- Majjhima Nikāya 119
Kāyagatāsatisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kāyagatāsatisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một số đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng
SC 2—Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! Thân hành niệm, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố.
SC 3Và câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo ấy đã bị gián đoạn.
SC 4Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo
SC 5—Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hiện nay đang ngồi bàn vấn đề gì? Câu chuyện gì của các Ông bị gián đoạn?
SC 6—Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! Thân hành niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức lớn, đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố”. Bạch Thế Tôn, câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong thời Thế Tôn đến.
SC 7—Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn?
SC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”. An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, biết rằng: “Tôi đi”. Hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”. Hay ngồi, biết rằng: “Tôi ngồi”. Hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo tăng-già-lê (sanghati), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
SC 11Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: ‘Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”.
SC 13Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.
SC 15Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 17Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 18Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 19Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 20Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 21Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 22Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 23Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 24Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 25Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 26Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn là xương thối trở thành bột; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
SC 27Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 28Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm và tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 29Này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm; sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 30Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 31Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
SC 32Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
SC 33Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 34Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và an trú Thiền thứ ba. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
SC 35Này các Tỷ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
SC 36Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 37Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi, thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
SC 38Này các Tỷ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
SC 39Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
SC 40Này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm (antogadha) đều thuộc về minh phần (vijjabhagiya). Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn của ai được thấm nhuần bởi tâm, thời các con sông của vị ấy đi vào trong biển, đều thuộc về biển lớn; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm đều thuộc về minh phần.
SC 41Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, thời Ma vương có cơ hội với vị ấy, Ma vương có cơ duyên với vị ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người quăng một hòn đá nặng vào một đống đất sét ướt nhuyễn, này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Có phải hòn đá nặng ấy có cơ hội lún sâu vào đống đất sét ướt nhuyễn ấy?
SC 42—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 43—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma vương có cơ hội với vị ấy, Ma vương có cơ duyên với vị ấy.
SC 44Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây khô không có nhựa, có người đến cầm phần phía trên của đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho ngọn lửa sanh ra, tôi sẽ làm cho sức nóng hiện lên”. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy mang đến phần phía trên của đồ quay lửa, quay với cành cây khô không có nhựa ấy, người ấy có làm cho ngọn lửa sanh ra, có làm cho sức nóng hiện lên không?
SC 45—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 46—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma vương có cơ hội với người ấy, Ma vương có cơ duyên với người ấy.
SC 47Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước, trống rỗng, trống không, được đặt trên cái giá, có một người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ nước vào bình không?
SC 48—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 49—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma vương có cơ hội với vị ấy, Ma vương có cơ duyên với vị ấy.
SC 50Này các Tỷ-kheo, vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma vương không có cơ hội với vị ấy. Ma vương không có duyên với vị ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người quăng một trái banh dây nhẹ vào một cánh cửa làm hoàn toàn bằng lõi cây. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trái banh dây nhẹ ấy có cơ hội đối với cánh cửa làm hoàn toàn bằng lõi cây không?
SC 51—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 52—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma vương không có cơ hội đối với vị ấy, Ma vương không có cơ duyên đối với vị ấy.
SC 53Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây ướt có nhựa, rồi một người đi đến mang theo phần trên đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho lửa sinh ra, tôi sẽ làm cho hơi nóng hiện lên”. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy mang theo phần trên đồ quay lửa, quay với các cây ướt và có nhựa, có thể làm cho lửa sanh ra, làm cho hơi nóng hiện lên được không?
SC 54—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 55—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma vương không có cơ hội đối với vị ấy, Ma vương không có cơ duyên đối với vị ấy.
SC 56Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá, rồi có người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ được nước vào bình ấy không?
SC 57—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 58—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma vương không có cơ hộ đối với người ấy, Ma vương không có cơ duyên đối với người ấy.
SC 59Này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt đạt được sự tinh xảo của pháp ấy dầu thuộc giới xứ nào (sati sati ayatane). Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá và có người lực sĩ đến và lắc qua lắc lại cái bình ấy, như vậy nước có thể trào ra ngoài không?
SC 60—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 61—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo của pháp ấy dầu thuộc giới xứ nào.
SC 62Ví như có một hồ nước trên một miếng đất bằng, bốn phía có đê đắp làm cho vững chắc, và tràn đầy nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi có người lực sĩ đến và phá một khúc đê, nước có thể tràn ra ngoài không?
SC 63—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 64—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo của pháp ấy dầu thuộc giới xứ nào.
SC 65Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng tại chỗ ngã tư có một chiếc xe đậu, thắng với những con ngựa thuần thục, có roi ngựa đặt ngang sẵn sàng, có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ nào và như thế nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo của pháp ấy dầu thuộc giới xứ nào.
SC 66Này các Tỷ-kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như thành cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười công đức này có thể được mong đợi. Thế nào là mười?
