- Dīgha Nikāya 9
Bản dịch
DN 9 — Kinh Poṭṭhapāda
Poṭṭhapādasutta
SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana (Kỳ viên), vườn Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda (Bố-sá-bà-lâu) cùng với đại chúng du sĩ ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallikā (Mạt-lê-viên) tên là Ekasālaka có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến.
SC 2PTS cs 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y cầm bát vào Sāvatthi khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sāvatthi, Ta hãy đi đến vườn của hoàng hậu Mallikā tên là Ekasālaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để gặp du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda”. Và Thế Tôn đi đến vườn của hoàng hậu Mallikā, tên là Ekasālaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận về chánh kiến, tà kiến.
SC 3PTS cs 3 Lúc bấy giờ du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda ngồi với đại chúng du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la lối, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa; câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần; câu chuyện về binh lính; các câu chuyện về hãi hùng; câu chuyện về chiến tranh; câu chuyện về đồ ăn; câu chuyện về đồ uống; câu chuyện về đồ mặc; câu chuyện về giường nằm; câu chuyện về vòng hoa; câu chuyện về hương liệu; câu chuyện về bà con; câu chuyện về xe cộ; câu chuyện về làng xóm; câu chuyện về thị trấn; câu chuyện về thành phố; câu chuyện về quốc độ; câu chuyện về đàn bà; câu chuyện về đàn ông; câu chuyện về vị anh hùng; câu chuyện bên lề đường; câu chuyện tại chỗ lấy nước; câu chuyện về người đã chết; các câu chuyện tạp thoại; câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương; câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu.
SC 4PTS cs 4 Du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: “Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Ðại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây”. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.
SC 5PTS cs 5 Rồi Thế Tôn đến du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda. Và du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn: “Thiện tai Thế Tôn! Hoan nghênh Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn không quá bộ đến đây. Mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn”.
SC 6Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với du sĩ Poṭṭhapāda đã ngồi một bên: “Này Poṭṭhapāda, vấn đề gì các vị đang ngồi thảo luận? Vấn đề gì đang nói mà bị gián đoạn?”
SC 7PTS cs 6 Khi nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên câu chuyện chúng tôi đang ngồi bàn luận, bạch Thế Tôn, lát nữa Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, thuở xưa xưa lắm, nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo tụ họp, ngồi hội thảo trong giảng đường nêu lên vấn đề sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 9“Này Tôn giả, tăng thượng tưởng diệt tận như thế nào?” Một vài vị trả lời: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt! Khi tưởng sanh con người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng”. Như vậy, một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 10Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, tưởng là tự ngã của con người, chính tưởng ấy đến và đi. Khi tưởng ấy đến thì con người có tưởng, khi tưởng ấy đi thì con người không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 11Vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần thông và đại oai lực. Chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và cũng kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 12Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những vị thiên thần có đại thần thông, có đại oai lực, chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con tưởng niệm đến Thế Tôn: “Mong Thế Tôn có mặt ở đây! Mong Thiện thệ có mặt ở đây! Ngài rất tinh thông những pháp này. Chắc chắn Thế Tôn biết rõ sự diệt tận các tăng thượng tưởng”. Bạch Thế Tôn, sự diệt tận các tăng thượng tưởng như thế nào?
SC 13PTS cs 7 Này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt”. Những vị này đã sai lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Này Poṭṭhapāda, chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.
Và Thế Tôn nói
SC 14—Sự học tập ấy là gì? Này Poṭṭhapāda, nay ở đời Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40–43 trừ đoạn kết của mỗi đoạn) thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Này Poṭṭhapāda, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh đầy đủ? Ở đây này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43–62) … như dùng ảo thuật để yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa … ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên … như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 15PTS cs 8 Này Poṭṭhapāda, và như vậy Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Này Poṭṭhapāda, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.
SC 16PTS cs 9 Này Poṭṭhapāda, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Poṭṭhapāda, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo hộ trì các căn … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 65–74) …
SC 17PTS cs 10 Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan, nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ. Dục tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật do ly dục sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật, do ly dục sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 18PTS cs 11 Lại nữa, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do ly dục sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 19PTS cs 12 “Lại nữa này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và trú thiền thứ ba. Tưởng hỷ lạc chơn thật vi diệu do định sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên và cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 20PTS cs 13 Lại nữa này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy xả lạc chơn thật vi diệu xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 21PTS cs 14 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi sắc tưởng, với sự diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, với sự không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy sắc tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do sự học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 22PTS cs 15 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi Không vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 23PTS cs 16 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 24PTS cs 17 Lại nữa này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Poṭṭhapāda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
SC 25PTS cs 18 Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Trước đây ngươi đã nghe sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng này không?
SC 26- Bạch Thế Tôn, con không có nghe. Bạch Thế Tôn, nhưng nay con hiểu lời nói của Thế Tôn.
SC 27- Này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này, khi đứng lại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng, có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên. Vậy ta hãy đừng có suy tưởng”. Và vị này không có suy tưởng. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác cũng không khởi lên. Vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy này Poṭṭhapāda là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
SC 28- Như vậy là phải, này Poṭṭhapāda!
SC 29PTS cs 19 - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ nói đến một tưởng tuyệt đỉnh hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
SC 30- Này Poṭṭhapāda, Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
SC 31- Bạch Thế Tôn, làm sao Thế Tôn nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
SC 32- Này Poṭṭhapāda, tùy theo vị ấy cảm thọ sự diệt tận (của một tưởng) sau tưởng khác, vị ấy đạt tới nhiều tuyệt đỉnh sai khác, cái này tiếp theo cái kia cho đến tuyệt đỉnh cuối cùng mà Ta nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh. Này Poṭṭhapāda như vậy Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
SC 33PTS cs 20 - Bạch Thế Tôn, tưởng khởi trước, trí khởi sau; hay trí khởi trước tưởng khởi sau; hay tưởng và trí cùng khởi một lần không trước không sau?
SC 34- Này Poṭṭhapāda, tưởng khởi trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ tri: “Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta”. Này Poṭṭhapāda, với lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng sanh trí mới sanh.
SC 35PTS cs 21 - Bạch Thế Tôn, tưởng có phải là tự ngã của con người hay tưởng khác, tự ngã khác?
SC 36- Này Poṭṭhapāda, ngươi hiểu tự ngã như thế nào?
SC 37- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành, và do đoàn thực nuôi dưỡng.
SC 38- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, như vậy này Poṭṭhapāda, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 39PTS cs 22 - Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn.
SC 40- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, như vậy này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 41- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành.
SC 42PTS cs 23 - Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, với sự nhận thức này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sự tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, tuy vậy, một vài tưởng khác của người khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 43PTS cs 24 - Bạch Thế Tôn, con có thể hiểu được chăng “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”?
SC 44- Này Poṭṭhapāda, thật khó cho ngươi biết được “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”, vì ngươi có dị kiến, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác.
SC 45PTS cs 25 - Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con biết được “tưởng là tự ngã của con người”, hay “tưởng khác, tự ngã khác” vì con có dị kiến khác, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác, thời bạch Thế Tôn, thế giới có phải là thường còn không? Chỉ có quan niệm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 46- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 47- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 48- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 49- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới này là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 50- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 51- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 52- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 53PTS cs 26 - Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng và thân thể là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thật, ngoài ra là mê muội không?
SC 54- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thân thể và sinh mạng là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 55- Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng khác, thân thể khác? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 56- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Sinh mạng khác, thân thể khác. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 57PTS cs 27 - Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại sau khi chết? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 58- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 59- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 60- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 61- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 62- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 63- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 64- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 65PTS cs 28 - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời?
SC 66- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.
