- Majjhima Nikāya 125
Dantabhūmisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dantabhūmisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
SC 2Lúc bấy giờ, Sa-di Aciravata (Tân Học Sa-môn) đang ở tại am thất Aranna. Rồi vương tử Jayasena trong khi tản bộ du hành, đi đến Sa-di Aciravata, sau khi đến nói lên với Sa-di Aciravata những lời chào đón hỏi thăm; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vương tử Jayasena nói với Sa-di Aciravata
SC 3—Tôn giả Aggivessana, tôi có nghe như sau: “Ở đây Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ được nhứt tâm”.
SC 4—Sự việc là vậy, này Vương tử! Sự việc là vậy, này Vương tử! Ở đây, Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sẽ chứng được nhứt tâm.
SC 5—Thật là tốt lành nếu Tôn giả Aggivessana thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã được học.
SC 6—Này Vương tử, tôi không có thể thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học. Nếu nay tôi thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học, và nếu Vương tử không hiểu lời tôi nói, như vậy sẽ làm tôi mệt mỏi, làm tôi phiền muộn.
SC 7—Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã được học! Rất có thể, tôi sẽ hiểu ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana.
SC 8—Này Vương tử, tôi sẽ thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học. Nếu Vương tử có thể hiểu ý nghĩa lời nói của tôi, như vậy là tốt đẹp. Nếu Vương tử không thể hiểu lời nói của tôi, hãy dừng lại trên sự trạng của mình, chớ có hỏi tôi thêm nữa!
SC 9—Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã được học! Nếu tôi có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana, như vậy là tốt đẹp. Nếu tôi không có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana, tôi sẽ dừng lại trên sự trạng của tôi, ở đây, tôi sẽ không hỏi Tôn giả Aggivessana thêm nữa.
SC 10Rồi Sa-di Aciravata thuyết pháp cho vương tử Jayasena như đã được nghe, như đã được học. Khi được nghe vậy, Vương tử nói với Sa-di Aciravata như sau
SC 11—Sự việc không phải là như vậy, Tôn giả Aggivessana; trường hợp không phải là như vậy, rằng Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần lại có thể chứng đắc nhất tâm.
SC 12Rồi Vương tử Jayasena sau khi nói lên với Sa-di Aciravata sự việc không phải như vậy và trường hợp không phải như vậy, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 13Rồi Sa-di Aciravata, sau khi vương tử Jayasena ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sa-di Aciravata kể lại cho Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vương tử Jayasena.
SC 14Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Sa-di Aciravata
SC 15—Như vậy, này Aggivessana, nào có lợi ích gì? Vương tử Jayasenna sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được. Chỉ có ly dục mới đạt được, hay chỉ có ly dục mới chứng được; sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 16Này Aggivessana, ví như giữa các con voi, con ngựa hay con bò được dạy điều phục có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều phục, được khéo huấn luyện; và có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò, được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, các con ấy có thể đi đến khả năng điều phục (dantakaranam), có thể đạt đến điều phục địa không?
SC 17—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 18—Còn hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều phục, nhưng không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện, các con ấy không được điều phục, có thể đi đến khả năng điều phục, không được điều phục có thể đạt đến điều phục địa, như hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được khéo điều phục, được khéo huấn luyện kia không?
SC 19—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 20—Cũng vậy, này Aggivessana, vương tử Jayasena sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng được, sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 21Ví như, này Aggivessana, một hòn núi lớn không xa làng hay thị trấn. Và có hai người bạn, tay trong tay đi ra khỏi làng hay thị trấn ấy, và đi đến hòn núi kia. Sau khi đến, một người bạn đứng dưới chân núi, còn người bạn kia leo lên đỉnh núi. Người bạn đứng dưới chân núi ấy có thể nói với người bạn đứng trên đỉnh núi: “Này Bạn thân, Bạn đứng trên đỉnh núi, Bạn thấy những gì?” Người kia nói: “Này Bạn thân, đứng trên đỉnh núi tôi thấy các vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái”. Người kia nói: “Không có sự kiện này, này Bạn thân, không có trường hợp này, Bạn đứng trên đỉnh núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái, khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái”.
SC 22Rồi người bạn đã đứng trên đỉnh núi, sau khi đi xuống chân núi, nắm tay bạn, khiến bạn trèo lên đỉnh núi, để bạn nghỉ thở một thời gian, rồi nói: “Này Bạn thân, nay Bạn có thể thấy gì, khi Bạn đứng trên đỉnh núi?” Và người bạn ấy có thể nói: “Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh núi, tôi thấy các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái”. Người kia có thể nói như sau: “Vừa rồi, này Bạn thân, chúng tôi hiểu Bạn nói: “Không thể có sự kiện này, này Bạn thân, không thể có trường hợp này, Bạn đứng trên đỉnh núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái … các ao hồ khả ái”. Nhưng nay chúng tôi hiểu Bạn nói: “Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh núi, tôi thấy các khu vườn khả ái … các ao hồ khả ái”. Người kia nói như sau: “Này Bạn thân, vì tôi bị che khuất bởi sườn núi này, nên không thấy được những điều đáng thấy”.
SC 23Cũng vậy, nhưng to lớn hơn, này Aggivessana, là Vương tử Jayasena, bị che khuất, bị chận đứng, bị chướng ngại, bị bao vây bởi vô minh uẩn này. Vương tử Jayasena sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng được; sự kiện như vậy không xảy ra.
SC 24Nếu hai ví dụ này được Ông đề cập cho Vương tử Jayasena, thời Vương tử Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông và khi đã tin tưởng, sẽ hành động đúng theo cung cách một người đã tin tưởng Ông.
SC 25—Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, hai ví dụ này khởi đến từ nơi con cho Vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên, từ trước chưa từng được nghe, như Thế Tôn được?
SC 26—Ví như, này Aggivessana, một vị vua Sát-đế-lỵ đã quán đảnh bảo người nài voi: “Này Tượng sư, hãy cưỡi con vương tượng, đi vào rừng có voi; khi Ông thấy con voi rừng, hãy cột nó lại vào cổ con vương tượng”. “Thưa vâng, Ðại vương”. Này Aggivessana, người tượng sư vâng theo lời vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, cỡi con vương tượng, vào trong rừng có voi, thấy con voi rừng, cột con voi rừng ấy vào cổ con vương tượng. Con vương tượng kéo nó ra chỗ ngoài trời. Cho đến như vậy, này Aggivessana, con voi rừng được đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, con voi rừng còn có sự tham luyến tức là đối với rừng có voi.
SC 27Người tượng sư tâu với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh về con voi rừng ấy. “Tâu Ðại vương, con voi rừng đã ra chỗ ngoài trời”. Rồi vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh bảo người điều phục voi: “Hãy đến, này người Ðiều phục voi, hãy điều phục con voi rừng này bằng cách điều phục nếp sống rừng của nó, bằng cách điều phục tâm tư rừng núi, bằng cách điều phục sự ưu tư, mệt nhọc, nhiệt não đối với rừng núi của nó bằng cách làm cho nó thích thú với thôn làng, và bằng cách làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người”. “Thưa vâng, tâu Ðại vương”. Này Aggivessana, người điều phục voi vâng theo lời vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đóng một cọc trụ lớn vào đất, cột cổ con voi rừng, để điều phục nếp sống rừng của nó, để điều phục tâm tư rừng núi, để điều phục sự suy tư, mệt nhọc, nhiệt não của rừng núi, để làm cho nó thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người.