SC 67(1) Lạc bất lạc được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; (2) khiếp đảm sợ hãi được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hãi không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hãi được khởi lên. (3) Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận. Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng. (4) Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, vị ấy chứng được bốn Thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú. (5) Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện một thân; hiện hình biến đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể, thân có thần thông bay cho đến Phạm thiên; (6) với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa hay ở gần. (7) Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loại người; tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham, biết tâm không tham; tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân, biết tâm không sân; tâm có si, biết tâm có si; tâm không si, biết tâm không si; tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn; tâm đại hành, biết tâm đại hành; tâm không đại hành, biết tâm không đại hành; tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng, biết tâm vô thượng; tâm Thiền định, biết tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết tâm không Thiền định; tâm giải thoát, biết tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát. (8) Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. (9) Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. (10) Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc.
SC 68Này các Tỷ-kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười công đức này có thể mong đợi.
SC 69Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 10–03–2005 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Niệm Thân
Atha kho sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantānaṁ upaṭṭhānasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
“acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso. Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā mahapphalā vuttā mahānisaṁsā”ti.
Ayañca hidaṁ tesaṁ bhikkhūnaṁ antarākathā vippakatā hoti, atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantānaṁ upaṭṭhānasālāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso. Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā mahapphalā vuttā mahānisaṁsā’ti. Ayaṁ kho no, bhante, antarākathā vippakatā, atha bhagavā anuppatto”ti.
Then after the meal, on return from almsround, several mendicants sat together in the assembly hall and this discussion came up among them.
“It’s incredible, reverends, it’s amazing, how the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha has said that mindfulness of the body, when developed and cultivated, is very fruitful and beneficial.”
But their conversation was left unfinished. Then the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
So the mendicants told him what they had been talking about. The Buddha said:
153. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, một số đông Tỳ khưu đang ngồi tụ họp tại hội trường, câu chuyện này đã khởi lên giữa họ: ‘Thật hy hữu, chư hiền! Thật vi diệu, chư hiền! Niệm thân này, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đã được Đức Thế Tôn, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy tuyên bố là có quả lớn, có lợi ích lớn.’ Và câu chuyện này của các Tỳ khưu ấy vẫn còn dang dở. Bấy giờ, vào buổi chiều, Đức Thế Tôn từ nơi độc cư thiền định đứng dậy, đi đến hội trường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống rồi, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, hiện nay các ông đang ngồi bàn luận về câu chuyện gì? Và câu chuyện gì của các ông còn dang dở?’ ‘Bạch Thế Tôn, ở đây, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, trong khi chúng con đang ngồi tụ họp tại hội trường, câu chuyện này đã khởi lên giữa chúng con: ‘Thật hy hữu, chư hiền! Thật vi diệu, chư hiền! Niệm thân này, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đã được Đức Thế Tôn, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy tuyên bố là có quả lớn, có lợi ích lớn.’ Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện còn dang dở của chúng con, thì Đức Thế Tôn đến.’”
“Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, kāyagatāsati kathaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova passasati; dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti; rassaṁ vā assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāti, rassaṁ vā passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evaṁ, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
“And how, mendicants, is mindfulness of the body developed and cultivated to be very fruitful and beneficial?
It’s when a mendicant—gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut—sits down cross-legged, sets their body straight, and brings mindfulness to the present. Just mindful, they breathe in. Mindful, they breathe out. Breathing in heavily they know: ‘I’m breathing in heavily.’ Breathing out heavily they know: ‘I’m breathing out heavily.’ Breathing in lightly they know: ‘I’m breathing in lightly.’ Breathing out lightly they know: ‘I’m breathing out lightly.’ They practice like this: ‘I’ll breathe in experiencing the whole body.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out experiencing the whole body.’ They practice like this: ‘I’ll breathe in stilling the physical process.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out stilling the physical process.’ As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That’s how a mendicant develops mindfulness of the body.
