- Majjhima Nikāya 117
Mahācattārīsakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahācattārīsakasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Thánh chánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ. Hãy lắng tai nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh chánh định với các cận duyên và các tư trợ? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Này các Tỷ-kheo, phàm có nhất tâm nào (ekaggata) được tư trợ với bảy chi phần này, này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Thánh chánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ.
SC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà kiến là tà kiến, tuệ tri chánh kiến là chánh kiến. Như vậy là chánh kiến của vị ấy.
SC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà kiến? Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự, không có quả báo các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh; ở đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà kiến.
SC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến? Chánh kiến, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại. Này các Tỷ-kheo, có loại chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y (upadhivepakka); có loại chánh kiến, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi (magganga).
SC 6Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh; ở đời có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt đời này và đời khác lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
SC 7Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm. Chánh kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 8Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
SC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà tư duy là tà tư duy, tuệ tri chánh tư duy là chánh tư duy, như vậy là chánh kiến của các vị ấy.
SC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, này các Tỷ-kheo, như vậy là tà tư duy.
SC 11Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 12Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy, như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh tư duy, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì này các Tỷ-kheo thuộc suy tư, tầm cầu, tư duy, một ngữ hành do sự hoàn toàn chú tâm chuyên tâm của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm; chánh tư duy như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 14Ai tinh tấn đoạn trừ tà tư duy, thành tựu chánh tư duy, như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà tư duy, chánh niệm đạt được và an trú chánh tư duy, như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh tư duy, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
SC 15Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà ngữ là tà ngữ, tuệ tri chánh ngữ là chánh ngữ; như vậy là chánh kiến của vị ấy.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà ngữ? Vọng ngữ, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói lời phù phiếm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà ngữ.
SC 17Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh ngữ, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 18Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Viễn ly vọng ngữ, viễn ly nói hai lưỡi, viễn ly ác khẩu, viễn ly phù phiếm ngữ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh ngữ hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
SC 19Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly bốn ngữ ác hành, đối với một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh ngữ thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 20Ai tinh tấn đoạn trừ tà ngữ, thành tựu chánh ngữ; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà ngữ, chánh niệm đạt được và an trú chánh ngữ; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh ngữ, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
SC 21Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà nghiệp là tà nghiệp, tuệ tri chánh nghiệp là chánh nghiệp; như vậy là chánh kiến của vị ấy.
SC 22Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà nghiệp? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà nghiệp.
SC 23Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp? Chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: Có loại chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 24Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp thuộc hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Viễn ly sát sanh, viễn ly lấy của không cho, viễn ly tà hạnh trong các dục; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh nghiệp, thuộc hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
SC 25Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly ba thân ác hành đối với một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh nghiệp thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 26Ai tinh tấn đoạn trừ tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà nghiệp, chánh niệm đạt được và an trú chánh nghiệp; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh nghiệp, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
SC 27Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri được tà mạng là tà mạng, tuệ tri được chánh mạng là chánh mạng; như vậy là chánh kiến của vị ấy.
SC 28Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà mạng? Lừa đảo, nói lời mê ly, hiện tướng, gian trá, lấy lợi cầu lợi; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà mạng.
SC 29Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh mạng? Chánh mạng, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh mạng, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh mạng, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 30Và thế nào, này các Tỷ-kheo là chánh mạng hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử bỏ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng; như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh mạng hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
SC 31Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly tà mạng đối với một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục trong Thánh đạo. Có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh mạng thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
SC 32Ai tinh tấn đoạn trừ tà mạng, thành tựu chánh mạng; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà mạng, chánh niệm đạt được và an trú chánh mạng, như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh mạng, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
SC 33Ở đây, này các Tỷ-kheo chánh kiến đi hàng đầu. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, do chánh kiến, được khởi lên. Chánh ngữ do chánh tư duy được khởi lên. Chánh nghiệp do chánh ngữ được khởi lên. Chánh mạng do chánh nghiệp được khởi lên. Chánh tinh tấn do chánh mạng được khởi lên. Chánh niệm do chánh tinh tấn được khởi lên. Chánh định do chánh niệm được khởi lên. Chánh trí do chánh định được khởi lên. Chánh giải thoát do chánh trí được khởi lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đạo lộ của vị hữu học gồm có tám chi phần, và đạo lộ của vị A-la-hán gồm có mười chi phần.
SC 34Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tà kiến, này các Tỷ-kheo, do chánh kiến làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà kiến duyên khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong vị có chánh kiến. Và những thiện pháp được chánh kiến duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 35Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, do chánh tư duy làm cho tiêu diệt và những ác bất thiện pháp, được tà tư duy duyên khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh tư duy. Và những thiện pháp được chánh tư duy duyên khởi, các pháp ấy được phát triển trở thành viên mãn.