SC 67PTS cs 29 - Bạch Thế Tôn, vậy Thế Tôn trả lời những gì?
SC 68- Này Poṭṭhapāda, Ta trả lời: “Ðây là khổ”. Ta trả lời: “Ðây là khổ tập”. “Ta trả lời: “Ðây là khổ diệt”. Ta trả lời: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
SC 69PTS cs 30 - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn trả lời?
SC 70- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.
SC 71- Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiên Thệ, như vậy là phải. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Ngài làm gì Ngài xem là phải làm.
SC 72Và Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 73PTS cs 31 Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu, những du sĩ ngoại đạo ấy liền bao vây xung quanh du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Poṭṭhapāda này là như vậy, những gì Sa-môn Gotama nói đều được Poṭṭhapāda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, “hay Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”.
SC 74Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda nói với các du sĩ ngoại đạo kia
SC 75—Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị tuyên bố một phương pháp như thực, chân chánh, chân thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại không tán thành?
SC 76PTS cs 32 Hai ba ngày sau, Citta Hatthisāriputta và du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đi đến nơi, Citta Hatthisāriputta đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 77—Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu những du sĩ ngoại đạo liền bao vây xung quanh con và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Poṭṭhapāda này là như vậy. Những gì Sa-môn Gotama nói đều được Poṭṭhapāda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải, Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo kia: “Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường con”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hưu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác” hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn thánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại có thể không tán thành?”
SC 78PTS cs 33 - Này Poṭṭhapāda, những vị du sĩ ngoại đạo ấy là mù, không có mắt, chỉ có ngươi là người có mắt độc nhất giữa chúng. Này Poṭṭhapāda, có những pháp được Ta truyền thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, có những pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? “Thế giới là thường còn”, Này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là vô thường”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là hữu biên”, này Poṭṭhapāda … “Thế giới là vô biên”, này Poṭṭhapāda … “Sinh mạng và thân thể là một”, này Poṭṭhapāda … “Sinh mạng khác, thân thể khác”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai có tồn tại và cũng không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai không có tồn tại và cũng không không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát.
SC 79Này Poṭṭhapāda, vì sao những pháp ấy lại được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? Này Poṭṭhapāda, những pháp này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? “Ðây là khổ”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ tập”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ diệt”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách dứt khoát.
SC 80Này Poṭṭhapāda, vì sao những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? Này Poṭṭhapāda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát.
SC 81PTS cs 34 Này Poṭṭhapāda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?
SC 82Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. “Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hành. Này các vị hãy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời không. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác hợp lý?
SC 83PTS cs 35 Như có một người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và ái luyến một người Ông không biết, Ông không thấy?” Ðược hỏi vậy vị ấy trả lời phải. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lý?
SC 84- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 85PTS cs 36 - Như vậy này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”, Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không? Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hạnh! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Poṭṭhapāda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 86- Vâng phải, bạch Thế Tôn sự kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 87PTS cs 37 - Này Poṭṭhapāda, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Poṭṭhapāda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 88- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 89PTS cs 38 - Như vậy này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng thực hành! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được nói vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ như thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 90- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng, hợp lý.
SC 91PTS cs 39 - Này Poṭṭhapāda, có ba loại ngã chấp: thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp. Này Poṭṭhapāda, thế nào là thô phù ngã chấp? Có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngã chấp. Thế nào ý sở thành ngã chấp? Có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ý sở thành ngã chấp. Thế nào là vô sắc ngã chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngã chấp.
SC 92PTS cs 40 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để diệt thô phù ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các người nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
SC 93PTS cs 41 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ ý sở thành ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quãng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác là lạc trú sanh.
SC 94PTS cs 42 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngã chấp. Nếu các ngươi thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
SC 95PTS cs 43 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”
SC 96Khi được chúng hỏi như vậy, chúng tôi trả lời “Này Hiền giả, chính thô phù ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 97PTS cs 44 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi: “Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại?”
SC 98Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính ý sở thành ngã chấp ấy chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 99PTS cs 45 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”. Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 100Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?
SC 101PTS cs 46 Này Poṭṭhapāda, ví như một người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy. Người ấy được hỏi: “Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu, cái lầu ấy về hướng Ðông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung bình? Nếu người ấy trả lời: “Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính tại dưới chân lầu này”. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?
SC 102- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!
SC 103PTS cs 47 - Như vậy, này Poṭṭhapāda, và có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp là gì? … Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp là gì? … Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?” Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 104- Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?
SC 105- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!
SC 106PTS cs 48 Khi nghe nói vậy, Citta Hatthisāriputta bạch Thế Tôn
SC 107—Bạch Thế Tôn, trong khi có thô phù ngã chấp, phải chăng không có ý sở thành ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Thô phù ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có ý sở thành ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Ý sở thành ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có ý sở thành ngã chấp? Vô sắc ngã chấp khi ấy thật có tồn tại.
SC 108PTS cs 49 - Này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, nếu có người hỏi ngươi: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?” Này Citta, được hỏi vậy, ngươi trả lời như thế nào?
SC 109- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?” Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Tôi đã có tồn tại ở quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai, không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.
SC 110PTS cs 50 - Này Citta, nếu có người hỏi lại ngươi: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế nào?
SC 111- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Quá khứ ngã chấp mà tôi đã có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà tôi sẽ có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại. Hiện tại ngã chấp mà tôi hiện có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như vậy.
SC 112PTS cs 51 - Như vậy này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp.
SC 113PTS cs 52 Này Citta, ví như từ bò cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc … khi thành sanh tô … khi thành thục tô … khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.
SC 114PTS cs 53 Như vậy này Citta trong khi có thô phù ngã chấp … Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp … Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.
SC 115PTS cs 54 Ðược nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 116—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 117PTS cs 55 Và Citta Hatthisāriputta cũng bạch Thế Tôn
SC 118—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
SC 119PTS cs 56 Citta Hatthisāriputta được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Citta Hatthisāriputta ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Ðại đức Citta Hatthisāriputta hiểu biết như vậy.
SC 120Và đại đức Citta Hatthisāriputta trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 9
With Poṭṭhapāda
9. Kinh Poṭṭhapāda
1. Poṭṭhapādaparibbājakavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
1. On the Wanderer Poṭṭhapāda
So I have heard.
Câu chuyện về du sĩ Poṭṭhapāda
Tena kho pana samayena poṭṭhapādo paribbājako samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ tiṁsamattehi paribbājakasatehi. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Now at that time the wanderer Poṭṭhapāda was residing together with three hundred wanderers in Mallikā’s single-halled monastery for philosophical debates, hedged by pale-moon ebony trees. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
406. Tôi nghe như vầy—Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, du sĩ Poṭṭhapāda đang cư ngụ trong khu vườn của hoàng hậu Mallikā, tại sảnh đường tranh luận Ekasālaka bên hàng cây Tinduka, cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo khoảng ba trăm người. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Atha kho bhagavato etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo, yena poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti. Atha kho bhagavā yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo tenupasaṅkami.
Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t I go to Mallikā’s monastery to visit the wanderer Poṭṭhapāda?” So that’s what he did.
407. Bấy giờ, Thế Tôn suy nghĩ thế này: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Ta hãy đi đến khu vườn của hoàng hậu Mallikā, tại sảnh đường tranh luận Ekasālaka bên hàng cây Tinduka, nơi du sĩ Poṭṭhapāda đang ở.” Bấy giờ, Thế Tôn đi đến khu vườn của hoàng hậu Mallikā, tại sảnh đường tranh luận Ekasālaka bên hàng cây Tinduka.