SC 28Rồi người điều phục voi lại nói với nó bằng những lời nhẹ nhàng, đẹp tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người vui thích, khiến nhiều người hoan hỷ. Và này Aggivessana, con voi rừng khi được nói với những lời nhẹ nhàng, đẹp tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người vui thích, khiến nhiều người hoan hỷ, liền nghe, lóng tai, trú tâm vào học hỏi (aññā). Tiếp đến người điều phục voi đem cỏ và nước cho con voi rừng. Này Aggivessana, khi con voi rừng nhận cỏ và nước, người điều phục voi mới nghĩ: “Nay con voi rừng sẽ sống”.
SC 29Rồi người điều phục voi khiến (con voi rừng) làm thêm một động tác khác: “Này Bạn, nhặt lên! Này Bạn, đặt xuống!” Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy nhặt lên, đặt xuống rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác: “Này Bạn, đi tới! Này Bạn, đi lui!” Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy đi tới, đi lui rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác: “Này Bạn, đứng dậy! Này Bạn, ngồi xuống!” Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy, đứng dậy, ngồi xuống rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác tên gọi “bất động”. Nó cột cái khiên bằng gỗ vào cái vòi của con vật to lớn, và một người tay cầm ngọn giáo ngồi trên cổ, và xung quanh một số người tay cầm ngọn giáo đứng bao vây. Và người điều phục voi, tay cầm một ngọn giáo với cán cây dài, đứng ở phía trước. Con voi ấy làm động tác bất động, không có di động chân trước, không có di động chân sau, không có di động thân trước, không có di động thân sau, không di động đầu, không có di động tai, không có di động ngà, không có di động vòi. Con vương tượng là con voi có thể nhẫn chịu đao, kiếm, tên, búa chém bắn, nhẫn chịu tiếng vang động của trống lớn, trống nhỏ, tù và, như là vàng ròng tẩy sạch các tỳ vết nhơ bẩn, xứng đáng được vua dùng, một sở hữu của vua, một biểu tượng của vua.
SC 30Cũng vậy, này Aggivessana, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 31Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Cho đến đây, này Aggivessana, là vị Thánh đệ tử đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, các vị Thiên, Nhân có tham ái này, tức là năm dục công đức.
SC 32Rồi Như Lai huấn luyện thêm cho vị đệ tử ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp!” Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp, Như Lai lại huấn luyện thêm cho vị đệ tử ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy bảo hộ các căn! Khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.
SC 33Này Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã hộ trì các căn, Như Lai huấn luyện thêm vị Thánh đệ tử ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
SC 34Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã tiết độ trong ăn uống, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy. Ban đêm canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
SC 35Này Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã chú tâm cảnh giác, Như Lai huấn luyện thêm vị ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác! Khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.
SC 36Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã thành tựu chánh niệm tỉnh giác, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: “Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy lựa một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng, ngoài trời, đống rơm!”
SC 37Vị ấy lựa chọn một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy sau khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, ngồi xuống, kiết-già, giữ lưng cho thẳng, trú niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống với tâm thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 38Vị ấy sau khi đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để điều phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để điều phục tham ưu ở đời.
SC 39Ví như, này Aggivessana, một người điều phục voi đóng một cọc trụ lớn vào đất, cột cổ con voi rừng để điều phục nếp sống rừng của nó, để điều phục tâm tư rừng núi của nó, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não của rừng núi, để làm cho nó thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người; cũng vậy, này Aggivessana, bốn niệm xứ này là những dây cột tâm tư để điều phục tánh cư sĩ, để điều phục tâm tư cư sĩ, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não của các cư sĩ, để đạt được chánh lý (naya), để chứng ngộ Niết-bàn.
SC 40Rồi Như Lai huấn luyện thêm vị ấy
SC 41—Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy trú quán thân trên thân, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến thân; hãy trú quán thọ trên các cảm thọ, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến cảm thọ; hãy trú quán tâm trên tâm, chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến tâm; hãy trú quán pháp trên các pháp, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến các pháp.
SC 42Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 43Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 44Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 45Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 46Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.
SC 47Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của muỗi, ruồi, gió, mặt trời và các loài bò sát, các ác ngữ, các lời nói chửi mắng, vị ấy sống quen kham nhẫn với những cảm thọ về thân, thống khổ, đau nhói, đau đớn, kịch liệt, bất khoái, không thích ý, đau đớn đến chết, được gột sạch về uế nhiễm tham, sân, si. Vị ấy xứng đáng được cúng dường, cung kính, tôn trọng, chấp tay, là vô thượng phước điền trên đời.
SC 48Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già chết đi, không được điều phục, không được huấn luyện, thời con vương tượng tuổi già được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi bậc trung; nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi trẻ chết đi, không được điều phục, không được huấn luyện, thời con vương tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu vị Trưởng lão Tỷ-kheo chết với lậu hoặc chưa đoạn tận, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một Tỷ-kheo trung niên; nếu, này Aggivessana, một Tỷ-kheo thiếu niên chết với lậu hoặc chưa đoạn tân, thời Tỷ-kheo thiếu niên được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục.
SC 49Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già khéo điều phục, khéo huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi già được gọi là đã chết với cái chết được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi bậc trung, nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi trẻ khéo điều phục, khéo huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết với cái chết được điều phục. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một Trưởng lão Tỷ-kheo với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được gọi là đã chết, với cái chết được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một trung niên Tỷ-kheo; nếu, này Aggivessana, một thiếu niên Tỷ-kheo, với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời vị thiếu niên Tỷ-kheo được gọi là đã chết, với cái chết được điều phục.
SC 50Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sa-di Aciravata hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Dantabhūmi
Tena kho pana samayena aciravato samaṇuddeso araññakuṭikāyaṁ viharati. Atha kho jayaseno rājakumāro jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena aciravato samaṇuddeso tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā aciravatena samaṇuddesena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jayaseno rājakumāro aciravataṁ samaṇuddesaṁ etadavoca:
Now at that time the novice Aciravata was staying in a wilderness hut. Then as Prince Jayasena was going for a walk he approached Aciravata, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Aciravata,
213. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Khi ấy, sa-di Aciravata đang ở trong một am thất trong rừng. Bấy giờ, hoàng tử Jayasena đang đi kinh hành, dạo bước, đã đi đến chỗ sa-di Aciravata; sau khi đến, đã cùng sa-di Aciravata chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, hoàng tử Jayasena nói với sa-di Aciravata điều này:
“Evametaṁ, rājakumāra, evametaṁ, rājakumāra. Idha bhikkhu appamatto ātāpī pahitatto viharanto phuseyya cittassa ekaggatan”ti.
“Sādhu me bhavaṁ aggivessano yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ desetū”ti.
“Na kho te ahaṁ, rājakumāra, sakkomi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ desetuṁ. Ahañca hi te, rājakumāra, yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, tvañca me bhāsitassa atthaṁ na ājāneyyāsi; so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā”ti.
