạch Thế Tôn, vì khúc xương ấy đã được cạo sạch, lóc sạch, không còn thịt, chỉ dính máu. Con chó ấy chỉ chuốc lấy mệt mỏi và phiền não mà thôi. Cũng vậy, này gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như vầy: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như khúc xương, có nhiều đau khổ, nhiều phiền muộn, sự nguy hại ở đây lại càng nhiều hơn.’ Sau khi thấy rõ điều này như thật bằng chánh trí tuệ, vị ấy tránh xa loại xả có tính đa dạng, y cứ vào sự đa dạng, và tu tập chính loại xả có tính nhất thể, y cứ vào sự nhất thể, nơi mà tất cả sự chấp thủ vào các thế lợi vật chất đều được đoạn diệt không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, gijjho vā kaṅko vā kulalo vā maṁsapesiṁ ādāya uḍḍīyeyya. Tamenaṁ gijjhāpi kaṅkāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitaccheyyuṁ vissajjeyyuṁ. Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, sace so gijjho vā kaṅko vā kulalo vā taṁ maṁsapesiṁ na khippameva paṭinissajjeyya, so tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
Suppose a vulture or a crow or a hawk was to grab a scrap of meat and fly away. Other vultures, crows, and hawks would keep chasing it, pecking and clawing. What do you think, householder? If that vulture, crow, or hawk doesn’t quickly let go of that scrap of meat, wouldn’t that result in death or deadly suffering for them?”
“Yes, sir.” …
43. Này gia chủ, ví như một con diều hâu, hoặc một con ó, hoặc một con kền kền, quắp một miếng thịt rồi bay đi. Rồi những con diều hâu, ó, kền kền khác đuổi theo, đuổi theo, rỉa mổ, giằng giật nó. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào, nếu con diều hâu, ó, hoặc kền kền ấy không mau mắn buông miếng thịt đó ra, thì do nguyên nhân ấy, nó sẽ đi đến chỗ chết hoặc đau khổ gần như chết, có phải không?
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ abhinivajjetvā yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Này gia chủ, cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như miếng thịt, có nhiều đau khổ, nhiều phiền não, ở đây có nhiều nguy hiểm’. Vị ấy, sau khi thấy rõ điều này như thật bằng chánh trí tuệ, tránh xa loại xả đa dạng, dựa vào sự đa dạng, và tu tập chính loại xả nhất thể, dựa vào sự nhất thể, nơi mà tất cả các chấp thủ vào thế gian vật chất đều được đoạn diệt không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, puriso ādittaṁ tiṇukkaṁ ādāya paṭivātaṁ gaccheyya. Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, sace so puriso taṁ ādittaṁ tiṇukkaṁ na khippameva paṭinissajjeyya tassa sā ādittā tiṇukkā hatthaṁ vā daheyya bāhuṁ vā daheyya aññataraṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ daheyya, so tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Suppose a person carrying a blazing grass torch was to walk against the wind. What do you think, householder? If that person doesn’t quickly let go of that blazing grass torch, wouldn’t they burn their hands or arm or other major or minor limb, resulting in death or deadly suffering for them?”
“Yes, sir.” …
44. Này gia chủ, ví như một người cầm bó đuốc cỏ đang cháy và đi ngược chiều gió. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào? Nếu người ấy không nhanh chóng vứt bỏ bó đuốc cỏ đang cháy đó, thì bó đuốc cỏ đang cháy ấy có thể đốt cháy tay của người đó, hoặc đốt cháy cánh tay, hoặc đốt cháy một trong các bộ phận lớn nhỏ khác của thân thể. Do nhân duyên đó, người ấy có thể đi đến chỗ chết, hoặc chịu đau khổ gần như chết, phải không?
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā …pe… tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Này gia chủ, cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như bó đuốc cỏ, có nhiều đau khổ, nhiều phiền não, ở đây có nhiều nguy hiểm’. Vị ấy, sau khi thấy rõ điều này như thật bằng chánh trí tuệ... vân vân... tu tập chính loại xả ấy.