Tena kho pana samayena poṭṭhapādo paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā. Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Now at that time, Poṭṭhapāda was sitting together with a large assembly of wanderers making an uproar, a colossal racket. They engaged in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place.
408. Vào lúc bấy giờ, du sĩ Poṭṭhapāda đang ngồi cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo, ồn ào, huyên náo, đang bàn luận nhiều loại hý luận khác nhau. Tức là những chuyện như: chuyện về vua, chuyện về trộm cướp, chuyện về đại thần, chuyện về quân đội, chuyện về sự sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về đồ ăn, chuyện về thức uống, chuyện về y phục, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về bà con, chuyện về xe cộ, chuyện về làng mạc, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về xứ sở, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người đã chết, chuyện tạp lục, chuyện về thế gian, chuyện về biển cả, hay chuyện về sự thịnh suy.
Addasā kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ; disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhapesi: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha. Ayaṁ samaṇo gotamo āgacchati. Appasaddakāmo kho so āyasmā appasaddassa vaṇṇavādī. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti. Evaṁ vutte, te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Poṭṭhapāda saw the Buddha coming off in the distance, and hushed his own assembly, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. Here comes the ascetic Gotama. The venerable likes quiet and praises quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.” Then those wanderers fell silent.
409. Du sĩ Poṭṭhapāda từ xa trông thấy Thế Tôn đang đi đến. Thấy vậy, ông bảo hội chúng của mình giữ im lặng: ‘Thưa quý vị, hãy im lặng. Thưa quý vị, xin đừng làm ồn. Sa-môn Gotama đang đi đến. Vị tôn giả ấy ưa thích sự yên tĩnh và tán thán sự yên tĩnh. Có lẽ khi biết hội chúng đang im lặng, ngài sẽ nghĩ là nên đến gần.’ Khi được nói vậy, các du sĩ ấy đã giữ im lặng.
Atha kho bhagavā yena poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkami. Atha kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “etu kho, bhante, bhagavā. Svāgataṁ, bhante, bhagavato. Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi, yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu, bhante, bhagavā, idaṁ āsanaṁ paññattan”ti.
Then the Buddha approached Poṭṭhapāda, who said to him, “Let the Blessed One come, sir! Welcome to the Blessed One, sir! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please, sir, sit down, here, a seat is ready.”
410. Rồi Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Poṭṭhapāda. Bấy giờ, du sĩ Poṭṭhapāda bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy đến. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã khéo đến. Bạch Thế Tôn, đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đi đến đây. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ngồi, chỗ ngồi này đã được soạn sẵn.’
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Poṭṭhapādopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho poṭṭhapādaṁ paribbājakaṁ bhagavā etadavoca: “kāya nuttha, poṭṭhapāda, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
The Buddha sat down on the seat spread out, while Poṭṭhapāda took a low seat and sat to one side. The Buddha said to him, “Poṭṭhapāda, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Du sĩ Poṭṭhapāda cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Khi du sĩ Poṭṭhapāda đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn hỏi ông rằng: ‘Này Poṭṭhapāda, vừa rồi các ông ngồi hội họp để bàn luận về chuyện gì, và câu chuyện gì của các ông đã bị bỏ dở?’
1.1. Abhisaññānirodhakathā
1.1. On the Cessation of Perception
Bàn Về Sự Diệt Tận Của Tưởng
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “tiṭṭhatesā, bhante, kathā, yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā. Nesā, bhante, kathā bhagavato dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya.
Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni, nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ kotūhalasālāya sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ abhisaññānirodhe kathā udapādi: ‘kathaṁ nu kho, bho, abhisaññānirodho hotī’ti?
Tatrekacce evamāhaṁsu: ‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi. Yasmiṁ samaye uppajjanti, saññī tasmiṁ samaye hoti. Yasmiṁ samaye nirujjhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti. Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha: ‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
When he said this, the wanderer Poṭṭhapāda said to the Buddha, “Sir, leave aside what we were sitting talking about just now. It won’t be hard for you to hear about that later.
Sir, a few days ago several ascetics and brahmins who follow various other religions were sitting together at the debating hall, and a discussion about the cessation of perception came up among them: ‘How does the cessation of perception happen?’
Some of them said: ‘A person’s perceptions arise and cease without cause or reason. When they arise, you become percipient. When they cease, you become non-percipient.’ That’s how some describe the cessation of perception.
But someone else says: ‘That’s not how it is, good fellows!
411. Khi được nói vậy, du sĩ Poṭṭhapāda bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, xin hãy gác lại câu chuyện mà chúng con vừa rồi ngồi hội họp để bàn luận. Câu chuyện ấy, bạch Thế Tôn, không khó để Thế Tôn nghe lại sau này. Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước đây, khi các Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau ngồi hội họp tại giảng đường dành cho các cuộc tranh luận, một cuộc thảo luận về sự diệt tận của tưởng đã khởi lên: ‘Thưa quý vị, sự diệt tận của tưởng xảy ra như thế nào?’ Trong số đó, một số vị nói như sau: ‘Tưởng của một người sanh khởi và diệt đi không do nhân, không do duyên. Vào lúc tưởng sanh khởi, lúc ấy người ấy có tưởng. Vào lúc tưởng diệt đi, lúc ấy người ấy không có tưởng.’ Cứ như thế, một số vị đã trình bày về sự diệt tận của tưởng.
‘Một vị khác lại nói với vị ấy rằng: ‘Thưa ngài, sự việc không phải như vậy. Thưa ngài, vì tưởng chính là tự ngã của một người. Tự ngã ấy đến rồi đi. Vào lúc nó đến, lúc ấy người ấy có tưởng. Vào lúc nó đi, lúc ấy người ấy không có tưởng.’ Cứ như thế, một số vị đã trình bày về sự diệt tận của tưởng.
Tamañño evamāha: ‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati. Santi hi, bho, samaṇabrāhmaṇā mahiddhikā mahānubhāvā. Te imassa purisassa saññaṁ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi. Yasmiṁ samaye upakaḍḍhanti, saññī tasmiṁ samaye hoti. Yasmiṁ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti. Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
But someone else says: ‘That’s not how it is, good fellows! There are ascetics and brahmins of great power and might. They insert and extract a person’s perception. When they insert it, you become percipient. When they extract it, you become non-percipient.’ That’s how some describe the cessation of perception.
‘Một vị khác lại nói với vị ấy rằng: ‘Thưa ngài, sự việc không phải như vậy. Thưa ngài, vì có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần lực, có đại oai lực. Các vị ấy kéo vào và đẩy ra tưởng của người này. Vào lúc các vị ấy kéo vào, lúc ấy người ấy có tưởng. Vào lúc các vị ấy đẩy ra, lúc ấy người ấy không có tưởng.’ Cứ như thế, một số vị đã trình bày về sự diệt tận của tưởng.
Tamañño evamāha: ‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati. Santi hi, bho, devatā mahiddhikā mahānubhāvā. Tā imassa purisassa saññaṁ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi. Yasmiṁ samaye upakaḍḍhanti, saññī tasmiṁ samaye hoti. Yasmiṁ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti. Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
But someone else says: ‘That’s not how it is, good fellows! There are deities of great power and might. They insert and extract a person’s perception. When they insert it, you become percipient. When they extract it, you become non-percipient.’ That’s how some describe the cessation of perception.
‘Một vị khác lại nói với vị ấy rằng: ‘Thưa ngài, sự việc không phải như vậy. Thưa ngài, vì có những chư thiên có đại thần lực, có đại oai lực. Các vị ấy kéo vào và đẩy ra tưởng của người này. Vào lúc các vị ấy kéo vào, lúc ấy người ấy có tưởng. Vào lúc các vị ấy đẩy ra, lúc ấy người ấy không có tưởng.’ Cứ như thế, một số vị đã trình bày về sự diệt tận của tưởng.