“Desetu me bhavaṁ aggivessano yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ. Appevanāmāhaṁ bhoto aggivessanassa bhāsitassa atthaṁ ājāneyyan”ti.
“Deseyyaṁ kho te ahaṁ, rājakumāra, yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ. Sace me tvaṁ bhāsitassa atthaṁ ājāneyyāsi, iccetaṁ kusalaṁ; no ce me tvaṁ bhāsitassa atthaṁ ājāneyyāsi, yathāsake tiṭṭheyyāsi, na maṁ tattha uttariṁ paṭipuccheyyāsī”ti.
“Desetu me bhavaṁ aggivessano yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ. Sace ahaṁ bhoto aggivessanassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmi, iccetaṁ kusalaṁ; no ce ahaṁ bhoto aggivessanassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmi, yathāsake tiṭṭhissāmi, nāhaṁ tattha bhavantaṁ aggivessanaṁ uttariṁ paṭipucchissāmī”ti.
“That’s so true, Prince! That’s so true! A mendicant who meditates diligently, keenly, and resolutely can experience unification of mind.”
“Worthy Aggivessana, please teach me the Dhamma as you have learned and memorized it.”
“I’m not competent to do so, Prince. For if I were to teach you the Dhamma as I have learned and memorized it, you might not understand the meaning, which would be wearying and troublesome for me.”
“Worthy Aggivessana, please teach me the Dhamma as you have learned and memorized it. Hopefully I will understand the meaning of what you say.”
“I shall teach you. If you understand the meaning of what I say, that’s good. If not, then leave each to his own, and do not question me about it further.”
“Worthy Aggivessana, please teach me the Dhamma as you have learned and memorized it. If I understand the meaning of what you say, that’s good. If not, then I will leave each to his own, and not question you about it further.”
‘Thưa ngài Aggivessana, tôi đã nghe điều này: ‘Ở đây, vị tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí, trong khi trú ngụ, có thể chứng đạt được sự nhất tâm’. ‘Thưa vương tử, đúng là như vậy. Thưa vương tử, đúng là như vậy. Ở đây, vị tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí, trong khi trú ngụ, có thể chứng đạt được sự nhất tâm’. ‘Lành thay, mong ngài Aggivessana hãy thuyết Pháp cho tôi đúng như đã được nghe, đúng như đã được học’. ‘Thưa vương tử, quả thật tôi không thể thuyết Pháp cho ngài đúng như đã được nghe, đúng như đã được học. Vì nếu tôi thuyết Pháp cho ngài đúng như đã được nghe, đúng như đã được học, và ngài không hiểu được ý nghĩa lời nói của tôi; điều ấy sẽ là sự mệt nhọc cho tôi, điều ấy sẽ là sự phiền não cho tôi’. ‘Mong ngài Aggivessana hãy thuyết Pháp cho tôi đúng như đã được nghe, đúng như đã được học. Biết đâu tôi có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của ngài Aggivessana’. ‘Thưa vương tử, tôi sẽ thuyết Pháp cho ngài đúng như đã được nghe, đúng như đã được học. Nếu ngài hiểu được ý nghĩa lời nói của tôi, điều ấy là tốt lành; nếu ngài không hiểu được ý nghĩa lời nói của tôi, ngài hãy cứ ở trong tình trạng của mình, và đừng hỏi tôi thêm nữa về điều ấy’. ‘Mong ngài Aggivessana hãy thuyết Pháp cho tôi đúng như đã được nghe, đúng như đã được học. Nếu tôi hiểu được ý nghĩa lời nói của ngài Aggivessana, điều ấy là tốt lành; nếu tôi không hiểu được ý nghĩa lời nói của ngài Aggivessana, tôi sẽ cứ ở trong tình trạng của mình, và tôi sẽ không hỏi thêm ngài Aggivessana về điều ấy’.
Atha kho aciravato samaṇuddeso jayasenassa rājakumārassa yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ desesi. Evaṁ vutte, jayaseno rājakumāro aciravataṁ samaṇuddesaṁ etadavoca: “aṭṭhānametaṁ, bho aggivessana, anavakāso yaṁ bhikkhu appamatto ātāpī pahitatto viharanto phuseyya cittassa ekaggatan”ti. Atha kho jayaseno rājakumāro aciravatassa samaṇuddesassa aṭṭhānatañca anavakāsatañca pavedetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Then the novice Aciravata taught Prince Jayasena the Dhamma as he had learned and memorized it. When he had spoken, Jayasena said to him, “It is impossible, worthy Aggivessana, it cannot happen that a mendicant who meditates diligently, keenly, and resolutely can experience unification of mind.” Having declared that this was impossible, Jayasena rose from his seat and left.
214. Khi ấy, sa-di Aciravata đã thuyết Pháp cho vương tử Jayasena đúng như đã được nghe, đúng như đã được học. Sau khi được nói như vậy, vương tử Jayasena đã nói với sa-di Aciravata điều này: ‘Thưa ngài Aggivessana, điều này là vô lý, không có cơ hội để một vị tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí, trong khi trú ngụ, có thể chứng đạt được sự nhất tâm’. Khi ấy, sau khi đã trình bày sự vô lý và sự không có cơ hội cho sa-di Aciravata, vương tử Jayasena đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Atha kho aciravato samaṇuddeso acirapakkante jayasene rājakumāre yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho aciravato samaṇuddeso yāvatako ahosi jayasenena rājakumārena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Not long after he had left, Aciravata went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
Khi ấy, không lâu sau khi vương tử Jayasena ra đi, sa-di Aciravata đã đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, sa-di Aciravata đã trình bày lại cho Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã xảy ra với vương tử Jayasena.
Evaṁ vutte, bhagavā aciravataṁ samaṇuddesaṁ etadavoca:
“‘taṁ kutettha, aggivessana, labbhā. Yaṁ taṁ nekkhammena ñātabbaṁ nekkhammena daṭṭhabbaṁ nekkhammena pattabbaṁ nekkhammena sacchikātabbaṁ taṁ vata jayaseno rājakumāro kāmamajjhe vasanto kāme paribhuñjanto kāmavitakkehi khajjamāno kāmapariḷāhena pariḍayhamāno kāmapariyesanāya ussuko ñassati vā dakkhati vā sacchi vā karissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
When he had spoken, the Buddha said to him,
“How could it possibly be otherwise, Aggivessana? Prince Jayasena dwells in the midst of sensual pleasures, enjoying them, consumed by thoughts of them, burning with fever for them, and eagerly seeking more. It’s simply impossible for him to know or see or realize what can only be known, seen, and realized by renunciation.
Sau khi được nói như vậy, Thế Tôn đã nói với sa-di Aciravata điều này: ‘Này Aggivessana, làm sao có thể có được điều ấy ở đây? Điều mà cần được biết đến qua sự xuất ly, cần được thấy qua sự xuất ly, cần được đạt đến qua sự xuất ly, cần được chứng ngộ qua sự xuất ly, làm sao vương tử Jayasena, trong khi đang sống giữa các dục lạc, đang hưởng thụ các dục lạc, đang bị các tầm về dục gặm nhấm, đang bị thiêu đốt bởi cơn sốt của dục, đang nỗ lực tìm kiếm các dục, lại có thể biết được, hay thấy được, hay chứng ngộ được điều ấy?’ – Điều này không thể xảy ra.
