- Itivuttaka 8
- Ekakanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 8 — Kinh Biết Toàn Diện Ngã Mạn
Mānapariññāsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, người không biết rõ, không biết toàn diện ngã mạn, tâm không xa lìa sự luyến ái ở nơi ấy, không dứt bỏ, thì không thể diệt trừ khổ đau. Này các tỳ khưu, còn người biết rõ, biết toàn diện ngã mạn, tâm xa lìa sự luyến ái ở nơi ấy, dứt bỏ, thì có thể diệt trừ khổ đau.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Các sinh mạng này sở hữu ngã mạn, bị trói buộc bởi ngã mạn, thích thú ở hữu, trong khi không biết toàn diện ngã mạn là những người đi đến sự hiện hữu lại nữa.
Còn những ai đã dứt bỏ ngã mạn, được giải thoát ở sự diệt trừ hoàn toàn ngã mạn, họ là những người chiến thắng sự trói buộc của ngã mạn, đã vượt qua tất cả khổ đau.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 8
- The Book of the Ones
- Chapter One
Complete Understanding of Conceit
8. Kinh Liễu Tri Mạn
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
8. Điều này đã được Thế Tôn thuyết giảng, đã được bậc A-la-hán thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Mānaṁ, bhikkhave, anabhijānaṁ aparijānaṁ tattha cittaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya. Mānañca kho, bhikkhave, abhijānaṁ parijānaṁ tattha cittaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, without directly knowing and completely understanding conceit, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. By directly knowing and completely understanding conceit, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, người không thắng tri, không liễu tri mạn, không ly tham, không từ bỏ tâm ở nơi ấy thì không có khả năng đoạn tận khổ đau. Và này các Tỳ khưu, người thắng tri, liễu tri mạn, ly tham, từ bỏ tâm ở nơi ấy thì có khả năng đoạn tận khổ đau.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về vấn đề ấy, điều này được nói lên:
“Mānupetā ayaṁ pajā, mānaganthā bhave ratā; Mānaṁ aparijānantā, āgantāro punabbhavaṁ.
“These folk are caught up in conceit, tied by conceit, delighting in existence. Not completely understanding conceit, they return in future lives.
“Chúng sanh này bị mạn chi phối, bị mạn trói buộc, ưa thích trong các cõi hữu; do không liễu tri mạn, họ là những người phải tái sanh.
Ye ca mānaṁ pahantvāna, vimuttā mānasaṅkhaye; Te mānaganthābhibhuno, sabbadukkhamupaccagun”ti.
Those who have given up conceit, freed with the ending of conceit, vanquishers of the tie of conceit, have risen above all suffering.”
“Còn những vị nào đã từ bỏ mạn, được giải thoát trong sự đoạn tận mạn; các vị ấy đã chế ngự được sự trói buộc của mạn, đã vượt qua mọi khổ đau.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ tám.