SC 36Tà ngữ, này các Tỷ-kheo, do chánh ngữ làm cho tiêu diệt và những ác bất thiện pháp được tà ngữ duyên khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh ngữ. Và những thiện pháp được chánh ngữ duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 37Tà nghiệp, này các Tỷ-kheo, do chánh nghiệp làm cho tiêu diệt, và những ác bất thiện pháp được tà nghiệp duyên khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh nghiệp. Và những thiện pháp được chánh nghiệp duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 38Tà mạng, này các Tỷ-kheo, do chánh mạng làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà mạng duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh mạng. Và những thiện pháp được chánh mạng duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 39Tà tinh tấn, này các Tỷ-kheo, do chánh tinh tấn làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà tinh tấn duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh tinh tấn. Và những thiện pháp được khởi lên do duyên chánh tinh tấn, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 40Tà niệm, này các Tỷ-kheo, do chánh niệm làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà niệm duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh niệm. Và những thiện pháp được chánh niệm duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 41Tà định, này các Tỷ-kheo do chánh định làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà định duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh định. Và những thiện pháp được chánh định duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
SC 42Tà trí, này các Tỷ-kheo, do chánh trí làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà trí duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh trí. Và những thiện pháp được chánh trí duyên khởi, các pháp ấy được phát triển và trở thành viên mãn.
SC 43Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, do chánh giải thoát làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà giải thoát duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh giải thoát. Và các thiện pháp được chánh giải thoát duyên khởi, các pháp ấy được phát triển và trở thành viên mãn.
SC 44Như vậy, này các Tỷ-kheo, có hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phần. Ðại pháp môn Bốn mươi đã được chuyển vận không bị chận đứng lại bởi một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời.
SC 45Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, nghĩ rằng đại pháp môn Bốn mươi này đáng bị phê bình, đáng bị phỉ báng, thời ngay hiện tại, mười thuận thuyết tùy thuyết hợp pháp được nói lên để chỉ trích người ấy. Nếu Tôn giả chỉ trích chánh kiến, thời các Sa-môn có tà kiến, các Tôn giả ấy là những vị đáng được cúng dường, các Tôn giả ấy là những vị đáng được tán thán. Nếu Tôn giả chỉ trích chánh tư duy, thời các Sa-môn, Bà-la-môn có tà tư duy, các Tôn giả ấy là những vị đáng được cúng dường, các Tôn giả ấy là những vị đáng được tán thán. Nếu Tôn giả chỉ trích chánh ngữ … chánh nghiệp … chánh mạng … chánh tinh tấn … chánh niệm … chánh định … chánh trí … Nếu Tôn giả chỉ trích chánh giải thoát, thời các Sa-môn, Bà-la-môn có tà giải thoát, các Tôn giả ấy là những vị đáng cúng dường, các Tôn giả ấy là những vị đáng được tán thán. Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, nghĩ rằng đại pháp môn Bốn mươi này đáng bị phê bình, đáng bị phỉ báng, thời ngay hiện tại, mười thuận thuyết hợp pháp được nói lên để chỉ trích người ấy.
SC 46Này các Tỷ-kheo, cho đến các dân chúng ở Ukkalā và dân chúng Vassa, dân chúng Bhanna theo vô nhân luận, theo vô tác luận, theo hư vô luận, những vị ấy cũng không nghĩ rằng đại pháp môn Bốn mươi đáng chỉ trích, đáng bị phỉ báng. Vì sao vậy? Vì sợ quở trách, phẫn nộ, công kích.
SC 47Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Đại Tứ Thập
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“ariyaṁ vo, bhikkhave, sammāsamādhiṁ desessāmi saupanisaṁ saparikkhāraṁ. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I will teach you noble right immersion with its vital conditions and its prerequisites. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
136. Tôi nghe như vầy. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” – “Bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau: “Này các tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về chánh định thuộc bậc Thánh, có các điều kiện hỗ trợ, có các vật dụng đi kèm. Hãy lắng nghe, và khéo tác ý; Ta sẽ nói.” – “Vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau:
“Katamo ca, bhikkhave, ariyo sammāsamādhi saupaniso saparikkhāro? Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati; yā kho, bhikkhave, imehi sattahaṅgehi cittassa ekaggatā parikkhatā—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyo sammāsamādhi saupaniso itipi, saparikkhāro itipi.
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Micchādiṭṭhiṁ ‘micchādiṭṭhī’ti pajānāti, sammādiṭṭhiṁ ‘sammādiṭṭhī’ti pajānāti—sāssa hoti sammādiṭṭhi.
“And what is noble right immersion with its vital conditions and its prerequisites? They are: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, and right mindfulness. Unification of mind with these seven factors as prerequisites is called noble right immersion ‘with its vital conditions’ and also ‘with its prerequisites’.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? When you understand wrong view as wrong view and right view as right view, that’s your right view.
Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh định thuộc bậc Thánh, có các điều kiện hỗ trợ, có các vật dụng đi kèm? Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Này các tỳ khưu, sự nhất tâm được trang bị bởi bảy chi phần này, đây được gọi là chánh định thuộc bậc Thánh, này các tỳ khưu, vừa có các điều kiện hỗ trợ, vừa có các vật dụng đi kèm. Trong đó, này các tỳ khưu, chánh kiến đi hàng đầu. Và thế nào, này các tỳ khưu, là chánh kiến đi hàng đầu? Vị ấy biết rõ tà kiến là ‘tà kiến’, biết rõ chánh kiến là ‘chánh kiến’ – đó là chánh kiến của vị ấy.
Katamā ca, bhikkhave, micchādiṭṭhi? ‘Natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti—ayaṁ, bhikkhave, micchādiṭṭhi.
And what is wrong view? ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is wrong view.
Và này các tỳ khưu, thế nào là tà kiến? ‘Không có (quả của) sự bố thí, không có (quả của) sự cúng dường, không có (quả của) sự tế lễ; không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có (công ơn) mẹ, không có (công ơn) cha; không có các chúng sanh hóa sanh; ở đời không có các vị sa-môn, bà-la-môn đã đi đến nơi chân chánh, đã thực hành chân chánh, những người đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên bố về đời này và đời sau’ – này các tỳ khưu, đây là tà kiến.
Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Sammādiṭṭhimpahaṁ, bhikkhave, dvāyaṁ vadāmi—atthi, bhikkhave, sammādiṭṭhi sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā; atthi, bhikkhave, sammādiṭṭhi ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā? ‘Atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti—ayaṁ, bhikkhave, sammādiṭṭhi sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā.
And what is right view? Right view is twofold, I say. There is right view that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments. And there is right view that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path.
And what is right view that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments? ‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is right view that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến? Này các Tỳ khưu, Ta nói chánh kiến có hai loại. Có chánh kiến, này các Tỳ khưu, là hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả; có chánh kiến, này các Tỳ khưu, là thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả? (Tri kiến rằng:) ‘Có bố thí, có cúng dường, có tế lễ; có quả dị thục của các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các chúng sanh hóa sanh; ở đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, những vị đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Này các Tỳ khưu, đây là chánh kiến hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả.”
Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato paññā paññindriyaṁ paññābalaṁ dhammavicayasambojjhaṅgo sammādiṭṭhi maggaṅgaṁ—ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
So micchādiṭṭhiyā pahānāya vāyamati, sammādiṭṭhiyā, upasampadāya, svāssa hoti sammāvāyāmo. So sato micchādiṭṭhiṁ pajahati, sato sammādiṭṭhiṁ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati. Itiyime tayo dhammā sammādiṭṭhiṁ anuparidhāvanti anuparivattanti, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati.
And what is right view that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path? It’s the wisdom—the faculty of wisdom, the power of wisdom, the awakening factor of investigation of principles, and right view as a factor of the path—in one intent on the noble, intent on the undefiled, who possesses the noble path and develops the noble path. This is called right view that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path.
They make an effort to give up wrong view and embrace right view: that’s their right effort. Mindfully they give up wrong view and embrace right view: that’s their right mindfulness. So these three things keep running and circling around right view, namely: right view, right effort, and right mindfulness.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi? Này các Tỳ khưu, đối với người có tâm thánh, có tâm vô lậu, thành tựu thánh đạo, đang tu tập thánh đạo, trí tuệ nào, tuệ quyền nào, tuệ lực nào, trạch pháp giác chi nào, chánh kiến nào, đạo chi nào (khởi lên) – này các Tỳ khưu, đây được gọi là chánh kiến thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Vị ấy tinh tấn để đoạn trừ tà kiến, để thành tựu chánh kiến; đó là chánh tinh tấn của vị ấy. Vị ấy chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm thành tựu và an trú trong chánh kiến; đó là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này chạy theo, xoay quanh chánh kiến, tức là: chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.”
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Micchāsaṅkappaṁ ‘micchāsaṅkappo’ti pajānāti, sammāsaṅkappaṁ ‘sammāsaṅkappo’ti pajānāti, sāssa hoti sammādiṭṭhi.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? When you understand wrong purpose as wrong purpose and right purpose as right purpose, that’s your right view.
137. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, chánh kiến đi trước. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến đi trước? Vị ấy biết rõ tà tư duy là ‘tà tư duy’, biết rõ chánh tư duy là ‘chánh tư duy’; đó là chánh kiến của vị ấy.”
Katamo ca, bhikkhave, micchāsaṅkappo? Kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo—ayaṁ, bhikkhave, micchāsaṅkappo.
And what is wrong purpose? Purposes of sensuality, of malice, and of cruelty. This is wrong purpose.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tà tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy – này các Tỳ khưu, đây là tà tư duy.”
Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? Sammāsaṅkappampahaṁ, bhikkhave, dvāyaṁ vadāmi—atthi, bhikkhave, sammāsaṅkappo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko; atthi, bhikkhave, sammāsaṅkappo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo: ‘ayaṁ, bhikkhave, sammāsaṅkappo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko’.