154. “Này các Tỳ khưu, niệm thân được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi ngồi xuống, bắt chéo chân, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy thở vào có chánh niệm, thở ra có chánh niệm. Khi thở ra dài, vị ấy biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc khi thở vào dài, vị ấy biết: ‘Tôi thở vào dài.’ Khi thở ra ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’ Hoặc khi thở vào ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’ Vị ấy tập: ‘Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập: ‘Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ thở vào.’ Vị ấy tập: ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập: ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vào.’ Khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các tưởng và niệm liên quan đến thế tục được từ bỏ. Do từ bỏ chúng, tâm được an trú, lắng xuống, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti. Yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti tathā tathā naṁ pajānāti. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, when a mendicant is walking they know: ‘I am walking.’ When standing they know: ‘I am standing.’ When sitting they know: ‘I am sitting.’ And when lying down they know: ‘I am lying down.’ Whatever posture their body is in, they know it. As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu khi đi, biết: ‘Tôi đang đi’; hoặc khi đứng, biết: ‘Tôi đang đứng’; hoặc khi ngồi, biết: ‘Tôi đang ngồi’; hoặc khi nằm, biết: ‘Tôi đang nằm.’ Thân của vị ấy được an trí như thế nào, vị ấy biết nó như thế ấy. Khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các tưởng và niệm liên quan đến thế tục được từ bỏ. Do từ bỏ chúng, tâm được an trú, lắng xuống, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu cũng tu tập niệm thân như vậy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, a mendicant acts with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent. As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có sự tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui; có sự tỉnh giác khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh; có sự tỉnh giác khi co tay, khi duỗi tay; có sự tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát và y; có sự tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm; có sự tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; có sự tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các tưởng và niệm liên quan đến thế tục được từ bỏ. Do từ bỏ chúng, tâm được an trú, lắng xuống, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu cũng tu tập niệm thân như vậy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati:
Furthermore, a mendicant examines their own body, up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy dẫy các thứ bất tịnh: ‘Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng bao, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, thức ăn mới, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lỏng, nước miếng, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu’.
Seyyathāpi, bhikkhave, ubhatomukhā putoḷi pūrā nānāvihitassa dhaññassa, seyyathidaṁ—sālīnaṁ vīhīnaṁ muggānaṁ māsānaṁ tilānaṁ taṇḍulānaṁ, tamenaṁ cakkhumā puriso muñcitvā paccavekkheyya: ‘ime sālī ime vīhī ime muggā ime māsā ime tilā ime taṇḍulā’ti; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttan’ti. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
It’s as if there were a bag with openings at both ends, filled with various kinds of grains, such as fine rice, wheat, mung beans, peas, sesame, and ordinary rice. And a person with clear eyes were to open it and examine the contents: ‘These grains are fine rice, these are wheat, these are mung beans, these are peas, these are sesame, and these are ordinary rice.’ In the same way, a mendicant examines their own body, up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth. … As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Này các Tỳ khưu, ví như có một cái túi hai miệng, đựng đầy các loại ngũ cốc khác nhau, tức là: lúa Sāli, lúa Vīhi, đậu xanh, đậu đen, mè, gạo. Một người có mắt mở túi ra và quán xét: ‘Đây là lúa Sāli, đây là lúa Vīhi, đây là đậu xanh, đây là đậu đen, đây là mè, đây là gạo.’ Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy dẫy các thứ bất tịnh: ‘Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng bao, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, thức ăn mới, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lỏng, nước miếng, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.’ Khi vị ấy sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, những tầm tư liên hệ đến thế tục của vị ấy được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm được an trú, lắng đọng, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ yathāṭhitaṁ yathāpaṇihitaṁ dhātuso paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.
Furthermore, a mendicant examines their own body, whatever its placement or posture, according to the elements: ‘In this body there is the earth element, the water element, the fire element, and the air element.’
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, dù ở tư thế nào, dù được đặt để ra sao, theo các yếu tố: ‘Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại’.
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā catumahāpathe bilaso vibhajitvā nisinno assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ yathāṭhitaṁ yathāpaṇihitaṁ dhātuso paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
It’s as if a deft butcher or butcher’s apprentice were to kill a cow and sit down at the crossroads with the meat cut into chops. In the same way, a mendicant examines their own body, whatever its placement or posture, according to the elements: ‘In this body there is the earth element, the water element, the fire element, and the air element.’ As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Này các Tỳ khưu, ví như một người đồ tể giết bò lành nghề, hoặc đệ tử của người ấy, sau khi giết một con bò, chia thành từng phần rồi ngồi xuống tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, dù ở tư thế nào, dù được đặt để ra sao, theo các yếu tố: ‘Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.’ Khi vị ấy sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, những tầm tư liên hệ đến thế tục của vị ấy được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm được an trú, lắng đọng, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātaṁ. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, suppose a mendicant were to see a corpse discarded in a charnel ground. And it had been dead for one, two, or three days, bloated, livid, and festering. They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’ As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ví như vị Tỳ khưu thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chết một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, trương phồng lên, xanh xám lại, chảy mủ ra. Vị ấy so sánh với chính thân này rằng: ‘Thân này của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi tình trạng như vậy.’ Khi vị ấy sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, những tầm tư liên hệ đến thế tục của vị ấy được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm được an trú, lắng đọng, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ kākehi vā khajjamānaṁ kulalehi vā khajjamānaṁ gijjhehi vā khajjamānaṁ kaṅkehi vā khajjamānaṁ sunakhehi vā khajjamānaṁ byagghehi vā khajjamānaṁ dīpīhi vā khajjamānaṁ siṅgālehi vā khajjamānaṁ vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṁ. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti. Tassa evaṁ appamattassa …pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Or suppose they were to see a corpse discarded in a charnel ground being devoured by crows, hawks, vultures, herons, hounds, tigers, leopards, jackals, and many kinds of little creatures. They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’ That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ví như vị Tỳ khưu thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, đang bị quạ ăn, hoặc diều hâu ăn, hoặc kền kền ăn, hoặc diệc ăn, hoặc chó ăn, hoặc cọp ăn, hoặc báo ăn, hoặc chó rừng ăn, hoặc đang bị các loài sinh vật khác ăn. Vị ấy so sánh với chính thân này rằng: ‘Thân này của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi tình trạng như vậy.’ Khi vị ấy sống không dể duôi... vân vân... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ samaṁsalohitaṁ nhārusambandhaṁ …pe… aṭṭhikasaṅkhalikaṁ nimmaṁsalohitamakkhitaṁ nhārusambandhaṁ …pe… aṭṭhikasaṅkhalikaṁ apagatamaṁsalohitaṁ nhārusambandhaṁ …pe… aṭṭhikāni apagatasambandhāni disāvidisāvikkhittāni aññena hatthaṭṭhikaṁ aññena pādaṭṭhikaṁ aññena gopphakaṭṭhikaṁ aññena jaṅghaṭṭhikaṁ aññena ūruṭṭhikaṁ aññena kaṭiṭṭhikaṁ aññena phāsukaṭṭhikaṁ aññena piṭṭhiṭṭhikaṁ aññena khandhaṭṭhikaṁ aññena gīvaṭṭhikaṁ aññena hanukaṭṭhikaṁ aññena dantaṭṭhikaṁ aññena sīsakaṭāhaṁ. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti. Tassa evaṁ appamattassa …pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, suppose they were to see a corpse discarded in a charnel ground, a skeleton with flesh and blood, held together by sinews … A skeleton without flesh but smeared with blood, and held together by sinews … A skeleton rid of flesh and blood, held together by sinews … Bones rid of sinews scattered in every direction. Here a hand-bone, there a foot-bone, here an ankle bone, there a shin-bone, here a thigh-bone, there a hip-bone, here a rib-bone, there a back-bone, here an arm-bone, there a neck-bone, here a jaw-bone, there a tooth, here the skull. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ví như vị Tỳ khưu thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, (thấy) một bộ xương còn dính thịt và máu, được gân níu lại... vân vân... (thấy) một bộ xương không còn thịt, dính máu, được gân níu lại... vân vân... (thấy) một bộ xương không còn thịt và máu, được gân níu lại... vân vân... (thấy) những khúc xương rời rạc, văng tung tóe khắp nơi, một nơi là xương tay, một nơi là xương chân, một nơi là xương mắt cá, một nơi là xương ống chân, một nơi là xương đùi, một nơi là xương hông, một nơi là xương sườn, một nơi là xương sống, một nơi là xương vai, một nơi là xương cổ, một nơi là xương hàm, một nơi là răng, một nơi là xương sọ. Vị ấy so sánh với chính thân này rằng: ‘Thân này của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi tình trạng như vậy.’ Khi vị ấy sống không dể duôi... vân vân... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ—aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni …pe… aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni …pe… aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti. Tassa evaṁ appamattassa … pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
White bones, the color of shells … Decrepit bones, heaped in a pile … Bones rotted and crumbled to powder. They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’ As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to lay life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ví như vị Tỳ khưu thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa – (thấy) những khúc xương trắng, có màu như vỏ ốc xà cừ... vân vân... (thấy) những khúc xương chất thành đống, đã hơn một năm... vân vân... (thấy) những khúc xương đã mục nát, trở thành bột. Vị ấy so sánh với chính thân này rằng: ‘Thân này của ta cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi tình trạng như vậy.’ Khi vị ấy sống không dể duôi... vân vân... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya, sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena na ca pagghariṇī; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Tassa evaṁ appamattassa … pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion. It’s like when a deft bathroom attendant or their apprentice pours bath powder into a bronze dish, sprinkling it little by little with water. They knead it until the ball of bath powder is soaked and saturated with moisture, spread through inside and out; yet no moisture oozes out. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads their body with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion. As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to lay life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
155. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ly dục... (như trên)... chứng và trú thiền thứ nhất. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỳ khưu, ví như một người thợ tắm lành nghề hay đệ tử của người thợ tắm, sau khi rắc bột tắm vào trong một cái thau đồng, liền nhồi bột ấy với nước cho đến khi cục bột tắm ấy được thấm ướt, tẩm nhuận, thấm khắp cả trong lẫn ngoài bởi nước, nhưng không chảy nhỏ giọt. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Vị ấy không phóng dật như vậy... (như trên)... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado gambhīro ubbhidodako. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ; devo ca na kālena kālaṁ sammā dhāraṁ anuppaveccheyya; atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Tassa evaṁ appamattassa …pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion. It’s like a deep lake fed by spring water. There’s no inlet to the east, west, north, or south, and the heavens would not properly bestow showers from time to time. But the stream of cool water welling up in the lake drenches, steeps, fills, and spreads throughout the lake. There’s no part of the lake that’s not spread through with cool water. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi làm cho tầm và tứ lắng dịu... (như trên)... chứng và trú thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỳ khưu, ví như một hồ nước sâu có nguồn nước trào lên. Hồ ấy không có cửa nước chảy vào từ phía đông, không có cửa nước chảy vào từ phía tây, không có cửa nước chảy vào từ phía bắc, không có cửa nước chảy vào từ phía nam, và trời cũng không thỉnh thoảng mưa xuống đúng lúc. Thế rồi, một dòng nước mát từ chính hồ nước ấy trào lên, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy chính hồ nước ấy với nước mát, không một chỗ nào của toàn bộ hồ nước không được nước mát ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Vị ấy không phóng dật như vậy... (như trên)... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni, nāssa kiñci sabbāvataṁ uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti. Tassa evaṁ appamattassa …pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption. They meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ They drench, steep, fill, and spread themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture. It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. From the tip to the root they’re drenched, steeped, filled, and soaked with cool water. There’s no part of them that’s not soaked with cool water. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do ly hỷ... (như trên)... chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc không có hỷ, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc không có hỷ ấy thấm nhuần. Này các Tỳ khưu, ví như trong một hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có những hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, nuôi sống dưới nước. Từ chóp đến rễ, chúng được thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy bởi nước mát, không một chỗ nào của toàn bộ các hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng ấy không được nước mát thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc không có hỷ, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc không có hỷ ấy thấm nhuần. Vị ấy không phóng dật như vậy... (như trên)... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupitvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṁ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Tassa evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā ajjhattameva cittaṁ santiṭṭhati, sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṁ bhāveti.
Furthermore, giving up pleasure and pain, and ending former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. They sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. It’s like someone sitting wrapped from head to foot with white cloth. There’s no part of the body that’s not spread over with white cloth. In the same way, they sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. As they meditate like this—diligent, keen, and resolute—memories and thoughts tied to domestic life are given up. Their mind becomes stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That too is how a mendicant develops mindfulness of the body.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do xả lạc... (như trên)... chứng và trú thiền thứ tư. Vị ấy ngồi, dùng tâm thuần tịnh, trong sáng mà biến mãn khắp thân này, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh, trong sáng ấy biến mãn. Này các Tỳ khưu, ví như một người ngồi, lấy một tấm vải trắng trùm kín từ đầu xuống, không một chỗ nào trên toàn thân không được tấm vải trắng ấy bao trùm. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ngồi, dùng tâm thuần tịnh, trong sáng mà biến mãn khắp thân này, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh, trong sáng ấy biến mãn. Khi vị ấy trú như vậy, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, những tầm tư liên hệ đến thế tục nào khởi lên đều được đoạn trừ. Do đoạn trừ chúng, tâm được an trú, lắng đọng, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu tu tập niệm thân.
Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, antogadhāvāssa kusalā dhammā ye keci vijjābhāgiyā. Seyyathāpi, bhikkhave, yassa kassaci mahāsamuddo cetasā phuṭo, antogadhāvāssa kunnadiyo yā kāci samuddaṅgamā; evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, antogadhāvāssa kusalā dhammā ye keci vijjābhāgiyā.
Anyone who has developed and cultivated mindfulness of the body includes all of the skillful qualities that play a part in realization. Anyone who brings into their mind the great ocean includes all of the streams that run down into it. In the same way, anyone who has developed and cultivated mindfulness of the body includes all of the skillful qualities that play a part in realization.
156. Này các Tỳ khưu, bất cứ ai đã tu tập, đã làm cho sung mãn niệm thân, thì các thiện pháp nào thuộc về phần minh đều được bao gồm trong đó. Này các Tỳ khưu, ví như bất cứ ai đã dùng tâm bao trùm được đại dương, thì các con sông nhỏ nào chảy ra biển đều được bao gồm trong đó. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ ai đã tu tập, đã làm cho sung mãn niệm thân, thì các thiện pháp nào thuộc về phần minh đều được bao gồm trong đó.
Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṁ, labhati tassa māro ārammaṇaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso garukaṁ silāguḷaṁ allamattikāpuñje pakkhipeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu taṁ garukaṁ silāguḷaṁ allamattikāpuñje labhetha otāran”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṁ, labhati tassa māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ; atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṁ sukkhaṁ kaṭṭhaṁ koḷāpaṁ uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṁ, labhati tassa māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko ritto tuccho ādhāre ṭhapito; atha puriso āgaccheyya udakabhāraṁ ādāya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso labhetha udakassa nikkhepanan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṁ, labhati tassa māro ārammaṇaṁ.