Tassa mayhaṁ, bhante, bhagavantaṁyeva ārabbha sati udapādi: ‘aho nūna bhagavā, aho nūna sugato, yo imesaṁ dhammānaṁ sukusalo’ti. Bhagavā, bhante, kusalo, bhagavā pakataññū abhisaññānirodhassa. Kathaṁ nu kho, bhante, abhisaññānirodho hotī”ti?
That reminded me of the Buddha: ‘Surely it must be the Blessed One, the Holy One who is so very skilled in such matters.’ The Buddha is skilled and well-versed concerning the cessation of perception. How does the cessation of perception happen?”
‘Bạch Thế Tôn, khi ấy, con đã khởi lên chánh niệm hướng về Thế Tôn rằng: ‘Ôi, thật hay thay nếu có Thế Tôn! Ôi, thật hay thay nếu có Thiện Thệ, là bậc thiện xảo về các pháp này!’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc thiện xảo, Thế Tôn là bậc liễu tri về sự diệt tận của tưởng. Vậy, bạch Thế Tôn, sự diệt tận của tưởng xảy ra như thế nào?’
1.2. Sahetukasaññuppādanirodhakathā
1.2. Perception Arises With a Cause
Bàn Về Sự Sanh Khởi Và Diệt Tận Của Tưởng Có Nguyên Nhân
“Tatra, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipī’ti, āditova tesaṁ aparaddhaṁ. Taṁ kissa hetu? Sahetū hi, poṭṭhapāda, sappaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi. Sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
“Regarding this, Poṭṭhapāda, those ascetics and brahmins who say that a person’s perceptions arise and cease without cause or reason are wrong from the start. Why is that? Because a person’s perceptions arise and cease with cause and reason. With training, certain perceptions arise and certain perceptions cease.
412. ‘Này Poṭṭhapāda, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói rằng: ‘Tưởng của một người sanh khởi và diệt đi không do nhân, không do duyên,’ thì ngay từ đầu họ đã sai lầm. Vì sao vậy? Này Poṭṭhapāda, tưởng của một người sanh khởi và diệt đi là do có nhân, do có duyên. Do sự tu tập mà một số tưởng sanh khởi, do sự tu tập mà một số tưởng diệt đi.’
Kā ca sikkhā”ti? Bhagavā avoca.
“Idha, poṭṭhapāda, tathāgato loke uppajjati arahaṁ, sammāsambuddho …pe… Evaṁ kho, poṭṭhapāda, bhikkhu sīlasampanno hoti …pe…
tassime pañcanīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi, savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā kāmasaññā, sā nirujjhati. Vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, vivekajapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayaṁ sikkhā”ti bhagavā avoca.
And what is that training?” said the Buddha.
“It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha … That’s how a mendicant is accomplished in ethics. …
Seeing that the hindrances have been given up in them, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when blissful, the mind becomes immersed.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. The sensual perception that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of the rapture and bliss born of seclusion. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
413. ‘Và thế nào là sự học tập?’ Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này Poṭṭhapāda, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (nên được diễn giải rộng như trong các đoạn 190-212). Này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu thành tựu giới như vậy... Khi tự mình thấy rõ năm triền cái này đã được đoạn trừ, sự hân hoan sanh khởi; do hân hoan nên hỷ sanh khởi; do tâm hoan hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên cảm nhận được lạc; do có lạc nên tâm được định tĩnh. Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy, tưởng về dục có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây là sự học tập’.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati. Samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, samādhijapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. The subtle and true perception of the rapture and bliss born of seclusion that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of the rapture and bliss born of immersion. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Vị ấy, tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do ly dục sanh có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do định sanh; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do định sanh. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây cũng là sự học tập’.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati. Upekkhāsukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, upekkhāsukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ The subtle and true perception of the rapture and bliss born of immersion that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of bliss with equanimity. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy, tưởng vi tế chân thật về hỷ lạc do định sanh có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về lạc và xả; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về lạc và xả. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây cũng là sự học tập’.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā upekkhāsukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati. Adukkhamasukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, adukkhamasukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. The subtle and true perception of bliss with equanimity that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of neutral feeling. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu xả lạc, xả khổ, và diệt trừ hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy, tưởng vi tế chân thật về lạc và xả có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về không khổ không lạc; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về không khổ không lạc. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây cũng là sự học tập’.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā rūpasaññā, sā nirujjhati. Ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Furthermore, a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. The perception of luminous form that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of the dimension of infinite space. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng đa dạng, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy, sắc tưởng có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về Không Vô Biên Xứ; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về Không Vô Biên Xứ. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây cũng là sự học tập’.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati. Viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. The subtle and true perception of the dimension of infinite space that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of the dimension of infinite consciousness. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Vị ấy, tưởng vi tế chân thật về Không Vô Biên Xứ có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về Thức Vô Biên Xứ; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về Thức Vô Biên Xứ. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây cũng là sự học tập’.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa yā purimā viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati. Ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. The subtle and true perception of the dimension of infinite consciousness that they had previously ceases. At that time they have a subtle and true perception of the dimension of nothingness. That’s how, with training, certain perceptions arise and certain perceptions cease. And this is that training,” said the Buddha.
Lại nữa, này Poṭṭhapāda, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Vị ấy, tưởng vi tế chân thật về Thức Vô Biên Xứ có trước đây, tưởng ấy được đoạn diệt. Vào lúc ấy, có tưởng vi tế chân thật về Vô Sở Hữu Xứ; vào lúc ấy, vị ấy là người có tưởng vi tế chân thật về Vô Sở Hữu Xứ. Như vậy, do sự học tập, một tưởng sanh khởi; do sự học tập, một tưởng đoạn diệt. Đức Thế Tôn đã nói: ‘Đây cũng là sự học tập’.
“Yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati. Tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti: ‘cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo. Ahañceva kho pana ceteyyaṁ, abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ; yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ na ca abhisaṅkhareyyan’ti. So na ceva ceteti, na ca abhisaṅkharoti. Tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti. So nirodhaṁ phusati. Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hoti.
“Poṭṭhapāda, from the time a mendicant here takes charge of their own perception, they proceed from one stage to the next, progressively reaching the peak of perception. Standing on the peak of perception they think, ‘Intentionality is bad for me, it’s better to be free of it. For if I were to intend and choose, these perceptions would cease in me, and other coarser perceptions would arise. Why don’t I neither make a choice nor form an intention?’ They neither make a choice nor form an intention. Those perceptions cease in them, and other coarser perceptions don’t arise. They touch cessation. And that, Poṭṭhapāda, is how the progressive cessation of perception is attained with awareness.
414. Này Poṭṭhapāda, khi vị tỳ khưu ở đây có tưởng của riêng mình, vị ấy từ đó đến đây, từ đó đến đây, tuần tự chạm đến tưởng tối thượng. Đối với vị ấy, khi đang an trú trong tưởng tối thượng, ý nghĩ này khởi lên: ‘Đối với ta, người đang tác ý thì là xấu hơn, đối với ta, người không tác ý thì là tốt hơn. Nếu ta tác ý, nếu ta nỗ lực, những tưởng này của ta sẽ diệt đi, và những tưởng thô thiển khác sẽ khởi lên; tốt hơn hết là ta không nên tác ý, cũng không nên nỗ lực’. Vị ấy không tác ý, cũng không nỗ lực. Đối với vị ấy, người không tác ý, không nỗ lực, những tưởng ấy diệt đi, và những tưởng thô thiển khác không khởi lên. Vị ấy chạm đến sự diệt. Này Poṭṭhapāda, như vậy là sự chứng đắc tuần tự diệt tưởng với chánh trí.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, api nu te ito pubbe evarūpā anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti sutapubbā”ti?