Seyyathāpissu, aggivessana, dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā sudantā suvinītā, dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā adantā avinītā. Taṁ kiṁ maññasi, aggivessana, ye te dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā sudantā suvinītā, api nu te dantāva dantakāraṇaṁ gaccheyyuṁ, dantāva dantabhūmiṁ sampāpuṇeyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Ye pana te dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā adantā avinītā, api nu te adantāva dantakāraṇaṁ gaccheyyuṁ, adantāva dantabhūmiṁ sampāpuṇeyyuṁ, seyyathāpi te dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā sudantā suvinītā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, aggivessana, ‘yaṁ taṁ nekkhammena ñātabbaṁ nekkhammena daṭṭhabbaṁ nekkhammena pattabbaṁ nekkhammena sacchikātabbaṁ taṁ vata jayaseno rājakumāro kāmamajjhe vasanto kāme paribhuñjanto kāmavitakkehi khajjamāno kāmapariḷāhena pariḍayhamāno kāmapariyesanāya ussuko ñassati vā dakkhati vā sacchi vā karissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Suppose there was a pair of elephants or horse or oxen in training who were well tamed and well trained. And there was a pair who were not tamed or trained. What do you think, Aggivessana? Wouldn’t the pair that was well tamed and well trained perform the tasks of the tamed and reach the level of the tamed?”
“Yes, sir.”
“But would the pair that was not tamed and trained perform the tasks of the tamed and reach the level of the tamed, just like the tamed pair?”
“No, sir.”
“In the same way, Prince Jayasena dwells in the midst of sensual pleasures, enjoying them, consumed by thoughts of them, burning with fever for them, and eagerly seeking more. It’s simply impossible for him to know or see or realize what can only be known, seen, and realized by renunciation.
215. ‘Ví như, này Aggivessana, có hai con voi cần được huấn luyện, hoặc hai con ngựa cần được huấn luyện, hoặc hai con bò cần được huấn luyện, đã được điều phục tốt, đã được huấn luyện tốt; và có hai con voi cần được huấn luyện, hoặc hai con ngựa cần được huấn luyện, hoặc hai con bò cần được huấn luyện, chưa được điều phục, chưa được huấn luyện. Này Aggivessana, ngươi nghĩ thế nào? Hai con voi, hoặc hai con ngựa, hoặc hai con bò đã được điều phục tốt, đã được huấn luyện tốt kia, có phải chúng, vì đã được điều phục, nên sẽ đi đến hành vi của loài đã được điều phục, vì đã được điều phục, nên sẽ đạt đến cảnh giới của loài đã được điều phục không?’ ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn’. ‘Còn hai con voi, hoặc hai con ngựa, hoặc hai con bò chưa được điều phục, chưa được huấn luyện kia, có phải chúng, vì chưa được điều phục, nên sẽ đi đến hành vi của loài đã được điều phục, vì chưa được điều phục, nên sẽ đạt đến cảnh giới của loài đã được điều phục, giống như hai con voi, hoặc hai con ngựa, hoặc hai con bò đã được điều phục tốt, đã được huấn luyện tốt kia không?’ ‘Bạch Thế Tôn, điều này không thể được’. ‘Cũng vậy, này Aggivessana, điều mà cần được biết đến qua sự xuất ly, cần được thấy qua sự xuất ly, cần được đạt đến qua sự xuất ly, cần được chứng ngộ qua sự xuất ly, làm sao vương tử Jayasena, trong khi đang sống giữa các dục lạc, đang hưởng thụ các dục lạc, đang bị các tầm về dục gặm nhấm, đang bị thiêu đốt bởi cơn sốt của dục, đang nỗ lực tìm kiếm các dục, lại có thể biết được, hay thấy được, hay chứng ngộ được điều ấy?’ – Điều này không thể xảy ra.
Seyyathāpi, aggivessana, gāmassa vā nigamassa vā avidūre mahāpabbato. Tamenaṁ dve sahāyakā tamhā gāmā vā nigamā vā nikkhamitvā hatthavilaṅghakena yena so pabbato tenupasaṅkameyyuṁ; upasaṅkamitvā eko sahāyako heṭṭhā pabbatapāde tiṭṭheyya, eko sahāyako uparipabbataṁ āroheyya. Tamenaṁ heṭṭhā pabbatapāde ṭhito sahāyako uparipabbate ṭhitaṁ sahāyakaṁ evaṁ vadeyya: ‘yaṁ, samma, kiṁ tvaṁ passasi uparipabbate ṭhito’ti? So evaṁ vadeyya: ‘passāmi kho ahaṁ, samma, uparipabbate ṭhito ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti.
Suppose there was a big mountain not far from a town or village. And two friends set out from that village or town, lending each other a hand up to the mountain. Once there, one friend would remain at the foot of the mountain, while the other would climb to the peak. The one standing at the foot would say to the one at the peak, ‘My dear, what do you see, standing there at the peak?’ They’d reply, ‘Standing at the peak, I see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds!’
216. ‘Ví như, này Aggivessana, không xa một ngôi làng hay một thị trấn, có một ngọn núi lớn. Hai người bạn từ ngôi làng hay thị trấn ấy đi ra, tay trong tay, đi đến ngọn núi ấy; sau khi đến, một người bạn đứng ở dưới chân núi, một người bạn leo lên đỉnh núi. Người bạn đứng ở dưới chân núi nói với người bạn đang đứng trên đỉnh núi như sau: ‘Này bạn, bạn đang đứng trên đỉnh núi thấy gì?’. Người kia trả lời như sau: ‘Này bạn, tôi đang đứng trên đỉnh núi, quả thật tôi thấy những khu vườn khả ái, những khu rừng khả ái, những vùng đất khả ái, và những hồ sen khả ái’.
So evaṁ vadeyya: ‘aṭṭhānaṁ kho etaṁ, samma, anavakāso yaṁ tvaṁ uparipabbate ṭhito passeyyāsi ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti. Tamenaṁ uparipabbate ṭhito sahāyako heṭṭhimapabbatapādaṁ orohitvā taṁ sahāyakaṁ bāhāyaṁ gahetvā uparipabbataṁ āropetvā muhuttaṁ assāsetvā evaṁ vadeyya: ‘yaṁ, samma, kiṁ tvaṁ passasi uparipabbate ṭhito’ti? So evaṁ vadeyya: ‘passāmi kho ahaṁ, samma, uparipabbate ṭhito ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti.
But the other would say, ‘It’s impossible, it cannot happen that, standing at the peak, you can see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds.’ So their friend would come down from the peak, take their friend by the arm, and make them climb to the peak. After giving them a while to catch their breath, they’d say, ‘My dear, what do you see, standing here at the peak?’ They’d reply, ‘Standing at the peak, I see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds!’