And what is right purpose? Right purpose is twofold, I say. There is right purpose that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments. And there is right purpose that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path.
And what is right purpose that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments? Purposes of renunciation, good will, and harmlessness. This is right purpose that is accompanied by defilements.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỳ khưu, Ta nói chánh tư duy có hai loại. Có chánh tư duy, này các Tỳ khưu, là hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả; có chánh tư duy, này các Tỳ khưu, là thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tư duy hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy – này các Tỳ khưu, đây là chánh tư duy hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả.”
Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo? Yo kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato takko vitakko saṅkappo appanā byappanā cetaso abhiniropanā vacīsaṅkhāro—ayaṁ, bhikkhave, sammāsaṅkappo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
So micchāsaṅkappassa pahānāya vāyamati, sammāsaṅkappassa upasampadāya, svāssa hoti sammāvāyāmo. So sato micchāsaṅkappaṁ pajahati, sato sammāsaṅkappaṁ upasampajja viharati; sāssa hoti sammāsati. Itiyime tayo dhammā sammāsaṅkappaṁ anuparidhāvanti anuparivattanti, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati.
And what is right purpose that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path? It’s the thinking—the placing of the mind, thought, planting, implanting, embedding of the mind, verbal process—in one intent on the noble, intent on the undefiled, who possesses the noble path and develops the noble path. This is right purpose that is noble.
They make an effort to give up wrong purpose and embrace right purpose: that’s their right effort. Mindfully they give up wrong purpose and take up right purpose: that’s their right mindfulness. So these three things keep running and circling around right purpose, namely: right view, right effort, and right mindfulness.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tư duy thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi? Này các Tỳ khưu, đối với người có tâm thánh, có tâm vô lậu, thành tựu thánh đạo, đang tu tập thánh đạo, sự tầm nào, sự tứ nào, sự tư duy nào, sự an chỉ nào, sự chuyên chú nào, sự hướng tâm nào, khẩu hành nào (khởi lên) – này các Tỳ khưu, đây là chánh tư duy thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Vị ấy tinh tấn để đoạn trừ tà tư duy, để thành tựu chánh tư duy; đó là chánh tinh tấn của vị ấy. Vị ấy chánh niệm đoạn trừ tà tư duy, chánh niệm thành tựu và an trú trong chánh tư duy; đó là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này chạy theo, xoay quanh chánh tư duy, tức là: chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.”
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Micchāvācaṁ ‘micchāvācā’ti pajānāti, sammāvācaṁ ‘sammāvācā’ti pajānāti; sāssa hoti sammādiṭṭhi.
Katamā ca, bhikkhave, micchāvācā? Musāvādo, pisuṇā vācā, pharusā vācā, samphappalāpo—ayaṁ, bhikkhave, micchāvācā.
Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? Sammāvācampahaṁ, bhikkhave, dvāyaṁ vadāmi—atthi, bhikkhave, sammāvācā sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā; atthi, bhikkhave, sammāvācā ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā? Musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī—ayaṁ, bhikkhave, sammāvācā sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā.
Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato catūhi vacīduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī—ayaṁ, bhikkhave, sammāvācā ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
So micchāvācāya pahānāya vāyamati, sammāvācāya upasampadāya; svāssa hoti sammāvāyāmo. So sato micchāvācaṁ pajahati, sato sammāvācaṁ upasampajja viharati; sāssa hoti sammāsati. Itiyime tayo dhammā sammāvācaṁ anuparidhāvanti anuparivattanti, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? When you understand wrong speech as wrong speech and right speech as right speech, that’s your right view.
And what is wrong speech? Speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. This is wrong speech.
And what is right speech? Right speech is twofold, I say. There is right speech that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments. And there is right speech that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path.
And what is right speech that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments? Refraining from lying, divisive speech, harsh speech, and talking nonsense. This is right speech that is accompanied by defilements.
And what is right speech that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path? It’s the desisting, abstaining, abstinence, and refraining from the four kinds of bad verbal conduct in one intent on the noble, intent on the undefiled, who possesses the noble path and develops the noble path. This is right speech that is noble.
They make an effort to give up wrong speech and embrace right speech: that’s their right effort. Mindfully they give up wrong speech and take up right speech: that’s their right mindfulness. So these three things keep running and circling around right speech, namely: right view, right effort, and right mindfulness.
138. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, chánh kiến đi trước. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến đi trước? Vị ấy biết rõ tà ngữ là ‘tà ngữ’, biết rõ chánh ngữ là ‘chánh ngữ’; đó là chánh kiến của vị ấy. Và này các Tỳ khưu, thế nào là tà ngữ? Nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác khẩu, nói lời phù phiếm – này các Tỳ khưu, đây là tà ngữ. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỳ khưu, Ta nói chánh ngữ có hai loại. Có chánh ngữ, này các Tỳ khưu, là hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả; có chánh ngữ, này các Tỳ khưu, là thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh ngữ hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả? Sự từ bỏ nói dối, sự từ bỏ nói hai lưỡi, sự từ bỏ nói lời ác khẩu, sự từ bỏ nói lời phù phiếm – này các Tỳ khưu, đây là chánh ngữ hữu lậu, thuộc về phước báu, sanh y quả. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh ngữ thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi? Này các Tỳ khưu, đối với người có tâm thánh, có tâm vô lậu, thành tựu thánh đạo, đang tu tập thánh đạo, sự tránh xa, sự kiêng cữ, sự từ bỏ, sự chế ngự nào đối với bốn loại khẩu ác hạnh – này các Tỳ khưu, đây là chánh ngữ thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Vị ấy tinh tấn để đoạn trừ tà ngữ, để thành tựu chánh ngữ; đó là chánh tinh tấn của vị ấy. Vị ấy chánh niệm đoạn trừ tà ngữ, chánh niệm thành tựu và an trú trong chánh ngữ; đó là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này chạy theo, xoay quanh chánh ngữ, tức là: chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.”
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Micchākammantaṁ ‘micchākammanto’ti pajānāti, sammākammantaṁ ‘sammākammanto’ti pajānāti; sāssa hoti sammādiṭṭhi.
Katamo ca, bhikkhave, micchākammanto? Pāṇātipāto, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāro—ayaṁ, bhikkhave, micchākammanto.
Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? Sammākammantampahaṁ, bhikkhave, dvāyaṁ vadāmi—atthi, bhikkhave, sammākammanto sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko; atthi, bhikkhave, sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī—ayaṁ, bhikkhave, sammākammanto sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko.
Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato tīhi kāyaduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī—ayaṁ, bhikkhave, sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
So micchākammantassa pahānāya vāyamati, sammākammantassa upasampadāya; svāssa hoti sammāvāyāmo. So sato micchākammantaṁ pajahati, sato sammākammantaṁ upasampajja viharati; sāssa hoti sammāsati. Itiyime tayo dhammā sammākammantaṁ anuparidhāvanti anuparivattanti, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? When you understand wrong action as wrong action and right action as right action, that’s your right view.
And what is wrong action? Killing living creatures, stealing, and sexual misconduct. This is wrong action.
And what is right action? Right action is twofold, I say. There is right action that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments. And there is right action that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path.
And what is right action that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments? Refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct. This is right action that is accompanied by defilements.
And what is right action that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path? It’s the desisting, abstaining, abstinence, and refraining from the three kinds of bad bodily conduct in one intent on the noble, intent on the undefiled, who possesses the noble path and develops the noble path. This is right action that is noble.
They make an effort to give up wrong action and embrace right action: that’s their right effort. Mindfully they give up wrong action and take up right action: that’s their right mindfulness. So these three things keep running and circling around right action, namely: right view, right effort, and right mindfulness.
139. “Này các tỳ khưu, ở đây, chánh kiến đi trước. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh kiến đi trước? Vị ấy biết rõ tà nghiệp là ‘tà nghiệp’, biết rõ chánh nghiệp là ‘chánh nghiệp’; đó là chánh kiến của vị ấy. Và này các tỳ khưu, thế nào là tà nghiệp? Sát sanh, trộm cắp, tà dâm trong các dục – này các tỳ khưu, đây gọi là tà nghiệp. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh nghiệp? Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố chánh nghiệp có hai loại. Có chánh nghiệp, này các tỳ khưu, là hữu lậu, thuộc về phước, đưa đến sanh y; và có chánh nghiệp, này các tỳ khưu, là thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh nghiệp hữu lậu, thuộc về phước, đưa đến sanh y? Sự tránh xa sát sanh, sự tránh xa trộm cắp, sự tránh xa tà dâm trong các dục – này các tỳ khưu, đây gọi là chánh nghiệp hữu lậu, thuộc về phước, đưa đến sanh y. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh nghiệp thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi? Này các tỳ khưu, đối với người có tâm thánh, có tâm vô lậu, người đã thành tựu thánh đạo, đang tu tập thánh đạo, sự từ bỏ, sự tránh xa, sự đoạn tuyệt, sự kiêng cữ ba thân ác hạnh – này các tỳ khưu, đây gọi là chánh nghiệp thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Vị ấy tinh tấn để từ bỏ tà nghiệp, để thành tựu chánh nghiệp; đó là chánh tinh tấn của vị ấy. Vị ấy có chánh niệm, từ bỏ tà nghiệp; có chánh niệm, an trú sau khi đã thành tựu chánh nghiệp; đó là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này cùng chạy theo, cùng xoay quanh chánh nghiệp, tức là: chánh kiến, chánh tinh tấn, và chánh niệm.”