“No hetaṁ, bhante. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavato bhāsitaṁ ājānāmi: ‘yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati, tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti: “cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo. Ahañceva kho pana ceteyyaṁ abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ; yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ, na ca abhisaṅkhareyyan”ti. So na ceva ceteti, na cābhisaṅkharoti, tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti. So nirodhaṁ phusati. Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hotī’”ti.
“Evaṁ, poṭṭhapādā”ti.
What do you think, Poṭṭhapāda? Have you ever heard of this before?”
“No, sir. This is how I understand what the Buddha said: ‘From the time a mendicant here takes charge of their own perception, they proceed from one stage to the next, progressively reaching the peak of perception. Standing on the peak of perception they think, “Intentionality is bad for me, it’s better to be free of it. For if I were to intend and choose, these perceptions would cease in me, and other coarser perceptions would arise. Why don’t I neither make a choice nor form an intention?” Those perceptions cease in them, and other coarser perceptions don’t arise. They touch cessation. And that is how the progressive cessation of perception is attained with awareness.’”
“That’s right, Poṭṭhapāda.”
Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào về điều đó? Trước đây, ngươi đã từng nghe về sự chứng đắc tuần tự diệt tưởng với chánh trí như vậy chưa? – Thưa Tôn giả, con chưa từng nghe. Thưa Tôn giả, con hiểu lời dạy của Thế Tôn như thế này: ‘Này Poṭṭhapāda, khi vị tỳ khưu ở đây có tưởng của riêng mình, vị ấy từ đó đến đây, từ đó đến đây, tuần tự chạm đến tưởng tối thượng. Đối với vị ấy, khi đang an trú trong tưởng tối thượng, ý nghĩ này khởi lên: “Đối với ta, người đang tác ý thì là xấu hơn, đối với ta, người không tác ý thì là tốt hơn. Nếu ta tác ý, nếu ta nỗ lực, những tưởng này của ta sẽ diệt đi, và những tưởng thô thiển khác sẽ khởi lên; tốt hơn hết là ta không nên tác ý, cũng không nên nỗ lực”. Vị ấy không tác ý, cũng không nỗ lực, đối với vị ấy, người không tác ý, không nỗ lực, những tưởng ấy diệt đi, và những tưởng thô thiển khác không khởi lên. Vị ấy chạm đến sự diệt. Này Poṭṭhapāda, như vậy là sự chứng đắc tuần tự diệt tưởng với chánh trí.’ – Này Poṭṭhapāda, đúng vậy.
“Ekaññeva nu kho, bhante, bhagavā saññaggaṁ paññapeti, udāhu puthūpi saññagge paññapetī”ti?
“Ekampi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, saññaggaṁ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemī”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā ekampi saññaggaṁ paññapeti, puthūpi saññagge paññapetī”ti?
“Yathā yathā kho, poṭṭhapāda, nirodhaṁ phusati tathā tathāhaṁ saññaggaṁ paññapemi. Evaṁ kho ahaṁ, poṭṭhapāda, ekampi saññaggaṁ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemī”ti.
“Does the Buddha describe just one peak of perception, or many?”
“I describe the peak of perception as both one and many.”
“But sir, how do you describe it as one peak and as many?”
“I describe the peak of perception according to the specific manner in which one touches cessation. That’s how I describe the peak of perception as both one and many.”
415. Thưa Tôn giả, có phải Thế Tôn chỉ chế định một tưởng tối thượng duy nhất, hay cũng chế định nhiều tưởng tối thượng? – Này Poṭṭhapāda, Ta chế định một tưởng tối thượng, và Ta cũng chế định nhiều tưởng tối thượng. – Thưa Tôn giả, Thế Tôn chế định một tưởng tối thượng và cũng chế định nhiều tưởng tối thượng như thế nào? – Này Poṭṭhapāda, theo cách nào mà vị ấy chạm đến sự diệt, theo cách đó Ta chế định tưởng tối thượng. Này Poṭṭhapāda, như vậy Ta chế định một tưởng tối thượng, và Ta cũng chế định nhiều tưởng tối thượng.
“Saññā nu kho, bhante, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, udāhu ñāṇaṁ paṭhamaṁ uppajjati, pacchā saññā, udāhu saññā ca ñāṇañca apubbaṁ acarimaṁ uppajjantī”ti?
“Saññā kho, poṭṭhapāda, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hoti. So evaṁ pajānāti: ‘idappaccayā kira me ñāṇaṁ udapādī’ti. Iminā kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ—yathā saññā paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hotī”ti.
“But sir, does perception arise first and knowledge afterwards? Or does knowledge arise first and perception afterwards? Or do they both arise at the same time?”
“Perception arises first and knowledge afterwards. The arising of perception leads to the arising of knowledge. They understand, ‘My knowledge arose from a specific condition.’ That is a way to understand how perception arises first and knowledge afterwards; that the arising of perception leads to the arising of knowledge.”
416. Thưa Tôn giả, có phải tưởng sanh khởi trước, sau đó là trí; hay trí sanh khởi trước, sau đó là tưởng; hay tưởng và trí sanh khởi không trước không sau? – Này Poṭṭhapāda, tưởng sanh khởi trước, sau đó là trí, và do sự sanh khởi của tưởng mà có sự sanh khởi của trí. Vị ấy biết như vầy: ‘Do duyên này mà trí đã sanh khởi cho ta’. Này Poṭṭhapāda, phải hiểu theo phương pháp này rằng: tưởng sanh khởi trước, sau đó là trí, và do sự sanh khởi của tưởng mà có sự sanh khởi của trí.
1.3. Saññāattakathā
1.3. Perception and the Self
Câu chuyện về tưởng và tự ngã
“Saññā nu kho, bhante, purisassa attā, udāhu aññā saññā añño attā”ti?
“Kaṁ pana tvaṁ, poṭṭhapāda, attānaṁ paccesī”ti?
“Oḷārikaṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi rūpiṁ cātumahābhūtikaṁ kabaḷīkārāhārabhakkhan”ti.
“Oḷāriko ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho. Evaṁ santaṁ kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā. Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā. Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, oḷāriko attā rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
“Sir, is perception a person’s self, or are perception and self different things?”
“But Poṭṭhapāda, do you believe in a self?”
“I believe in a solid self, sir, which is formed, made up of the four principal states, and consumes edible food.”
“Suppose there was such a solid self, Poṭṭhapāda. In that case, perception would be one thing, the self another. Here is another way to understand how perception and self are different things. So long as that solid self remains, still some perceptions arise in a person and others cease.
417. Thưa Tôn giả, có phải tưởng là tự ngã của một người, hay tưởng là khác, tự ngã là khác? – Này Poṭṭhapāda, ngươi tin vào tự ngã nào? – Thưa Tôn giả, con tin vào một tự ngã thô thiển, có sắc, do bốn đại chủng tạo thành, nuôi sống bằng vật thực đoàn thực. – Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã của ngươi là thô thiển, có sắc, do bốn đại chủng tạo thành, nuôi sống bằng vật thực đoàn thực, thì trong trường hợp đó, này Poṭṭhapāda, đối với ngươi, tưởng sẽ là khác, tự ngã sẽ là khác. Phải hiểu theo phương pháp này, này Poṭṭhapāda, rằng tưởng sẽ là khác, tự ngã sẽ là khác. Này Poṭṭhapāda, tự ngã thô thiển, có sắc, do bốn đại chủng tạo thành, nuôi sống bằng vật thực đoàn thực ấy vẫn tồn tại, thế nhưng các tưởng khác sanh khởi nơi người này, và các tưởng khác diệt đi. Phải hiểu theo phương pháp này, này Poṭṭhapāda, rằng tưởng sẽ là khác, tự ngã sẽ là khác.
“Manomayaṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyan”ti.
“Manomayo ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, evaṁ santampi kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā. Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā. Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, manomayo attā sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti. Imināpi kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Sir, I believe in a mind-made self which is whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty.”
“Suppose there was such a mind-made self, Poṭṭhapāda. In that case, perception would be one thing, the self another. Here is another way to understand how perception and self are different things. So long as that mind-made self remains, still some perceptions arise in a person and others cease. That too is a way to understand how perception and self are different things.”
418. Thưa Tôn giả, con tin vào một tự ngã do ý tạo thành, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn. – Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã của ngươi là do ý tạo thành, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn, thì ngay cả trong trường hợp đó, này Poṭṭhapāda, đối với ngươi, tưởng sẽ là khác, tự ngã sẽ là khác. Phải hiểu theo phương pháp này, này Poṭṭhapāda, rằng tưởng sẽ là khác, tự ngã sẽ là khác. Này Poṭṭhapāda, tự ngã do ý tạo thành, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn ấy vẫn tồn tại, thế nhưng các tưởng khác sanh khởi nơi người này, và các tưởng khác diệt đi. Phải hiểu theo phương pháp này, này Poṭṭhapāda, rằng tưởng sẽ là khác, tự ngã sẽ là khác.
“Arūpiṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi saññāmayan”ti.
“Arūpī ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa saññāmayo, evaṁ santampi kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā. Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā. Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, arūpī attā saññāmayo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti. Imināpi kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Sir, I believe in a formless self which is made of perception.”
“Suppose there was such a formless self, Poṭṭhapāda. In that case, perception would be one thing, the self another. Here is another way to understand how perception and self are different things. So long as that formless self remains, still some perceptions arise in a person and others cease. That too is a way to understand how perception and self are different things.”
419. – Bạch ngài, con tin rằng tự ngã là vô sắc và được làm bằng tưởng. – Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã của ông là vô sắc và được làm bằng tưởng, thì ngay cả trong trường hợp như vậy, này Poṭṭhapāda, tưởng sẽ là một đằng và tự ngã sẽ là một nẻo. Này Poṭṭhapāda, điều này cần được hiểu theo phương pháp này, rằng tưởng sẽ là một đằng và tự ngã sẽ là một nẻo. Này Poṭṭhapāda, tự ngã vô sắc được làm bằng tưởng ấy vẫn tồn tại, tuy nhiên các tưởng khác nhau sanh khởi nơi người này, và các tưởng khác nhau diệt đi. Này Poṭṭhapāda, cũng theo phương pháp này, điều này cần được hiểu rằng tưởng sẽ là một đằng và tự ngã sẽ là một nẻo.
“Sakkā panetaṁ, bhante, mayā ñātuṁ: ‘saññā purisassa attā’ti vā ‘aññāva saññā añño attā’ti vā”ti?
“Dujjānaṁ kho etaṁ, poṭṭhapāda, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena: ‘saññā purisassa attā’ti vā, ‘aññāva saññā añño attāti’ vā”ti.
“But, sir, am I able to know whether perception is a person’s self, or whether perception and self are different things?”
“It’s hard for you to understand this, since you have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination.”
420. – Bạch ngài, con có thể biết được điều này chăng: ‘Tưởng là tự ngã của một người’ hay là ‘tưởng là một đằng, tự ngã là một nẻo’? – Này Poṭṭhapāda, thật khó cho ông, người có tà kiến, có khuynh hướng khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có vị thầy khác, để biết được rằng: ‘Tưởng là tự ngã của một người’ hay là ‘tưởng là một đằng, tự ngã là một nẻo’.
“Sacetaṁ, bhante, mayā dujjānaṁ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena: ‘saññā purisassa attā’ti vā, ‘aññāva saññā añño attā’ti vā; kiṁ pana, bhante, ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, poṭṭhapāda, mayā: ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Well, if that’s the case, sir, then what do you make of this: ‘The cosmos is eternal. This is the only truth, anything else is futile’?”
“This has not been declared by me, Poṭṭhapāda.”
– Bạch ngài, nếu điều ấy khó cho con liễu tri, vì con có tà kiến, có khuynh hướng khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có vị thầy khác, về việc ‘tưởng là tự ngã của một người’ hay là ‘tưởng là một đằng, tự ngã là một nẻo’; vậy thì, bạch ngài, thế gian có phải là thường hằng, chỉ có điều này là chân thật, còn điều khác là sai lầm chăng? – Này Poṭṭhapāda, điều này đã không được Như Lai tuyên bố: ‘Thế gian là thường hằng, chỉ có điều này là chân thật, còn điều khác là sai lầm’.
“Kiṁ pana, bhante, ‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Etampi kho, poṭṭhapāda, mayā abyākataṁ: ‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Then what do you make of this: ‘The cosmos is not eternal. This is the only truth, anything else is futile’?”
“This too has not been declared by me.”
– Vậy thì, bạch ngài, ‘thế gian có phải là không thường hằng, chỉ có điều này là chân thật, còn điều khác là sai lầm’ chăng? – Này Poṭṭhapāda, điều này cũng đã không được Như Lai tuyên bố: ‘Thế gian là không thường hằng, chỉ có điều này là chân thật, còn điều khác là sai lầm’.
“Kiṁ pana, bhante, ‘antavā loko …pe… ‘anantavā loko … ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ … ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ … ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā … ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā … ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā … ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Etampi kho, poṭṭhapāda, mayā abyākataṁ: ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Then what do you make of this: ‘The cosmos is finite …’ … ‘The cosmos is infinite …’ … ‘The soul and the body are one and the same …’ … ‘The soul is one thing, the body another …’ … ‘A realized one still exists after death …’ … ‘A realized one no longer exists after death …’ … ‘A realized one both still exists and no longer exists after death …’ … ‘A realized one neither still exists nor no longer exists after death. This is the only truth, anything else is futile’?”
“This too has not been declared by me.”
– Vậy thì, bạch ngài, ‘thế gian là hữu biên...’ ... ‘thế gian là vô biên...’ ‘sinh mạng và thân thể là một...’ ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác...’ ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết...’ ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết...’ ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết...’ ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là chân thật, còn điều khác là sai lầm’ chăng? – Này Poṭṭhapāda, điều này cũng đã không được Như Lai tuyên bố: ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là chân thật, còn điều khác là sai lầm’.
“Kasmā panetaṁ, bhante, bhagavatā abyākatan”ti?
“Na hetaṁ, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, tasmā etaṁ mayā abyākatan”ti.
“Why haven’t these things been declared by the Buddha?”
“Because they’re not beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I haven’t declared them.”
– Nhưng tại sao, bạch ngài, điều này lại không được Thế Tôn tuyên bố? – Này Poṭṭhapāda, vì điều này không liên quan đến mục đích, không liên quan đến Chánh Pháp, không phải là nền tảng của phạm hạnh, không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết Bàn. Do đó, điều này đã không được Như Lai tuyên bố.
“Kiṁ pana, bhante, bhagavatā byākatan”ti?
“Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā byākatan”ti.
“Then what has been declared by the Buddha?”
“I have declared this: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.”
– Vậy thì, bạch ngài, điều gì đã được Thế Tôn tuyên bố? – Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là khổ’ đã được Như Lai tuyên bố. Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là nguồn sanh của khổ’ đã được Như Lai tuyên bố. Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là sự diệt khổ’ đã được Như Lai tuyên bố. Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’ đã được Như Lai tuyên bố.