“Người ấy nên nói như vầy: ‘Này bạn, thật là điều không thể, không có cơ hội, việc bạn đang đứng trên đỉnh núi mà có thể thấy được khu vườn khả ái, khu rừng khả ái, vùng đất khả ái, hồ nước khả ái.’ Rồi người bạn đang đứng trên đỉnh núi ấy, sau khi đi xuống chân núi, nắm lấy cánh tay của người bạn kia, đưa lên đỉnh núi, để cho nghỉ một lát, rồi nên nói như vầy: ‘Này bạn, đang đứng trên đỉnh núi, bạn thấy gì vậy?’ Người kia nên nói như vầy: ‘Này bạn, tôi đang đứng trên đỉnh núi, thật sự thấy được khu vườn khả ái, khu rừng khả ái, vùng đất khả ái, hồ nước khả ái.’”
So evaṁ vadeyya: ‘idāneva kho te, samma, bhāsitaṁ—mayaṁ evaṁ ājānāma—aṭṭhānaṁ kho etaṁ samma, anavakāso yaṁ tvaṁ uparipabbate ṭhito passeyyāsi ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti. Idāneva ca pana te bhāsitaṁ mayaṁ evaṁ ājānāma: ‘passāmi kho ahaṁ, samma, uparipabbate ṭhito ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇīrāmaṇeyyakan’ti. So evaṁ vadeyya: ‘tathā hi panāhaṁ, samma, iminā mahatā pabbatena āvuto daṭṭheyyaṁ nāddasan’ti.
They’d say, ‘Just now I understood you to say: “It’s impossible, it cannot happen that, standing at the peak, you can see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds.” But now you say: “Standing at the peak, I see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds!”’ They’d say, ‘But my dear, it was because I was obstructed by this big mountain that I didn’t see what could be seen.’
“Người ấy nên nói như vầy: ‘Này bạn, chính ngay bây giờ bạn đã nói – và chúng tôi biết như vậy – rằng: “Thật là điều không thể, không có cơ hội, việc bạn đang đứng trên đỉnh núi mà có thể thấy được khu vườn khả ái, khu rừng khả ái, vùng đất khả ái, hồ nước khả ái.” Và cũng chính ngay bây giờ bạn đã nói – và chúng tôi biết như vậy – rằng: “Này bạn, tôi đang đứng trên đỉnh núi, thật sự thấy được khu vườn khả ái, khu rừng khả ái, vùng đất khả ái, hồ nước khả ái.”’ Người kia nên nói như vầy: ‘Này bạn, quả thật là như vậy, vì bị ngọn núi lớn này che khuất nên tôi đã không thấy được những gì đáng lẽ phải thấy.’”
Ato mahantatarena, aggivessana, ‘avijjākhandhena jayaseno rājakumāro āvuto nivuto ophuṭo pariyonaddho. So vata yaṁ taṁ nekkhammena ñātabbaṁ nekkhammena daṭṭhabbaṁ nekkhammena pattabbaṁ nekkhammena sacchikātabbaṁ taṁ vata jayaseno rājakumāro kāmamajjhe vasanto kāme paribhuñjanto kāmavitakkehi khajjamāno kāmapariḷāhena pariḍayhamāno kāmapariyesanāya ussuko ñassati vā dakkhati vā sacchi vā karissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Sace kho taṁ, aggivessana, jayasenassa rājakumārassa imā dve upamā paṭibhāyeyyuṁ, anacchariyaṁ te jayaseno rājakumāro pasīdeyya, pasanno ca te pasannākāraṁ kareyyā”ti.
“Kuto pana maṁ, bhante, jayasenassa rājakumārassa imā dve upamā paṭibhāyissanti anacchariyā pubbe assutapubbā, seyyathāpi bhagavantan”ti?
But bigger than that is the mass of ignorance by which Prince Jayasena is obstructed, hindered, engulfed, and enveloped. Prince Jayasena dwells in the midst of sensual pleasures, enjoying them, consumed by thoughts of them, burning with fever for them, and eagerly seeking more. It is quite impossible for him to know or see or realize what can only be known, seen, and realized by renunciation. It would be no wonder if, had these two similes occurred to you, Prince Jayasena would have gained confidence in you and shown his confidence.”
“But sir, how could these two similes have occurred to me as they did to the Buddha, since they were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past?”
“Này Aggivessana, vương tử Jayasena bị che đậy, bị ngăn che, bị bao phủ, bị trói buộc bởi khối vô minh còn to lớn hơn thế nữa. Việc vương tử Jayasena ấy, trong khi đang sống giữa các dục, hưởng thụ các dục, bị các tầm về dục gặm nhấm, bị thiêu đốt bởi nhiệt não của dục, nỗ lực tìm kiếm các dục, mà lại có thể biết được, thấy được, hay chứng ngộ được điều mà đáng lẽ phải được biết bởi sự xuất ly, được thấy bởi sự xuất ly, được đạt đến bởi sự xuất ly, được chứng ngộ bởi sự xuất ly — điều này không thể xảy ra. Này Aggivessana, nếu hai ví dụ này có thể khởi lên trong tâm vương tử Jayasena, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi vương tử Jayasena sẽ có tín tâm nơi ngươi, và khi có tín tâm, sẽ thể hiện thái độ tín tâm đối với ngươi.’ ‘Bạch Thế Tôn, nhưng làm sao hai ví dụ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây này, lại có thể khởi lên trong con, giống như chúng đã khởi lên nơi Thế Tôn vậy?’”
“Seyyathāpi, aggivessana, rājā khattiyo muddhāvasitto nāgavanikaṁ āmanteti: ‘ehi tvaṁ, samma nāgavanika, rañño nāgaṁ abhiruhitvā nāgavanaṁ pavisitvā āraññakaṁ nāgaṁ atipassitvā rañño nāgassa gīvāyaṁ upanibandhāhī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, aggivessana, nāgavaniko rañño khattiyassa muddhāvasittassa paṭissutvā rañño nāgaṁ abhiruhitvā nāgavanaṁ pavisitvā āraññakaṁ nāgaṁ atipassitvā rañño nāgassa gīvāyaṁ upanibandhati. Tamenaṁ rañño nāgo abbhokāsaṁ nīharati. Ettāvatā kho, aggivessana, āraññako nāgo abbhokāsaṁ gato hoti. Etthagedhā hi, aggivessana, āraññakā nāgā yadidaṁ—nāgavanaṁ. Tamenaṁ nāgavaniko rañño khattiyassa muddhāvasittassa ārocesi: ‘abbhokāsagato kho, deva, āraññako nāgo’ti. Atha kho aggivessana, tamenaṁ rājā khattiyo muddhāvasitto hatthidamakaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, samma hatthidamaka, āraññakaṁ nāgaṁ damayāhi āraññakānañceva sīlānaṁ abhinimmadanāya āraññakānañceva sarasaṅkappānaṁ abhinimmadanāya āraññakānañceva darathakilamathapariḷāhānaṁ abhinimmadanāya gāmante abhiramāpanāya manussakantesu sīlesu samādapanāyā’ti.