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Micchāājīvaṁ ‘micchāājīvo’ti pajānāti, sammāājīvaṁ ‘sammāājīvo’ti pajānāti; sāssa hoti sammādiṭṭhi.
Katamo ca, bhikkhave, micchāājīvo? Kuhanā, lapanā, nemittikatā, nippesikatā, lābhena lābhaṁ nijigīsanatā—ayaṁ, bhikkhave, micchāājīvo.
Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? Sammāājīvampahaṁ, bhikkhave, dvāyaṁ vadāmi—atthi, bhikkhave, sammāājīvo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko; atthi, bhikkhave, sammāājīvo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvikaṁ kappeti—ayaṁ, bhikkhave, sammāājīvo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko.
Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato micchāājīvā ārati virati paṭivirati veramaṇī—ayaṁ, bhikkhave, sammāājīvo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
So micchāājīvassa pahānāya vāyamati, sammāājīvassa upasampadāya; svāssa hoti sammāvāyāmo. So sato micchāājīvaṁ pajahati, sato sammāājīvaṁ upasampajja viharati; sāssa hoti sammāsati. Itiyime tayo dhammā sammāājīvaṁ anuparidhāvanti anuparivattanti, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? When you understand wrong livelihood as wrong livelihood and right livelihood as right livelihood, that’s your right view.
And what is wrong livelihood? Fawning, flattery, hinting, and belittling, and using material things to chase after other material things. This is wrong livelihood.
And what is right livelihood? Right livelihood is twofold, I say. There is right livelihood that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments. And there is right livelihood that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path.
And what is right livelihood that is accompanied by defilements, partakes of good deeds, and ripens in attachments? It’s when a noble disciple gives up wrong livelihood and earns a living by right livelihood. This is right livelihood that is accompanied by defilements.
And what is right livelihood that is noble, undefiled, transcendent, a factor of the path? It’s the desisting, abstaining, abstinence, and refraining from wrong livelihood in one intent on the noble, intent on the undefiled, who possesses the noble path and develops the noble path. This is right livelihood that is noble.
They make an effort to give up wrong livelihood and embrace right livelihood: that’s their right effort. Mindfully they give up wrong livelihood and take up right livelihood: that’s their right mindfulness. So these three things keep running and circling around right livelihood, namely: right view, right effort, and right mindfulness.
140. “Này các tỳ khưu, ở đây, chánh kiến đi trước. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh kiến đi trước? Vị ấy biết rõ tà mạng là ‘tà mạng’, biết rõ chánh mạng là ‘chánh mạng’; đó là chánh kiến của vị ấy. Và này các tỳ khưu, thế nào là tà mạng? Sự giả dối, sự tâng bốc, sự ám chỉ, sự ép buộc, dùng lợi để tìm lợi – này các tỳ khưu, đây gọi là tà mạng. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh mạng? Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố chánh mạng có hai loại. Có chánh mạng, này các tỳ khưu, là hữu lậu, thuộc về phước, đưa đến sanh y; và có chánh mạng, này các tỳ khưu, là thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh mạng hữu lậu, thuộc về phước, đưa đến sanh y? Này các tỳ khưu, ở đây, vị thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, nuôi sống bằng chánh mạng – này các tỳ khưu, đây gọi là chánh mạng hữu lậu, thuộc về phước, đưa đến sanh y. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh mạng thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi? Này các tỳ khưu, đối với người có tâm thánh, có tâm vô lậu, người đã thành tựu thánh đạo, đang tu tập thánh đạo, sự từ bỏ, sự tránh xa, sự đoạn tuyệt, sự kiêng cữ tà mạng – này các tỳ khưu, đây gọi là chánh mạng thánh, vô lậu, siêu thế, là đạo chi. Vị ấy tinh tấn để từ bỏ tà mạng, để thành tựu chánh mạng; đó là chánh tinh tấn của vị ấy. Vị ấy có chánh niệm, từ bỏ tà mạng; có chánh niệm, an trú sau khi đã thành tựu chánh mạng; đó là chánh niệm của vị ấy. Như vậy, ba pháp này cùng chạy theo, cùng xoay quanh chánh mạng, tức là: chánh kiến, chánh tinh tấn, và chánh niệm.”
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Sammādiṭṭhissa, bhikkhave, sammāsaṅkappo pahoti, sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti, sammāvācassa sammākammanto pahoti, sammākammantassa sammāājīvo pahoti, sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti, sammāvāyāmassa sammāsati pahoti, sammāsatissa sammāsamādhi pahoti, sammāsamādhissa sammāñāṇaṁ pahoti, sammāñāṇassa sammāvimutti pahoti. Iti kho, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato sekkho, dasaṅgasamannāgato arahā hoti. Tatrapi sammāñāṇena aneke pāpakā akusalā dhammā vigatā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? Right view produces right purpose. Right purpose produces right speech. Right speech produces right action. Right action produces right livelihood. Right livelihood produces right effort. Right effort produces right mindfulness. Right mindfulness produces right immersion. Right immersion produces right knowledge. Right knowledge produces right freedom. So the trainee has eight factors, while the perfected one has ten factors. And here too, the eradication of many bad, unskillful qualities is fully developed due to right knowledge.