Seyyathāpi, gahapati, aṅgārakāsu sādhikaporisā, pūrā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ. Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikkūlo. Tamenaṁ dve balavanto purisā nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuṁ upakaḍḍheyyuṁ. Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, api nu so puriso iticiticeva kāyaṁ sannāmeyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man’s height, full of glowing coals that neither flamed nor smoked. Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain. Two strong men would grab them by the arms and drag them toward the pit of glowing coals. What do you think, householder? Wouldn’t that person writhe and struggle to and fro?”
“Yes, sir.
45. Này gia chủ, ví như có một hố than sâu hơn một sải tay người, đầy những than hồng không có ngọn lửa, không có khói. Rồi một người muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghét sự đau khổ đi đến. Hai người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy hai cánh tay của người ấy và kéo về phía hố than. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào? Người ấy có vùng vẫy thân mình qua lại hay không?
Vì lý do gì?
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā …pe… tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bạch Thế Tôn, vì người ấy biết rằng: ‘Tôi sẽ rơi vào hố than này, và do nhân duyên đó, tôi sẽ đi đến chỗ chết hoặc chịu đau khổ gần như chết’. Này gia chủ, cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như hố than, có nhiều đau khổ, nhiều phiền não, ở đây có nhiều nguy hiểm’. Vị ấy, sau khi thấy rõ điều này như thật bằng chánh trí tuệ... vân vân... tu tập chính loại xả ấy.
Seyyathāpi, gahapati, puriso supinakaṁ passeyya ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇirāmaṇeyyakaṁ. So paṭibuddho na kiñci paṭipasseyya.
Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti …pe… tamevūpekkhaṁ bhāveti.
“Suppose a person was to see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds in a dream. But when they woke they couldn’t see them at all. …
46. Này gia chủ, ví như một người thấy trong giấc mơ những khu vườn khả ái, những khu rừng khả ái, những vùng đất khả ái, những hồ sen khả ái. Khi tỉnh dậy, người ấy không thấy lại bất cứ điều gì. Này gia chủ, cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như giấc mơ, có nhiều đau khổ, nhiều phiền não, ở đây có nhiều nguy hiểm’... vân vân... tu tập chính loại xả ấy.
Seyyathāpi, gahapati, puriso yācitakaṁ bhogaṁ yācitvā yānaṁ vā poriseyyaṁ pavaramaṇikuṇḍalaṁ. So tehi yācitakehi bhogehi purakkhato parivuto antarāpaṇaṁ paṭipajjeyya. Tamenaṁ jano disvā evaṁ vadeyya: ‘bhogī vata bho puriso, evaṁ kira bhogino bhogāni bhuñjantī’ti. Tamenaṁ sāmikā yattha yattheva passeyyuṁ tattha tattheva sāni hareyyuṁ. Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, alaṁ nu kho tassa purisassa aññathattāyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
Suppose a man had borrowed some goods—a gentleman’s carriage and fine jeweled earrings—and preceded and surrounded by these he proceeded through the middle of Āpaṇa. When people saw him they’d say: ‘This must be a wealthy man! For that’s how the wealthy enjoy their wealth.’ But when the owners saw him, they’d take back what was theirs. What do you think? Would that be enough for that man to get upset?”
“Yes, sir.
47. Này gia chủ, ví như một người mượn tài sản, mượn một cỗ xe sang trọng và đôi bông tai bằng ngọc quý. Được tôn vinh và vây quanh bởi những tài sản đi mượn ấy, người ấy đi vào khu chợ. Thấy người ấy, dân chúng nói rằng: ‘Thưa quý vị, thật là một người giàu có! Những người giàu có hưởng thụ tài sản của họ như thế này đây’. Rồi những người chủ sở hữu, bất cứ nơi nào họ thấy người ấy, họ sẽ lấy lại tài sản của mình ở ngay nơi đó. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào? Điều đó có đủ để làm cho người ấy trở nên khác đi không?