“Suppose, Aggivessana, an anointed aristocratic king was to address his elephant tracker, ‘Please, my good elephant tracker, mount the royal bull elephant and enter the elephant wood. When you see a wild bull elephant, tether it by the neck to the royal elephant.’ ‘Yes, Your Majesty,’ replied the elephant tracker, and did as he was asked. The royal elephant leads the wild elephant out into the open; and it’s only then that it comes out into the open, for a wild bull elephant clings to the elephant wood. The elephant tracker informs the king, ‘Your Majesty, the wild elephant has come out into the open.’ Then the king addresses his elephant trainer, ‘Please, dear elephant trainer, tame the wild bull elephant. Subdue its wild behaviors, its wild memories and thoughts, and its wild stress, weariness, and fever. Make it happy to be within a village, and instill behaviors congenial to humans.’
217. “Này Aggivessana, ví như một vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã được làm lễ quán đảnh, gọi người bắt voi rằng: ‘Này người bắt voi, hãy đến đây. Ngươi hãy cưỡi con voi của vua, đi vào rừng voi, sau khi thấy một con voi rừng, hãy buộc nó vào cổ con voi của vua.’ ‘Tâu Thiên tử, vâng ạ.’ Này Aggivessana, người bắt voi ấy vâng lời vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã được làm lễ quán đảnh, rồi cưỡi con voi của vua, đi vào rừng voi, sau khi thấy một con voi rừng, liền buộc nó vào cổ con voi của vua. Con voi của vua dẫn con voi rừng ấy ra ngoài trời quang. Này Aggivessana, chỉ với chừng ấy, con voi rừng được xem là đã ra đến trời quang. Vì này Aggivessana, các con voi rừng tham luyến nơi này, tức là rừng voi. Người bắt voi ấy tâu lên vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã được làm lễ quán đảnh, rằng: ‘Tâu Thiên tử, con voi rừng đã ra đến trời quang rồi ạ.’ Bấy giờ, này Aggivessana, vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã được làm lễ quán đảnh, gọi người luyện voi rằng: ‘Này người luyện voi, hãy đến đây. Ngươi hãy huấn luyện con voi rừng để loại bỏ các tập tính của rừng rú, để loại bỏ các ý định và suy nghĩ của rừng rú, để loại bỏ sự phiền muộn, mệt mỏi, và nóng nảy của rừng rú, để làm cho nó thích thú ở gần làng, và để làm cho nó chấp nhận các tập tính được con người ưa thích.’”
‘Evaṁ, devā’ti kho, aggivessana, hatthidamako rañño khattiyassa muddhāvasittassa paṭissutvā mahantaṁ thambhaṁ pathaviyaṁ nikhaṇitvā āraññakassa nāgassa gīvāyaṁ upanibandhati āraññakānañceva sīlānaṁ abhinimmadanāya āraññakānañceva sarasaṅkappānaṁ abhinimmadanāya āraññakānañceva darathakilamathapariḷāhānaṁ abhinimmadanāya gāmante abhiramāpanāya manussakantesu sīlesu samādapanāya. Tamenaṁ hatthidamako yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpāhi vācāhi samudācarati. Yato kho, aggivessana, āraññako nāgo hatthidamakassa yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpāhi vācāhi samudācariyamāno sussūsati, sotaṁ odahati, aññā cittaṁ upaṭṭhāpeti; tamenaṁ hatthidamako uttari tiṇaghāsodakaṁ anuppavecchati.
Yato kho, aggivessana, āraññako nāgo hatthidamakassa tiṇaghāsodakaṁ paṭiggaṇhāti, tatra hatthidamakassa evaṁ hoti:
‘Yes, Your Majesty,’ replied the elephant trainer. He dug a large post into the earth and tethered the elephant to it by the neck, so as to subdue its wild behaviors, its wild memories and thoughts, and its wild stress, weariness, and fever, and to make it happy to be within a village, and instill behaviors congenial to humans. He spoke in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people. Spoken to in such a way by the elephant trainer, the wild elephant wanted to listen. It actively listened and tried to understand. So the elephant trainer rewards it with grass, fodder, and water.
When the wild elephant accepts the grass, fodder, and water, the trainer knows,
“‘Tâu Thiên tử, vâng ạ.’ Này Aggivessana, người luyện voi ấy vâng lời vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã được làm lễ quán đảnh, rồi chôn một cây cọc lớn xuống đất và buộc con voi rừng vào cổ nó, để loại bỏ các tập tính của rừng rú, để loại bỏ các ý định và suy nghĩ của rừng rú, để loại bỏ sự phiền muộn, mệt mỏi, và nóng nảy của rừng rú, để làm cho nó thích thú ở gần làng, và để làm cho nó chấp nhận các tập tính được con người ưa thích. Người luyện voi nói với nó bằng những lời nói không lỗi lầm, êm tai, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, làm vui lòng nhiều người. Này Aggivessana, khi con voi rừng, được người luyện voi nói với bằng những lời như vậy, nó muốn lắng nghe, nó lắng tai nghe, nó hướng tâm đến việc hiểu biết; bấy giờ người luyện voi cung cấp thêm cỏ, thức ăn và nước cho nó.”
Yato kho, aggivessana, āraññako nāgo hatthidamakassa uṭṭhānanisajjāya vacanakaro hoti ovādappaṭikaro, tamenaṁ hatthidamako uttari āneñjaṁ nāma kāraṇaṁ kāreti, mahantassa phalakaṁ soṇḍāya upanibandhati, tomarahattho ca puriso uparigīvāya nisinno hoti, samantato ca tomarahatthā purisā parivāretvā ṭhitā honti, hatthidamako ca dīghatomarayaṭṭhiṁ gahetvā purato ṭhito hoti. So āneñjaṁ kāraṇaṁ kāriyamāno neva purime pāde copeti na pacchime pāde copeti, na purimakāyaṁ copeti na pacchimakāyaṁ copeti, na sīsaṁ copeti, na kaṇṇe copeti, na dante copeti, na naṅguṭṭhaṁ copeti, na soṇḍaṁ copeti. So hoti āraññako nāgo khamo sattippahārānaṁ asippahārānaṁ usuppahārānaṁ sarapattappahārānaṁ bheripaṇavavaṁsasaṅkhaḍiṇḍimaninnādasaddānaṁ sabbavaṅkadosanihitaninnītakasāvo rājāraho rājabhoggo rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
When the wild elephant stands and sits when the trainer says, following instructions, the trainer sets the task called imperturbability. He fastens a large plank to its trunk; a lancer sits on its neck; other lancers surround it on all sides; and the trainer himself stands in front with a long lance. While practicing this task, it doesn’t budge its fore-feet or hind-feet, its fore-quarters or hind-quarters, its head, ears, tusks, tail, or trunk. The wild bull elephant endures being struck by spears, swords, arrows, and axes; it endures the thunder of the drums, kettledrums, pipes, horns, and tom-toms. Rid of all crooks and flaws, and purged of defects, it is worthy of a king, fit to serve a king, and reckoned a factor of kingship.
