- Itivuttaka 88
- Tikanipāta
- Catutthavagga
Bản dịch
ITI 88 — Kinh Vết Nhơ Ở Bên Trong
Antarāmalasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, ba cái này là các vết nhơ ở bên trong, các kẻ thù ở bên trong, các đối thủ ở bên trong, các sát thủ ở bên trong, các kẻ nghịch ở bên trong. Ba cái gì?
Này các tỳ khưu, tham là vết nhơ ở bên trong, kẻ thù ở bên trong, đối thủ ở bên trong, sát thủ ở bên trong, kẻ nghịch ở bên trong. Này các tỳ khưu, sân là vết nhơ ở bên trong, kẻ thù ở bên trong, đối thủ ở bên trong, sát thủ ở bên trong, kẻ nghịch ở bên trong. Này các tỳ khưu, si là vết nhơ ở bên trong, kẻ thù ở bên trong, đối thủ ở bên trong, sát thủ ở bên trong, kẻ nghịch ở bên trong.
Này các tỳ khưu, ba cái này là các vết nhơ ở bên trong, các kẻ thù ở bên trong, các đối thủ ở bên trong, các sát thủ ở bên trong, các kẻ nghịch ở bên trong.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Tham là sự sanh ra điều bất lợi, tham là sự kích động của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong.
3. Người bị khởi tham không biết được sự lợi ích, người bị khởi tham không nhìn thấy lý lẽ. Tham ngự trị người nào, khi ấy người bị mù quáng tối tăm.
4. Và người nào sau khi dứt bỏ tham và không bị khởi tham ở vật gợi tham, tham được dứt bỏ khỏi người ấy, tựa như giọt nước lìa khỏi lá sen.
5. Sân là sự sanh ra điều bất lợi, sân là sự kích động của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong.
6. Người bị nóng giận không biết được sự lợi ích, người bị nóng giận không nhìn thấy lý lẽ. Sự nóng giận ngự trị người nào, khi ấy người bị mù quáng tối tăm.
7. Và người nào sau khi dứt bỏ sân và không bị khởi sân ở vật gợi sân, sân được dứt bỏ khỏi người ấy, tựa như trái cây tālā lìa khỏi cuống.
8. Si là sự sanh ra điều bất lợi, si là sự kích động của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong.
9. Người bị si mê không biết được sự lợi ích, người bị si mê không nhìn thấy lý lẽ. Si ngự trị người nào, khi ấy người bị mù quáng tối tăm.
10. Và người nào sau khi dứt bỏ si và không bị khởi si ở vật gợi si, vị ấy tiêu diệt tất cả si mê, tựa như mặt trời đang mọc tiêu diệt sự tối tăm.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 88
- The Book of the Threes
- Chapter Four
Inner Stains
9. Kinh Cấu Uế Bên Trong
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
88. Điều này đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Tayome, bhikkhave, antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā. Katame tayo? Lobho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Doso, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Moho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Ime kho, bhikkhave, tayo antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three inner stains, inner foes, inner enemies, inner killers, and inner adversaries. What three? Greed, hate, and delusion. These three are inner stains, inner foes, inner enemies, inner killers, and inner adversaries.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có ba thứ này là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, tham là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong. Này các Tỳ khưu, sân là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong. Này các Tỳ khưu, si là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong. Này các Tỳ khưu, chính ba thứ này là cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về vấn đề ấy, được nói như sau:
“Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati.
“Greed creates harm; greed upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within.
“Tham lam sinh ra bất lợi, tham lam làm tâm khuấy động; Mối nguy sinh từ bên trong, người đời không nhận biết được.”
Luddho atthaṁ na jānāti, luddho dhammaṁ na passati;
A greedy person doesn’t know the good. A greedy person doesn’t see the truth.
“Kẻ tham không biết lợi ích, kẻ tham không thấy Chánh pháp; Khi tham lam chế ngự con người, khi ấy là bóng tối mịt mù.”
“Kẻ sân không biết lợi ích, kẻ sân không thấy Chánh pháp; Khi sân hận chế ngự con người, khi ấy là bóng tối mịt mù.”
Yo ca lobhaṁ pahantvāna, lobhaneyye na lubbhati; Lobho pahīyate tamhā, udabindūva pokkharā.
Anatthajanano doso, doso cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati.
Duṭṭho atthaṁ na jānāti, duṭṭho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ doso sahate naraṁ.
Yo ca dosaṁ pahantvāna, dosaneyye na dussati; Doso pahīyate tamhā,
Those who have given up greed, don’t get greedy even when provoked. Greed falls off them like a drop from a lotus-leaf.
Hate creates harm; hate upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within.
A hateful person doesn’t know the good. A hateful person doesn’t see the truth. When a person is beset by hate, only blind darkness is left.
Those who have given up hate, don’t get angry even when provoked. Hate falls off them
“Vị nào đoạn trừ được si, không si mê trong những gì đáng si; Vị ấy diệt trừ tất cả si mê, như mặt trời mọc xua tan bóng tối.”
“Vị nào đoạn trừ được sân, không sân hận trong những gì đáng sân; Sân hận từ vị ấy rơi rụng, như quả thốt nốt chín rụng cuống.”
Anatthajanano moho, moho cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati.
Delusion creates harm; delusion upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within.
“Si mê sinh ra bất lợi, si mê làm tâm khuấy động; Mối nguy sinh từ bên trong, người đời không nhận biết được.”
Mūḷho atthaṁ na jānāti, mūḷho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ moho sahate naraṁ.
Yo ca mohaṁ pahantvāna, mohaneyye na muyhati; Mohaṁ vihanti so sabbaṁ, ādiccovudayaṁ taman”ti.
A deluded person doesn’t know the good. A deluded person doesn’t see the truth. When a person is beset by delusion, only blind darkness is left.
Those who have given up delusion, don’t get deluded even when provoked. They banish all delusion, as the rising sun the dark.”
“Kẻ si không biết lợi ích, kẻ si không thấy Chánh pháp; Khi si mê chế ngự con người, khi ấy là bóng tối mịt mù.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ chín.