“Kasmā panetaṁ, bhante, bhagavatā byākatan”ti?
“Etañhi, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ, etaṁ dhammasaṁhitaṁ, etaṁ ādibrahmacariyakaṁ, etaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati; tasmā etaṁ mayā byākatan”ti.
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti. Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
“Why have these things been declared by the Buddha?”
“Because they are beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. They lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I have declared them.”
“That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! Please, sir, go at your convenience.” Then the Buddha rose from his seat and left.
– Nhưng tại sao, bạch ngài, điều này lại được Thế Tôn tuyên bố? – Này Poṭṭhapāda, vì điều này liên quan đến mục đích, liên quan đến Chánh Pháp, là nền tảng của phạm hạnh, đưa đến sự nhàm chán, đưa đến sự ly tham, đưa đến sự đoạn diệt, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết Bàn. Do đó, điều này đã được Như Lai tuyên bố. – Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Bạch ngài, bây giờ Thế Tôn hãy đi vào lúc nào mà ngài cho là thích hợp. Bấy giờ, Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Atha kho te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato poṭṭhapādaṁ paribbājakaṁ samantato vācā sannitodakena sañjhabbharimakaṁsu: “evameva panāyaṁ bhavaṁ poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati, taṁ tadevassa abbhanumodati: ‘evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugatā’ti. Na kho pana mayaṁ kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāma: ‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā, ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti.
Soon after the Buddha left, those wanderers beset Poṭṭhapāda on all sides with sneering and jeering. “No matter what the ascetic Gotama says, Poṭṭhapāda agrees with him: ‘That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One!’ We understand that the ascetic Gotama didn’t give any categorical teaching at all regarding whether the cosmos is eternal and so on.”
421. Bấy giờ, không lâu sau khi Thế Tôn ra đi, các du sĩ ấy đã vây quanh du sĩ Poṭṭhapāda và tấn công ông ta bằng một trận mưa lời nói chế nhạo: – Tôn giả Poṭṭhapāda này chỉ biết tán thưởng bất cứ điều gì mà Sa-môn Gotama nói: ‘Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ!’ Nhưng chúng ta không biết bất cứ giáo pháp xác quyết nào được Sa-môn Gotama thuyết giảng – dù là ‘thế gian là thường hằng’ hay ‘thế gian là không thường hằng’, ‘thế gian là hữu biên’ hay ‘thế gian là vô biên’, ‘sinh mạng và thân thể là một’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’, ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’ hay ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’ hay ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’.
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako te paribbājake etadavoca: “ahampi kho, bho, na kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: ‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā; api ca samaṇo gotamo bhūtaṁ tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapeti dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ. Bhūtaṁ kho pana tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapentassa dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ, kathañhi nāma mādiso viññū samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā”ti?
When they said this, Poṭṭhapāda said to them, “I too understand that the ascetic Gotama didn’t give any categorical teaching at all regarding whether the cosmos is eternal and so on. Nevertheless, the practice that he describes is true, real, and accurate. It is the regularity of natural principles, the surety of natural principles. So how on earth could a sensible person such as I not agree that what was well spoken by the ascetic Gotama was in fact well spoken?”
Khi được nói như vậy, du sĩ Poṭṭhapāda đã nói với các du sĩ ấy rằng: – Thưa các ngài, tôi cũng không biết bất cứ giáo pháp xác quyết nào được Sa-môn Gotama thuyết giảng – dù là ‘thế gian là thường hằng’ hay ‘thế gian là không thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Tuy nhiên, Sa-môn Gotama đã tuyên thuyết một con đường thực tại, chân xác, như thật, được thiết lập trong Chánh Pháp, tuân theo quy luật của Chánh Pháp. Khi ngài tuyên thuyết một con đường thực tại, chân xác, như thật, được thiết lập trong Chánh Pháp, tuân theo quy luật của Chánh Pháp, làm sao một người có trí tuệ như tôi lại không thể tán thưởng lời khéo nói của Sa-môn Gotama là đã được khéo nói chứ?
2. Cittahatthisāriputtapoṭṭhapādavatthu
2. On Citta Hatthisāriputta
Câu chuyện về Citta con trai của người huấn luyện voi và du sĩ Poṭṭhapāda.
Atha kho dvīhatīhassa accayena citto ca hatthisāriputto poṭṭhapādo ca paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā citto hatthisāriputto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Poṭṭhapādo pana paribbājako bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “tadā maṁ, bhante, te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato samantato vācāsannitodakena sañjhabbharimakaṁsu: ‘evameva panāyaṁ bhavaṁ poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati, taṁ tadevassa abbhanumodati: “evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugatā”ti. Na kho pana mayaṁ kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāma: “sassato loko”ti vā, “asassato loko”ti vā, “antavā loko”ti vā, “anantavā loko”ti vā, “taṁ jīvaṁ taṁ sarīran”ti vā, “aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran”ti vā, “hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā’ti. Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te paribbājake etadavocaṁ: ‘ahampi kho, bho, na kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: “sassato loko”ti vā, “asassato loko”ti vā …pe… “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā; api ca samaṇo gotamo bhūtaṁ tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapeti dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ. Bhūtaṁ kho pana tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapentassa dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ, kathañhi nāma mādiso viññū samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā’”ti?
Then after two or three days had passed, Citta Hatthisāriputta and Poṭṭhapāda went to the Buddha. Citta Hatthisāriputta bowed and sat down to one side. But the wanderer Poṭṭhapāda exchanged greetings with the Buddha, and when the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Poṭṭhapāda told the Buddha what had happened after he left. The Buddha said:
422. Rồi sau đó, sau hai ba ngày, Citta con trai của người quản tượng và du sĩ Poṭṭhapāda đã đi đến nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, Citta con trai của người quản tượng đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Poṭṭhapāda đã cùng với Thế Tôn nói lên lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, du sĩ Poṭṭhapāda đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, khi ấy, sau khi Thế Tôn vừa mới rời đi không lâu, các vị du sĩ kia đã dùng những lời lẽ châm chích mà tấn công con từ mọi phía: ‘Quả thật, Tôn giả Poṭṭhapāda này, bất cứ điều gì Sa-môn Gotama nói, ông ta đều tán thán điều ấy: “Thế Tôn, điều này là như vậy; Thiện Thệ, điều này là như vậy.” Thế nhưng, chúng tôi không biết bất cứ giáo pháp nhất định (ekaṃsikaṃ) nào được Sa-môn Gotama thuyết giảng, như là: “Thế giới là thường hằng,” hay “Thế giới là không thường hằng,” hay “Thế giới là hữu biên,” hay “Thế giới là vô biên,” hay “Sinh mạng và thân thể là một,” hay “Sinh mạng và thân thể là khác,” hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết,” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết,” hay “Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết,” hay “Như Lai vừa không tồn tại vừa không không tồn tại sau khi chết.”’ Bạch ngài, khi được nói như vậy, con đã nói với các vị du sĩ ấy điều này: ‘Thưa các ngài, tôi cũng vậy, tôi không biết bất cứ giáo pháp nhất định nào được Sa-môn Gotama thuyết giảng, như là: ‘Thế giới là thường hằng,’ hay ‘Thế giới là không thường hằng,’... cho đến... ‘Như Lai vừa không tồn tại vừa không không tồn tại sau khi chết.’ Tuy nhiên, Sa-môn Gotama đã chế định con đường thực hành là chân thật, xác thực, đúng đắn, có sự an trú trong Pháp, có quy luật của Pháp. Và đối với người đã chế định con đường thực hành là chân thật, xác thực, đúng đắn, có sự an trú trong Pháp, có quy luật của Pháp, thì làm sao một người có trí như tôi lại không tán thán lời khéo nói của Sa-môn Gotama là lời khéo nói được chứ?’”