Vì lý do gì?
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti …pe… tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bạch Thế Tôn, vì những người chủ sở hữu lấy lại tài sản của họ. Này gia chủ, cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như vật đi mượn, có nhiều đau khổ, nhiều phiền não, ở đây có nhiều nguy hiểm’... vân vân... tu tập chính loại xả ấy.
Seyyathāpi, gahapati, gāmassa vā nigamassa vā avidūre tibbo vanasaṇḍo. Tatrassa rukkho sampannaphalo ca upapannaphalo ca, na cassu kānici phalāni bhūmiyaṁ patitāni. Atha puriso āgaccheyya phalatthiko phalagavesī phalapariyesanaṁ caramāno. So taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā taṁ rukkhaṁ passeyya sampannaphalañca upapannaphalañca. Tassa evamassa: ‘ayaṁ kho rukkho sampannaphalo ca upapannaphalo ca, natthi ca kānici phalāni bhūmiyaṁ patitāni. Jānāmi kho panāhaṁ rukkhaṁ ārohituṁ. Yannūnāhaṁ imaṁ rukkhaṁ ārohitvā yāvadatthañca khādeyyaṁ ucchaṅgañca pūreyyan’ti. So taṁ rukkhaṁ ārohitvā yāvadatthañca khādeyya ucchaṅgañca pūreyya. Atha dutiyo puriso āgaccheyya phalatthiko phalagavesī phalapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya. So taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā taṁ rukkhaṁ passeyya sampannaphalañca upapannaphalañca. Tassa evamassa: ‘ayaṁ kho rukkho sampannaphalo ca upapannaphalo ca, natthi ca kānici phalāni bhūmiyaṁ patitāni. Na kho panāhaṁ jānāmi rukkhaṁ ārohituṁ. Yannūnāhaṁ imaṁ rukkhaṁ mūlato chetvā yāvadatthañca khādeyyaṁ ucchaṅgañca pūreyyan’ti. So taṁ rukkhaṁ mūlatova chindeyya. Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, amuko yo so puriso paṭhamaṁ rukkhaṁ ārūḷho sace so na khippameva oroheyya tassa so rukkho papatanto hatthaṁ vā bhañjeyya pādaṁ vā bhañjeyya aññataraṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ bhañjeyya, so tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Suppose there was a dense forest grove not far from a town or village. And there was a tree laden with fruit, yet none of the fruit had fallen to the ground. And along came a person in need of fruit, wandering in search of fruit. Having plunged deep into that forest grove, they’d see that tree laden with fruit. They’d think: ‘That tree is laden with fruit, yet none of the fruit has fallen to the ground. But I know how to climb a tree. Why don’t I climb the tree, eat as much as I like, then fill my pouch?’ And that’s what they’d do. And along would come a second person in need of fruit, wandering in search of fruit, carrying a sharp axe. Having plunged deep into that forest grove, they’d see that tree laden with fruit. They’d think: ‘That tree is laden with fruit, yet none of the fruit has fallen to the ground. But I don’t know how to climb a tree. Why don’t I chop this tree down at the root, eat as much as I like, then fill my pouch?’ And so they’d chop the tree down at the root. What do you think, householder? If the first person, who climbed the tree, doesn’t quickly come down, when that tree fell wouldn’t they break their hand or arm or other major or minor limb, resulting in death or deadly suffering for them?”
“Yes, sir.”