141. “Này các tỳ khưu, ở đây, chánh kiến đi trước. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh kiến đi trước? Này các tỳ khưu, đối với người có chánh kiến, chánh tư duy khởi sanh; đối với người có chánh tư duy, chánh ngữ khởi sanh; đối với người có chánh ngữ, chánh nghiệp khởi sanh; đối với người có chánh nghiệp, chánh mạng khởi sanh; đối với người có chánh mạng, chánh tinh tấn khởi sanh; đối với người có chánh tinh tấn, chánh niệm khởi sanh; đối với người có chánh niệm, chánh định khởi sanh; đối với người có chánh định, chánh trí khởi sanh; đối với người có chánh trí, chánh giải thoát khởi sanh. Như vậy, này các tỳ khưu, vị hữu học thành tựu tám chi, và vị A-la-hán thành tựu mười chi. (Ở đó, nhờ chánh trí, nhiều pháp ác, bất thiện được đoạn trừ, và sự tu tập đi đến viên mãn).”
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Sammādiṭṭhissa, bhikkhave, micchādiṭṭhi nijjiṇṇā hoti. Ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti te cassa nijjiṇṇā honti. Sammādiṭṭhipaccayā aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti. Sammāsaṅkappassa, bhikkhave, micchāsaṅkappo nijjiṇṇo hoti …pe… sammāvācassa, bhikkhave, micchāvācā nijjiṇṇā hoti … sammākammantassa, bhikkhave, micchākammanto nijjiṇṇo hoti … sammāājīvassa, bhikkhave, micchāājīvo nijjiṇṇo hoti … sammāvāyāmassa, bhikkhave, micchāvāyāmo nijjiṇṇo hoti … sammāsatissa, bhikkhave, micchāsati nijjiṇṇā hoti … sammāsamādhissa, bhikkhave, micchāsamādhi nijjiṇṇo hoti … sammāñāṇassa, bhikkhave, micchāñāṇaṁ nijjiṇṇaṁ hoti … sammāvimuttassa, bhikkhave, micchāvimutti nijjiṇṇā hoti. Ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti te cassa nijjiṇṇā honti. Sammāvimuttipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
In this context, right view comes first. And how does right view come first? For one of right view, wrong view is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong view are worn away. And because of right view, many skillful qualities are fully developed. For one of right purpose, wrong purpose is worn away. … For one of right speech, wrong speech is worn away. … For one of right action, wrong action is worn away. … For one of right livelihood, wrong livelihood is worn away. … For one of right effort, wrong effort is worn away. … For one of right mindfulness, wrong mindfulness is worn away. … For one of right immersion, wrong immersion is worn away. … For one of right knowledge, wrong knowledge is worn away. … For one of right freedom, wrong freedom is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong freedom are worn away. And because of right freedom, many skillful qualities are fully developed.
142. “Này các tỳ khưu, trong các pháp ấy, chánh kiến đi hàng đầu. Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh kiến đi hàng đầu? Này các tỳ khưu, đối với người có chánh kiến, tà kiến bị tiêu trừ. Và do duyên tà kiến, nhiều pháp ác bất thiện sanh khởi, những pháp ấy cũng bị tiêu trừ nơi vị ấy. Do duyên chánh kiến, nhiều pháp thiện đi đến sự viên mãn của tu tập. Này các tỳ khưu, đối với người có chánh tư duy, tà tư duy bị tiêu trừ... Này các tỳ khưu, đối với người có chánh ngữ, tà ngữ bị tiêu trừ... đối với người có chánh nghiệp, tà nghiệp bị tiêu trừ... đối với người có chánh mạng, tà mạng bị tiêu trừ... đối với người có chánh tinh tấn, tà tinh tấn bị tiêu trừ... đối với người có chánh niệm, tà niệm bị tiêu trừ... đối với người có chánh định, tà định bị tiêu trừ... đối với người có chánh trí, tà trí bị tiêu trừ... Này các tỳ khưu, đối với người có chánh giải thoát, tà giải thoát bị tiêu trừ. Và do duyên tà giải thoát, nhiều pháp ác bất thiện sanh khởi, những pháp ấy cũng bị tiêu trừ nơi vị ấy. Và do duyên chánh giải thoát, nhiều pháp thiện đi đến sự viên mãn của tu tập.”
Iti kho, bhikkhave, vīsati kusalapakkhā, vīsati akusalapakkhā—mahācattārīsako dhammapariyāyo pavattito appaṭivattiyo samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
So there are twenty on the side of the skillful, and twenty on the side of the unskillful. This exposition of the teaching on the Great Forty has been rolled forth. And it cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.