When a mendicant has not developed or cultivated mindfulness of the body, Māra finds a vulnerability and gets an opportunity. Suppose a person were to throw a heavy stone ball at a mound of wet clay.
What do you think, mendicants? Would that heavy stone ball find an entry into that mound of wet clay?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when a mendicant has not developed or cultivated mindfulness of the body, Māra finds a vulnerability and gets an opportunity.
Suppose there was a dried up, withered log. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat.
What do you think, mendicants? By drilling the stick against that dried up, withered log, could they light a fire and produce heat?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when a mendicant has not developed or cultivated mindfulness of the body, Māra finds a vulnerability and gets an opportunity.
Suppose a water jar was placed on a stand, empty and hollow. Then a person comes along with a load of water.
What do you think, mendicants? Could that person pour water into the jar?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when a mendicant has not developed or cultivated mindfulness of the body, Māra finds a vulnerability and gets an opportunity.
“Này các tỳ khưu, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân không được tu tập, không được thực hành nhiều lần, ma vương có được cơ hội đối với người ấy, ma vương có được đối tượng đối với người ấy. Này các tỳ khưu, ví như có người ném một hòn đá nặng vào đống đất sét ướt. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Liệu hòn đá nặng ấy có thể có được cơ hội ở trong đống đất sét ướt ấy không?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ khưu, cũng thế ấy, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân không được tu tập, không được thực hành nhiều lần, ma vương có được cơ hội đối với người ấy, ma vương có được đối tượng đối với người ấy. Này các tỳ khưu, ví như có khúc gỗ khô, không có nhựa cây; rồi có người đi đến, mang theo que củi dùi lửa phía trên và nói rằng: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho yếu tố nhiệt xuất hiện’. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Liệu người ấy, trong khi đang cọ xát khúc gỗ khô, không có nhựa cây kia bằng que củi dùi lửa phía trên, có thể tạo ra lửa, có thể làm cho yếu tố nhiệt xuất hiện không?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ khưu, cũng thế ấy, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân không được tu tập, không được thực hành nhiều lần, ma vương có được cơ hội đối với người ấy, ma vương có được đối tượng đối với người ấy. Này các tỳ khưu, ví như có một cái bình nước rỗng, trống không, được đặt trên giá đỡ; rồi có người đi đến, mang theo gánh nước. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Liệu người ấy có thể có được chỗ để đổ nước vào không?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ khưu, cũng thế ấy, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân không được tu tập, không được thực hành nhiều lần, ma vương có được cơ hội đối với người ấy, ma vương có được đối tượng đối với người ấy.”
Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṁ, na tassa labhati māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso lahukaṁ suttaguḷaṁ sabbasāramaye aggaḷaphalake pakkhipeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso taṁ lahukaṁ suttaguḷaṁ sabbasāramaye aggaḷaphalake labhetha otāran”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṁ, na tassa labhati māro ārammaṇaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ; atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṁ ādāya: ‘aggiṁ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṁ allaṁ kaṭṭhaṁ sasnehaṁ uttarāraṇiṁ ādāya abhimanthento aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṁ, na tassa labhati māro ārammaṇaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko pūro udakassa samatittiko kākapeyyo ādhāre ṭhapito; atha puriso āgaccheyya udakabhāraṁ ādāya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso labhetha udakassa nikkhepanan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṁ, na tassa labhati māro ārammaṇaṁ.
When a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, Māra cannot find a vulnerability and doesn’t get an opportunity.
Suppose a person were to throw a light ball of string at a door-panel made entirely of hardwood.
What do you think, mendicants? Would that light ball of string find an entry into that door-panel made entirely of hardwood?”
“No, sir.”
“In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, Māra cannot find a vulnerability and doesn’t get an opportunity.
Suppose there was a green, sappy log. Then a person comes along with a drill-stick, thinking to light a fire and produce heat.
What do you think, mendicants? By drilling the stick against that green, sappy log on dry land far from water, could they light a fire and produce heat?”
“No, sir.”
“In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, Māra cannot find a vulnerability and doesn’t get an opportunity. Suppose a water jar was placed on a stand, full to the brim so a crow could drink from it. Then a person comes along with a load of water.
What do you think, mendicants? Could that person pour water into the jar?”
“No, sir.”
“In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, Māra cannot find a vulnerability and doesn’t get an opportunity.