Này Aggivessana, khi nào con voi rừng chấp nhận cỏ, thức ăn, và nước từ người luyện voi, lúc ấy người luyện voi nghĩ rằng: 'Bây giờ con voi rừng này sẽ sống sót'. Người luyện voi liền dạy nó thêm một bài học nữa: 'Này bạn, hãy lấy lên! Này bạn, hãy đặt xuống!'. Này Aggivessana, khi nào con voi rừng vâng lời, tuân theo lời chỉ dạy của người luyện voi trong việc lấy lên và đặt xuống, người luyện voi liền dạy nó thêm một bài học nữa: 'Này bạn, hãy tiến tới! Này bạn, hãy lùi lại!'. Này Aggivessana, khi nào con voi rừng vâng lời, tuân theo lời chỉ dạy của người luyện voi trong việc tiến tới và lùi lại, người luyện voi liền dạy nó thêm một bài học nữa: 'Này bạn, hãy đứng dậy! Này bạn, hãy ngồi xuống!'. Này Aggivessana, khi nào con voi rừng vâng lời, tuân theo lời chỉ dạy của người luyện voi trong việc đứng dậy và ngồi xuống, người luyện voi liền dạy nó một bài học cao hơn gọi là sự bất động. Người ấy buộc một tấm ván lớn vào vòi nó, một người đàn ông tay cầm cây thương ngồi trên cổ nó, và những người đàn ông tay cầm cây thương đứng vây quanh. Còn người luyện voi thì cầm một cây thương cán dài đứng ở phía trước. Khi được dạy bài học về sự bất động, nó không cựa quậy chân trước, không cựa quậy chân sau, không cựa quậy thân trước, không cựa quậy thân sau, không cựa quậy đầu, không cựa quậy tai, không cựa quậy ngà, không cựa quậy đuôi, không cựa quậy vòi. Con voi rừng ấy trở nên chịu đựng được những cú đâm của giáo, những cú chém của gươm, những mũi tên bắn, những mũi lao phóng; chịu đựng được âm thanh của trống lớn, trống nhỏ, sáo, tù và, và trống con. Nó đã từ bỏ mọi sự quanh co, lỗi lầm, uế nhiễm, trở nên xứng đáng với vua, là vật sở hữu của vua, và được xem như là một phần của nhà vua.
Evameva kho, aggivessana, idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
In the same way, Aggivessana, a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He realizes with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
218. Cũng vậy, này Aggivessana, ở đời này, một vị Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ và liễu tri thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, đã tuyên thuyết điều đó. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh ra trong một gia tộc nào khác, nghe được giáo pháp ấy. Sau khi nghe giáo pháp ấy, người ấy có được niềm tin nơi Như Lai. Với niềm tin đã có được, người ấy suy xét như sau: 'Đời sống tại gia thật chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia như khoảng trời rộng mở. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, trắng ngần như vỏ ốc đã được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình'.
So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Ettāvatā kho, aggivessana, ariyasāvako abbhokāsagato hoti. Etthagedhā hi, aggivessana, devamanussā yadidaṁ—pañca kāmaguṇā.
Tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, sīlavā hohi, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharāhi ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhassu sikkhāpadesū’ti.
After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. And it’s only then that a noble disciple comes out into the open, for gods and humans cling to the five kinds of sensual stimulation.
The Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, be ethical and restrained in the monastic code, conducting yourself well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you’ve undertaken.’
Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản, dù ít hay nhiều; từ bỏ quyến thuộc, dù ít hay nhiều; cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Aggivessana, đến mức độ này, vị Thánh đệ tử được xem là đã ra đến khoảng trời rộng mở. Này Aggivessana, ở đây, chư thiên và loài người bị tham đắm, đó là năm dục trưởng dưỡng. Vị Như Lai huấn luyện vị ấy thêm nữa: 'Này Tỳ khưu, hãy đến đây, thầy hãy có giới hạnh, hãy sống được chế ngự bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, hãy chấp nhận và tu học trong các học giới'.
Yato kho, aggivessana, ariyasāvako sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, indriyesu guttadvāro hohi, cakkhunā rūpaṁ disvā mā nimittaggāhī …pe…
(yathā gaṇakamoggallānasuttante, evaṁ vitthāretabbāni.)
When they have ethical conduct, the Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, guard your sense doors. When you see a sight with your eyes, don’t get caught up in the features and details. …
(Tell in full as in MN 107, the Discourse with Moggallāna the Accountant.)
Này Aggivessana, khi nào vị Thánh đệ tử có giới hạnh, sống được chế ngự bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, và chấp nhận tu học trong các học giới, lúc ấy vị Như Lai huấn luyện vị ấy thêm nữa: 'Này Tỳ khưu, hãy đến đây, thầy hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc, chớ nắm giữ tướng chung... (nên được hiểu rộng ra như trong kinh Gaṇakamoggallāna)'.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu …pe… citte … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Seyyathāpi, aggivessana, hatthidamako mahantaṁ thambhaṁ pathaviyaṁ nikhaṇitvā āraññakassa nāgassa gīvāyaṁ upanibandhati āraññakānañceva sīlānaṁ abhinimmadanāya āraññakānañceva sarasaṅkappānaṁ abhinimmadanāya āraññakānañceva darathakilamathapariḷāhānaṁ abhinimmadanāya gāmante abhiramāpanāya manussakantesu sīlesu samādapanāya; evameva kho, aggivessana, ariyasāvakassa ime cattāro satipaṭṭhānā cetaso upanibandhanā honti gehasitānañceva sīlānaṁ abhinimmadanāya gehasitānañceva sarasaṅkappānaṁ abhinimmadanāya gehasitānañceva darathakilamathapariḷāhānaṁ abhinimmadanāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then they meditate observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. It’s like when the elephant trainer dug a large post into the earth and tethered the elephant to it by the neck, so as to subdue its wild behaviors, its wild memories and thoughts, and its wild stress, weariness, and fever, and to make it happy to be within a village, and instill behaviors congenial to humans. In the same way, a noble disciple has these four kinds of mindfulness meditation as tethers for the mind so as to subdue behaviors tied to domestic life, memories and thoughts tied to domestic life, stress, weariness, and fever tied to domestic life, to discover the system, and to realize extinguishment.
219. Vị ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm suy yếu trí tuệ, sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các thọ... tâm trên tâm... pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Aggivessana, ví như người luyện voi, sau khi đã chôn một cây cột lớn xuống đất, đã dùng nó để buộc vào cổ con voi rừng, nhằm để chế ngự các tập tính rừng rú của nó, nhằm để chế ngự các tư duy và ý định rừng rú của nó, nhằm để chế ngự sự phiền muộn, mệt mỏi, và nóng nảy rừng rú của nó, nhằm để làm cho nó thích thú với xóm làng, nhằm để làm cho nó quen với các tập tính được loài người ưa thích. Này Aggivessana, cũng vậy, đối với vị Thánh đệ tử, bốn niệm xứ này là những sự cột buộc của tâm, nhằm để chế ngự các tập tính tại gia, nhằm để chế ngự các tư duy và ý định tại gia, nhằm để chế ngự sự phiền muộn, mệt mỏi, và nóng nảy tại gia, nhằm để chứng đạt chánh đạo, nhằm để chứng ngộ Niết-bàn.