“Này các tỳ khưu, như vậy, có hai mươi pháp thuộc thiện phần, hai mươi pháp thuộc bất thiện phần – bài pháp thoại Đại Tứ Thập này đã được chuyển vận, không thể bị ai trong đời, dù là sa-môn, bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay phạm thiên, hay bất cứ ai khác, làm cho đảo ngược lại.”
Yo hi koci, bhikkhave, samaṇo vā brāhmaṇo vā imaṁ mahācattārīsakaṁ dhammapariyāyaṁ garahitabbaṁ paṭikkositabbaṁ maññeyya tassa diṭṭheva dhamme dasasahadhammikā vādānuvādā gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchanti—sammādiṭṭhiñce bhavaṁ garahati, ye ca micchādiṭṭhī samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā; sammāsaṅkappañce bhavaṁ garahati, ye ca micchāsaṅkappā samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā; sammāvācañce bhavaṁ garahati …pe… sammākammantañce bhavaṁ garahati … sammāājīvañce bhavaṁ garahati … sammāvāyāmañce bhavaṁ garahati … sammāsatiñce bhavaṁ garahati … sammāsamādhiñce bhavaṁ garahati … sammāñāṇañce bhavaṁ garahati … sammāvimuttiñce bhavaṁ garahati, ye ca micchāvimuttī samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā. Yo koci, bhikkhave, samaṇo vā brāhmaṇo vā imaṁ mahācattārīsakaṁ dhammapariyāyaṁ garahitabbaṁ paṭikkositabbaṁ maññeyya tassa diṭṭheva dhamme ime dasasahadhammikā vādānuvādā gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchanti.
Yepi te, bhikkhave, ahesuṁ okkalā vassabhaññā ahetuvādā akiriyavādā natthikavādā tepi mahācattārīsakaṁ dhammapariyāyaṁ na garahitabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ amaññiṁsu. Taṁ kissa hetu? Nindābyārosaupārambhabhayā”ti.
If any ascetic or brahmin imagines they can criticize and reject the exposition of the teaching on the Great Forty, they deserve rebuttal and criticism on ten legitimate grounds in this very life. If such a gentleman criticizes right view, they praise and honor the ascetics and brahmins who have wrong view. If they criticize right purpose … right speech … right action … right livelihood … right effort … right mindfulness … right immersion … right knowledge … right freedom, they praise and honor the ascetics and brahmins who have wrong freedom. If any ascetic or brahmin imagines they can criticize and reject the exposition of the teaching on the Great Forty, they deserve rebuttal and criticism on these ten legitimate grounds in this very life.
Even those who were loud and bold advocates of the doctrines of no-cause, inaction, and nihilism, didn’t imagine that the Great Forty should be criticized or rejected. Why is that? For fear of being blamed, provoked, and faulted.”
143. “Này các tỳ khưu, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào cho rằng bài pháp thoại Đại Tứ Thập này đáng bị chỉ trích, đáng bị bác bỏ, thì ngay trong hiện tại, mười luận điểm đúng pháp để tranh luận và phản bác sẽ đến với vị ấy, khiến vị ấy đáng bị khiển trách. Nếu ngài chỉ trích chánh kiến, thì những sa-môn, bà-la-môn nào có tà kiến sẽ được ngài tôn kính, được ngài tán thán. Nếu ngài chỉ trích chánh tư duy, thì những sa-môn, bà-la-môn nào có tà tư duy sẽ được ngài tôn kính, được ngài tán thán. Nếu ngài chỉ trích chánh ngữ... nếu ngài chỉ trích chánh nghiệp... nếu ngài chỉ trích chánh mạng... nếu ngài chỉ trích chánh tinh tấn... nếu ngài chỉ trích chánh niệm... nếu ngài chỉ trích chánh định... nếu ngài chỉ trích chánh trí... nếu ngài chỉ trích chánh giải thoát, thì những sa-môn, bà-la-môn nào có tà giải thoát sẽ được ngài tôn kính, được ngài tán thán. Này các tỳ khưu, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào cho rằng bài pháp thoại Đại Tứ Thập này đáng bị chỉ trích, đáng bị bác bỏ, thì ngay trong hiện tại, mười luận điểm đúng pháp để tranh luận và phản bác này sẽ đến với vị ấy, khiến vị ấy đáng bị khiển trách. Này các tỳ khưu, ngay cả những người ở xứ Okkalā, là Vassabhaññā, những người theo vô nhân luận, vô tác luận, đoạn diệt luận, cũng không nghĩ rằng bài pháp thoại Đại Tứ Thập này đáng bị chỉ trích, đáng bị bác bỏ. Vì sao vậy? Vì sợ bị chê bai, bị công kích, bị khiển trách.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahācattārīsakasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Đại Tứ Thập, thứ bảy, chấm dứt.