157. “Này các tỳ khưu, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân được tu tập, được thực hành nhiều lần, ma vương không có được cơ hội đối với người ấy, ma vương không có được đối tượng đối với người ấy. Này các tỳ khưu, ví như có người ném một cuộn chỉ nhẹ vào tấm ván cửa hoàn toàn bằng lõi cây. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Liệu người ấy có thể có được cơ hội ở trong tấm ván cửa hoàn toàn bằng lõi cây với cuộn chỉ nhẹ ấy không?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ khưu, cũng thế ấy, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân được tu tập, được thực hành nhiều lần, ma vương không có được cơ hội đối với người ấy, ma vương không có được đối tượng đối với người ấy. Này các tỳ khưu, ví như có khúc gỗ ướt, có nhựa cây; rồi có người đi đến, mang theo que củi dùi lửa phía trên và nói rằng: ‘Ta sẽ tạo ra lửa, ta sẽ làm cho yếu tố nhiệt xuất hiện’. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Liệu người ấy, trong khi đang cọ xát khúc gỗ ướt, có nhựa cây kia bằng que củi dùi lửa phía trên, có thể tạo ra lửa, có thể làm cho yếu tố nhiệt xuất hiện không?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ khưu, cũng thế ấy, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân được tu tập, được thực hành nhiều lần, ma vương không có được cơ hội đối với người ấy, ma vương không có được đối tượng đối với người ấy. Này các tỳ khưu, ví như có một cái bình nước đầy nước, nước ngang bằng miệng bình, đủ để con quạ có thể uống, được đặt trên giá đỡ; rồi có người đi đến, mang theo gánh nước. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Liệu người ấy có thể có được chỗ để đổ nước vào không?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ khưu, cũng thế ấy, đối với bất cứ người nào, niệm tưởng đến thân được tu tập, được thực hành nhiều lần, ma vương không có được cơ hội đối với người ấy, ma vương không có được đối tượng đối với người ấy.”
Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko pūro udakassa samatittiko kākapeyyo ādhāre ṭhapito. Tamenaṁ balavā puriso yato yato āviñcheyya, āgaccheyya udakan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā so, yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, same bhūmibhāge caturassā pokkharaṇī assa āḷibandhā pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Tamenaṁ balavā puriso yato yato āḷiṁ muñceyya āgaccheyya udakan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo; tamenaṁ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā dakkhiṇena hatthena patodaṁ gahetvā yenicchakaṁ yadicchakaṁ sāreyyāpi paccāsāreyyāpi; evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
When a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, they extend the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and they are capable of realizing those things, since each and every one is within range.
Suppose a water jar was placed on a stand, full to the brim so a crow could drink from it. If a strong man was to pour it on any side, would water pour out?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, they extend the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and they are capable of realizing those things, since each and every one is within range.
Suppose there was a square, walled lotus pond on level ground, full to the brim so a crow could drink from it. If a strong man was to open the wall on any side, would water pour out?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, they extend the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and they are capable of realizing those things, since each and every one is within range. Suppose a chariot stood harnessed to thoroughbreds at a level crossroads, with a goad ready. A deft horse trainer, a master charioteer, might mount the chariot, taking the reins in his right hand and goad in the left. He’d drive out and back wherever he wishes, whenever he wishes. In the same way, when a mendicant has developed and cultivated mindfulness of the body, they extend the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and they are capable of realizing those things, since each and every one is within range.
158. Này các Tỳ khưu, bất cứ người nào đã tu tập, đã làm cho sung mãn niệm thân hành, vị ấy hướng tâm đến pháp nào cần được thắng tri, cần được chứng ngộ, vị ấy có thể đạt đến khả năng chứng kiến ngay tại đấy, trong khi có cơ sở của niệm. Này các Tỳ khưu, ví như một cái ghè nước đầy tràn đến miệng, có thể cho quạ uống, được đặt trên một cái giá đỡ. Một người đàn ông khỏe mạnh nghiêng nó về phía nào, nước sẽ chảy ra từ phía đó, phải không?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ người nào đã tu tập, đã làm cho sung mãn niệm thân hành, vị ấy hướng tâm đến pháp nào cần được thắng tri, cần được chứng ngộ, vị ấy có thể đạt đến khả năng chứng kiến ngay tại đấy, trong khi có cơ sở của niệm. Này các Tỳ khưu, ví như trên một vùng đất bằng phẳng, có một hồ nước hình vuông, có bờ đắp, đầy tràn đến miệng, có thể cho quạ uống. Một người đàn ông khỏe mạnh mở bờ đê ở phía nào, nước sẽ chảy ra từ phía đó, phải không?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ người nào đã tu tập, đã làm cho sung mãn niệm thân hành, vị ấy hướng tâm đến pháp nào cần được thắng tri, cần được chứng ngộ, vị ấy có thể đạt đến khả năng chứng kiến ngay tại đấy, trong khi có cơ sở của niệm. Này các Tỳ khưu, ví như tại một ngã tư đường trên một vùng đất tốt, có một cỗ xe ngựa thuần chủng được thắng yên, sẵn sàng với roi ngựa đặt xuống; một người đánh xe thiện xảo, một người điều ngự ngựa thuần thục, leo lên xe, tay trái cầm dây cương, tay phải cầm roi, có thể lái đi và lái về bất cứ nơi nào mình muốn, theo ý mình muốn; cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ người nào đã tu tập, đã làm cho sung mãn niệm thân hành, vị ấy hướng tâm đến pháp nào cần được thắng tri, cần được chứng ngộ, vị ấy có thể đạt đến khả năng chứng kiến ngay tại đấy, trong khi có cơ sở của niệm.