Tamenaṁ tathāgato uttariṁ vineti: ‘ehi tvaṁ, bhikkhu, kāye kāyānupassī viharāhi, mā ca kāmūpasaṁhitaṁ vitakkaṁ vitakkesi. Vedanāsu … citte … dhammesu dhammānupassī viharāhi, mā ca kāmūpasaṁhitaṁ vitakkaṁ vitakkesī’ti.
The Realized One guides them further: ‘Come, mendicant, meditate observing an aspect of the body, but don’t think thoughts connected with sensual pleasures. Meditate observing an aspect of feelings … mind … principles, but don’t think thoughts connected with sensual pleasures.’
220. Như Lai huấn luyện vị ấy thêm nữa: ‘Này Tỳ khưu, hãy đến, hãy sống quán thân trên thân, và chớ có khởi lên tư duy nào liên hệ đến dục. ... hãy sống quán pháp trên các pháp, và chớ có khởi lên tư duy nào liên hệ đến dục.’”
So vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
Vị ấy, do làm cho lắng dịu tầm và tứ, với nội tâm tĩnh lặng, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ lạc do định sanh, vị ấy đạt được và an trú vào thiền thứ hai... thiền thứ ba... thiền thứ tư. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, nghĩa là: một đời, hai đời... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và chi tiết của chúng.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
221. Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến thiên nhãn minh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết đi và sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh... vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận minh. Vị ấy biết như thật: ‘Đây là khổ,’ biết như thật: ‘Đây là khổ tập,’ biết như thật: ‘Đây là khổ diệt,’ biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Vị ấy biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc,’ biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc,’ biết như thật: ‘Đây là sự diệt tận của các lậu hoặc,’ biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của các lậu hoặc.’ Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Khi đã được giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’”
So hoti bhikkhu khamo sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti sabbarāgadosamohanihitaninnītakasāvo āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Such a mendicant endures cold, heat, hunger, and thirst; the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; rude and unwelcome criticism; and puts up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. Rid of all greed, hate, and delusion, and purged of defects, they are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and are the supreme field of merit for the world.
Vị Tỳ khưu ấy là người có thể chịu đựng được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; có thể chịu đựng được những lời nói ác độc, khó nghe; là người có bản tánh kham nhẫn đối với các cảm thọ khổ đau, mãnh liệt, gay gắt, nhức nhối, khó chịu, không vừa ý, chết người khởi lên nơi thân. Vị ấy là người đã loại bỏ, đã trừ tuyệt mọi tham, sân, si; là người đáng được cúng dường, đáng được tiếp đãi, đáng được bố thí, đáng được chắp tay cung kính, là ruộng phước vô thượng của thế gian.
Mahallako cepi, aggivessana, rañño nāgo adanto avinīto kālaṁ karoti, ‘adantamaraṇaṁ mahallako rañño nāgo kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati; majjhimo cepi, aggivessana, rañño nāgo. Daharo cepi, aggivessana, rañño nāgo adanto avinīto kālaṁ karoti, ‘adantamaraṇaṁ daharo rañño nāgo kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati; evameva kho, aggivessana, thero cepi bhikkhu akhīṇāsavo kālaṁ karoti, ‘adantamaraṇaṁ thero bhikkhu kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati; majjhimo cepi, aggivessana, bhikkhu. Navo cepi, aggivessana, bhikkhu akhīṇāsavo kālaṁ karoti, ‘adantamaraṇaṁ navo bhikkhu kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati.
If a royal bull elephant—whether elderly, middle aged, or youthful—passes away untamed and untrained, they’re reckoned a royal bull elephant who passed away untamed. In the same way, if a mendicant—whether senior, middle, or junior—passes away without having ended the defilements, they’re reckoned a mendicant who passed away untamed.
222. Này Aggivessana, nếu con voi già của nhà vua chết đi trong khi chưa được điều phục, chưa được huấn luyện, thì nó được xem là ‘con voi già của nhà vua đã chết một cái chết của kẻ chưa được điều phục.’ Này Aggivessana, nếu con voi trung niên của nhà vua... Này Aggivessana, nếu con voi non của nhà vua chết đi trong khi chưa được điều phục, chưa được huấn luyện, thì nó được xem là ‘con voi non của nhà vua đã chết một cái chết của kẻ chưa được điều phục.’ Này Aggivessana, cũng vậy, nếu một vị Tỳ khưu trưởng lão mệnh chung trong khi các lậu hoặc chưa được tận trừ, thì vị ấy được xem là ‘vị Tỳ khưu trưởng lão đã chết một cái chết của kẻ chưa được điều phục.’ Này Aggivessana, nếu một vị Tỳ khưu trung niên... Này Aggivessana, nếu một vị Tỳ khưu tân học mệnh chung trong khi các lậu hoặc chưa được tận trừ, thì vị ấy được xem là ‘vị Tỳ khưu tân học đã chết một cái chết của kẻ chưa được điều phục.’”
Mahallako cepi, aggivessana, rañño nāgo sudanto suvinīto kālaṁ karoti, ‘dantamaraṇaṁ mahallako rañño nāgo kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati; majjhimo cepi, aggivessana, rañño nāgo … daharo cepi, aggivessana, rañño nāgo sudanto suvinīto kālaṁ karoti, ‘dantamaraṇaṁ daharo rañño nāgo kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati; evameva kho, aggivessana, thero cepi bhikkhu khīṇāsavo kālaṁ karoti, ‘dantamaraṇaṁ thero bhikkhu kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati; majjhimo cepi, aggivessana, bhikkhu. Navo cepi, aggivessana, bhikkhu khīṇāsavo kālaṁ karoti, ‘dantamaraṇaṁ navo bhikkhu kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchatī”ti.
If a royal bull elephant—whether elderly, middle aged, or youthful—passes away tamed and trained, they’re reckoned a royal bull elephant who passed away tamed. In the same way, if a mendicant—whether senior, middle, or junior—passes away having ended the defilements, they’re reckoned a mendicant who passed away tamed.”
“Này Aggivessana, nếu con voi lớn của đức vua, được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, có mệnh chung, nó được xem là: ‘Con voi lớn của đức vua đã mệnh chung với cái chết của loài đã được điều phục.’ Này Aggivessana, nếu con voi trung bình của đức vua… Này Aggivessana, nếu con voi nhỏ của đức vua, được khéo điều phục, được khéo huấn luyện, có mệnh chung, nó được xem là: ‘Con voi nhỏ của đức vua đã mệnh chung với cái chết của loài đã được điều phục.’ Cũng vậy, này Aggivessana, nếu vị tỳ khưu trưởng lão đã tận trừ các lậu hoặc có mệnh chung, vị ấy được xem là: ‘Vị tỳ khưu trưởng lão đã mệnh chung với cái chết của bậc đã được điều phục.’ Này Aggivessana, nếu vị tỳ khưu trung bình... Này Aggivessana, nếu vị tỳ khưu mới tu đã tận trừ các lậu hoặc có mệnh chung, vị ấy được xem là: ‘Vị tỳ khưu mới tu đã mệnh chung với cái chết của bậc đã được điều phục.’”
Idamavoca bhagavā. Attamano aciravato samaṇuddeso bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the novice Aciravata approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Sa-di Aciravata, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Dantabhūmisuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Dantabhūmi, kinh thứ năm, đã kết thúc.