48. Này gia chủ, ví như không xa một ngôi làng hay thị trấn, có một khu rừng rậm. Ở đó có một cây sai quả, quả lại ngon ngọt, nhưng không có quả nào rơi trên mặt đất. Rồi một người muốn có quả, đang đi tìm quả, đến. Người ấy đi vào khu rừng và thấy cây sai quả, quả lại ngon ngọt ấy. Người ấy nghĩ rằng: ‘Cây này sai quả, quả lại ngon ngọt, nhưng không có quả nào rơi trên mặt đất. Ta lại biết cách trèo cây. Hay là ta hãy trèo lên cây này, ăn cho thỏa thích và làm đầy vạt áo của ta’. Rồi người ấy trèo lên cây, ăn cho thỏa thích và làm đầy vạt áo. Sau đó, một người thứ hai đến, cũng muốn có quả, đang đi tìm quả, mang theo một cái rìu sắc bén. Người ấy đi vào khu rừng và thấy cây sai quả, quả lại ngon ngọt ấy. Người ấy nghĩ rằng: ‘Cây này sai quả, quả lại ngon ngọt, nhưng không có quả nào rơi trên mặt đất. Ta lại không biết cách trèo cây. Hay là ta hãy chặt cây này từ gốc, ăn cho thỏa thích và làm đầy vạt áo của ta’. Rồi người ấy chặt cây từ gốc. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào? Người đầu tiên đã trèo lên cây, nếu không nhanh chóng xuống, thì khi cây đó đổ xuống, nó có thể làm gãy tay, gãy chân, hoặc làm gãy một trong các bộ phận lớn nhỏ khác của người ấy. Do nhân duyên đó, người ấy có thể đi đến chỗ chết, hoặc chịu đau khổ gần như chết, phải không?
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ abhinivajjetvā yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti.
“In the same way, a noble disciple reflects: ‘With the simile of the fruit tree the Buddha said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.’ Having truly seen this with right understanding, they shun equanimity based on diversity and develop only the equanimity based on unity, where all kinds of grasping to the worldly pleasures of the flesh cease without remainder.
Này gia chủ, cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như trái cây, có nhiều khổ, nhiều não, ở đây có nhiều sự nguy hiểm’. Sau khi thấy rõ điều ấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ, vị ấy tránh xa tâm xả thuộc về đa dạng, y cứ vào đa dạng, và tu tập chính tâm xả thuộc về nhất thể, y cứ vào nhất thể, nơi mà tất cả các chấp thủ vào thế gian vật chất đều được đoạn diệt không còn dư sót.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple recollects their many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. … They recollect their many kinds of past lives, with features and details.
49. Này gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy, y cứ vào chính sự thanh tịnh của niệm và xả vô thượng này, nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, nghĩa là: một đời, hai đời... cho đến... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các tướng trạng và chi tiết.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple, with clairvoyance that is purified and superhuman, sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. … They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Này gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy, y cứ vào chính sự thanh tịnh của niệm và xả vô thượng này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt mắt người, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú... cho đến... biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.
Ettāvatā kho, gahapati, ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hoti.
That’s how there is the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training.
Này gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy, y cứ vào chính sự thanh tịnh của niệm và xả vô thượng này, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, ngay trong hiện tại. Này gia chủ, đến mức độ như vậy, trong giới luật của bậc Thánh, sự chấm dứt ngôn ngữ giao tiếp mới xảy ra một cách hoàn toàn, về mọi mặt, theo mọi cách.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, yathā ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hoti, api nu tvaṁ evarūpaṁ vohārasamucchedaṁ attani samanupassasī”ti?
“Ko cāhaṁ, bhante, ko ca ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo. Ārakā ahaṁ, bhante, ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedā. Mayañhi, bhante, pubbe aññatitthiye paribbājake anājānīyeva samāne ājānīyāti amaññimha, anājānīyeva samāne ājānīyabhojanaṁ bhojimha, anājānīyeva samāne ājānīyaṭhāne ṭhapimha; bhikkhū pana mayaṁ, bhante, ājānīyeva samāne anājānīyāti amaññimha, ājānīyeva samāne anājānīyabhojanaṁ bhojimha, ājānīyeva samāne anājānīyaṭhāne ṭhapimha; idāni pana mayaṁ, bhante, aññatitthiye paribbājake anājānīyeva samāne anājānīyāti jānissāma, anājānīyeva samāne anājānīyabhojanaṁ bhojessāma, anājānīyeva samāne anājānīyaṭhāne ṭhapessāma. Bhikkhū pana mayaṁ, bhante, ājānīyeva samāne ājānīyāti jānissāma, ājānīyeva samāne ājānīyabhojanaṁ bhojessāma, ājānīyeva samāne ājānīyaṭhāne ṭhapessāma. Ajanesi vata me, bhante, bhagavā samaṇesu samaṇappemaṁ, samaṇesu samaṇappasādaṁ, samaṇesu samaṇagāravaṁ.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya, ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ kho, bhante, bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
What do you think, householder? Do you regard yourself as having cut off business in a way comparable to the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training?”