Kāyagatāya, bhikkhave, satiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya dasānisaṁsā pāṭikaṅkhā.
Aratiratisaho hoti, na ca taṁ arati sahati, uppannaṁ aratiṁ abhibhuyya viharati.
You can expect ten benefits when mindfulness of the body has been cultivated, developed, and practiced, made a vehicle and a basis, kept up, consolidated, and properly implemented.
They prevail over desire and discontent, and live having mastered desire and discontent whenever they arose.
159. Này các Tỳ khưu, khi niệm thân hành được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được dùng làm cỗ xe, được dùng làm nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khéo khởi sự, mười lợi ích này có thể được mong đợi. Vị ấy chịu đựng được sự không hoan hỷ; và sự không hoan hỷ không chi phối được vị ấy, vị ấy sống chinh phục sự không hoan hỷ đã khởi lên.
Bhayabheravasaho hoti, na ca taṁ bhayabheravaṁ sahati, uppannaṁ bhayabheravaṁ abhibhuyya viharati.
They prevail over fear and dread, and live having mastered fear and dread whenever they arose.
Vị ấy chịu đựng được sự sợ hãi và kinh hoàng; và sự sợ hãi và kinh hoàng không chi phối được vị ấy, vị ấy sống chinh phục sự sợ hãi và kinh hoàng đã khởi lên.
Khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti.
They endure cold, heat, hunger, and thirst; the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; rude and unwelcome criticism; and put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.
Vị ấy là người chịu đựng được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; chịu đựng được những lời nói ác độc, khó nghe; vị ấy có khuynh hướng chịu đựng những cảm thọ thuộc về thân đã khởi lên, đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, nhức nhối, không thích ý, không vừa lòng, có thể đoạt mạng sống.
Catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
Vị ấy là người đạt được bốn thiền, thuộc về tâm cao thượng, đem lại sự an lạc trong hiện tại, đạt được theo ý muốn, không khó khăn, không mệt nhọc.
So anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccānubhoti. Ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti, āvibhāvaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
They wield the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again … They control the body as far as the realm of divinity.
Vị ấy chứng nghiệm được các loại thần thông. Từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình... vân vân... cho đến, vị ấy có thể dùng thân để tác động quyền lực cho đến cõi Phạm thiên.
Dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca …pe….
With clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far. …
Với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần... vân vân...
Parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti. Sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānāti, vītarāgaṁ vā cittaṁ …pe… sadosaṁ vā cittaṁ … vītadosaṁ vā cittaṁ … samohaṁ vā cittaṁ … vītamohaṁ vā cittaṁ … saṅkhittaṁ vā cittaṁ … vikkhittaṁ vā cittaṁ … mahaggataṁ vā cittaṁ … amahaggataṁ vā cittaṁ … sauttaraṁ vā cittaṁ … anuttaraṁ vā cittaṁ … samāhitaṁ vā cittaṁ … asamāhitaṁ vā cittaṁ … vimuttaṁ vā cittaṁ … avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānāti.
They understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind. …
Vị ấy biết được tâm của các chúng sanh khác, của các người khác, bằng cách bao trùm tâm của họ bằng tâm của mình. Vị ấy biết tâm có tham là ‘tâm có tham’, hoặc tâm không có tham... vân vân... tâm có sân... tâm không có sân... tâm có si... tâm không có si... tâm co rút... tâm tán loạn... tâm quảng đại... tâm không quảng đại... tâm hữu hạn... tâm vô thượng... tâm có định... tâm không có định... tâm giải thoát... hoặc tâm không giải thoát là ‘tâm không giải thoát’.
So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
They recollect many kinds of past lives, with features and details.
Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cụ thể là – một đời, hai đời... vân vân... Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và chi tiết của chúng.
Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết đi và đang tái sanh, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh; vị ấy hiểu rõ các chúng sanh đi theo nghiệp của mình.
Āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Do sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đắc và an trú trong vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại.
Kāyagatāya, bhikkhave, satiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya ime dasānisaṁsā pāṭikaṅkhā”ti.
You can expect these ten benefits when mindfulness of the body has been cultivated, developed, and practiced, made a vehicle and a basis, kept up, consolidated, and properly implemented.”
Này các Tỳ khưu, khi niệm thân hành được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được dùng làm cỗ xe, được dùng làm nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khéo khởi sự, mười lợi ích này có thể được mong đợi.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Kāyagatāsatisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Niệm Thân Hành, thứ chín, kết thúc.