“Who am I compared to one who has cut off business in each and every respect in the Noble One’s training? I am far from that. Sir, I used to think that the wanderers following other religions were thoroughbreds, and I fed them and treated them accordingly, but they were not actually thoroughbreds. I thought that the mendicants were not thoroughbreds, and I fed them and treated them accordingly, but they actually were thoroughbreds. But now I shall understand that the wanderers following other religions are not actually thoroughbreds, and I will feed them and treat them accordingly. And I shall understand that the mendicants actually are thoroughbreds, and I will feed them and treat them accordingly. The Buddha has inspired me to have love, confidence, and respect for ascetics!
Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
50. Này gia chủ, ông nghĩ thế nào? Theo như trong giới luật của bậc Thánh, sự chấm dứt ngôn ngữ giao tiếp xảy ra một cách hoàn toàn, về mọi mặt, theo mọi cách, vậy ông có thấy được sự chấm dứt ngôn ngữ giao tiếp như vậy nơi tự thân mình không?” “Bạch Thế Tôn, con là ai, và sự chấm dứt ngôn ngữ giao tiếp một cách hoàn toàn, về mọi mặt, theo mọi cách trong giới luật của bậc Thánh là gì! Bạch Thế Tôn, con còn xa mới đạt được sự chấm dứt ngôn ngữ giao tiếp một cách hoàn toàn, về mọi mặt, theo mọi cách trong giới luật của bậc Thánh. Bạch Thế Tôn, trước đây, đối với các du sĩ ngoại đạo, chúng con dù họ không biết nhưng lại nghĩ rằng họ là người biết, dù họ không biết nhưng chúng con đã dâng cúng vật thực dành cho người biết, dù họ không biết nhưng chúng con đã đặt họ vào địa vị của người biết. Còn đối với các Tỳ khưu, bạch Thế Tôn, chúng con dù các vị ấy biết nhưng lại nghĩ rằng các vị ấy không biết, dù các vị ấy biết nhưng chúng con đã dâng cúng vật thực dành cho người không biết, dù các vị ấy biết nhưng chúng con đã đặt các vị ấy vào địa vị của người không biết. Nhưng nay, bạch Thế Tôn, đối với các du sĩ ngoại đạo, chúng con sẽ biết rằng họ không biết dù họ là người không biết, chúng con sẽ dâng cúng vật thực dành cho người không biết dù họ là người không biết, chúng con sẽ đặt họ vào địa vị của người không biết dù họ là người không biết. Còn đối với các Tỳ khưu, bạch Thế Tôn, chúng con sẽ biết rằng các vị ấy biết dù các vị ấy là người biết, chúng con sẽ dâng cúng vật thực dành cho người biết dù các vị ấy là người biết, chúng con sẽ đặt các vị ấy vào địa vị của người biết. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn quả đã làm cho con phát sinh lòng yêu mến đối với các vị Sa-môn, lòng tịnh tín đối với các vị Sa-môn, lòng kính trọng đối với các vị Sa-môn. Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy được các hình sắc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Chánh pháp đã được Thế Tôn khéo giảng giải bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỳ khưu Tăng. Mong Thế Tôn hãy nhận con làm người cận sự nam, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Potaliyasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Potaliya, phẩm thứ tư, kết thúc.