“Sabbeva kho ete, poṭṭhapāda, paribbājakā andhā acakkhukā; tvaṁyeva nesaṁ eko cakkhumā. Ekaṁsikāpi hi kho, poṭṭhapāda, mayā dhammā desitā paññattā; anekaṁsikāpi hi kho, poṭṭhapāda, mayā dhammā desitā paññattā.
“All those wanderers, Poṭṭhapāda, are blind and sightless. You are the only one whose eyes are clear. For I have taught and pointed out teachings that are categorical and also teachings that are not categorical.
423. “Này Poṭṭhapāda, tất cả các du sĩ ấy đều mù lòa, không có mắt; chỉ một mình ngươi trong số họ là có mắt. Này Poṭṭhapāda, quả thật Ta đã thuyết giảng và chế định các pháp nhất định; và này Poṭṭhapāda, quả thật Ta cũng đã thuyết giảng và chế định các pháp phi nhất định.”
Katame ca te, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā? ‘Sassato loko’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto; ‘asassato loko’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto;
And what teachings have I taught and pointed out as not categorical? ‘The cosmos is eternal’ … ‘The cosmos is not eternal’ …
“Và này Poṭṭhapāda, những pháp phi nhất định nào đã được Ta thuyết giảng và chế định? Này Poṭṭhapāda, ‘Thế giới là thường hằng’ là pháp phi nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định. Này Poṭṭhapāda, ‘Thế giới là không thường hằng’ là pháp phi nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định. Này Poṭṭhapāda, ‘Thế giới là hữu biên’... cho đến... ‘Thế giới là vô biên’... ‘Sinh mạng và thân thể là một’... ‘Sinh mạng và thân thể là khác’... ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’... ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’... ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’... Này Poṭṭhapāda, ‘Như Lai vừa không tồn tại vừa không không tồn tại sau khi chết’ là pháp phi nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định.”
424. “Và này Poṭṭhapāda, những pháp nhất định nào đã được Ta thuyết giảng và chế định? Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là khổ’ là pháp nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định. Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là nguyên nhân của khổ’ là pháp nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định. Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là sự diệt khổ’ là pháp nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định. Này Poṭṭhapāda, ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’ là pháp nhất định đã được Ta thuyết giảng và chế định.”
Kasmā ca te, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā? Na hete, poṭṭhapāda, atthasaṁhitā na dhammasaṁhitā na ādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti. Tasmā te mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā.
2.1. Ekaṁsikadhammā
Katame ca te, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā? Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto. Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto. Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto. Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
And why have I taught and pointed out such teachings as not categorical? Because those things aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I have taught and pointed out such teachings as not categorical.
2.1. Teachings That Are Categorical
And what teachings have I taught and pointed out as categorical? ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
“Và vì sao, này Poṭṭhapāda, những pháp phi nhất định ấy đã được Ta thuyết giảng và chế định? Này Poṭṭhapāda, vì chúng không liên quan đến lợi ích, không liên quan đến Pháp, không phải là nền tảng của phạm hạnh, không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn. Do đó, chúng đã được Ta thuyết giảng và chế định là các pháp phi nhất định.”
Kasmā ca te, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā? Ete hi, poṭṭhapāda, atthasaṁhitā, ete dhammasaṁhitā, ete ādibrahmacariyakā ete nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti. Tasmā te mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā.
And why have I taught and pointed out such teachings as categorical? Because they are beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. They lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why I have taught and pointed out such teachings as categorical.
“Và vì sao, này Poṭṭhapāda, những pháp nhất định ấy đã được Ta thuyết giảng và chế định? Này Poṭṭhapāda, vì chúng liên quan đến lợi ích, liên quan đến Pháp, là nền tảng của phạm hạnh, chúng đưa đến sự nhàm chán, đưa đến sự ly tham, đưa đến sự đoạn diệt, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Do đó, chúng đã được Ta thuyết giảng và chế định là các pháp nhất định.”
Santi, poṭṭhapāda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti? Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘The self is absolutely happy and free of disease after death.’ I go up to them and say, ‘Is it really true that this is the venerables’ view?’ And they answer, ‘Yes’. I say to them, ‘But do you meditate knowing and seeing an absolutely happy world?’ Asked this, they say, ‘No.’
425. “Này Poṭṭhapāda, có một số Sa-môn và Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn an lạc và không bệnh tật.’ Ta đi đến họ và nói như vầy: ‘Có thật chăng các Tôn giả có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn an lạc và không bệnh tật”?’ Khi được Ta hỏi như vậy, nếu họ thừa nhận: ‘Vâng,’ Ta lại nói với họ như vầy: ‘Vậy các Tôn giả có đang sống, biết và thấy một thế giới hoàn toàn an lạc không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’”
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto jānātha: “ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā, tāsaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha: “suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya; mayampi hi, mārisā, evaṁpaṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
I say to them, ‘But have you perceived an absolutely happy self for a single day or night, or even half a day or night?’ Asked this, they say, ‘No.’
I say to them, ‘But do you know a path and a practice to realize an absolutely happy world?’ Asked this, they say, ‘No.’
I say to them, ‘But have you ever heard the voice of the deities reborn in an absolutely happy world saying, “Practice well, good fellows, practice directly so as to realize an absolutely happy world. For this is how we practiced, and we were reborn in an absolutely happy world”?’ Asked this, they say, ‘No.’
Ta hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có tự mình nhận biết được một bản ngã hoàn toàn an lạc trong một đêm, hoặc một ngày, hoặc nửa đêm, hoặc nửa ngày không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’ Ta lại hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có biết rằng: “Đây là con đường, đây là pháp hành để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc” không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
What do you think, Poṭṭhapāda? This being so, doesn’t what they say turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
‘Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ thế nào về điều này? Khi sự việc là như vậy, có phải lời nói của các vị Sa-môn và Bà-la-môn ấy trở thành vô căn cứ không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chắc chắn là vậy. Khi sự việc là như vậy, lời nói của các vị Sa-môn và Bà-la-môn ấy trở thành vô căn cứ.’
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī, taṁ icchāmi taṁ kāmemī’ti. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā’ti? Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ evaṁnāmā evaṅgottāti vā, dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti, amukasmiṁ gāme vā nigame vā nagare vā’ti? Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti? Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
“Suppose, Poṭṭhapāda, a man were to say: ‘Whoever the finest lady in the land is, it is her that I want, her that I desire!’ They’d say to him, ‘My man, that finest lady in the land who you desire—do you know whether she’s an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial?’ Asked this, he’d say, ‘No.’ They’d say to him, ‘My friend, that finest lady in the land who you desire—do you know her name or clan? Whether she’s tall or short or medium? Whether her skin is black, brown, or dingy? Whether she comes from such-and-such village, town, or city?’ Asked this, he’d say, ‘No.’ They’d say to him, ‘My man, do you desire someone who you’ve never even known or seen?’ Asked this, he’d say, ‘Yes.’
426. ‘Này Poṭṭhapāda, ví như có người đàn ông nói rằng: ‘Tôi mong muốn, tôi khao khát người phụ nữ đẹp nhất xứ ở trong xứ này.’ Người ta có thể nói với anh ta rằng: ‘Này bạn, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà bạn mong muốn, khao khát đó, bạn có biết cô ấy thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’ Người ta lại có thể nói với anh ta rằng: ‘Này bạn, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà bạn mong muốn, khao khát đó, bạn có biết cô ấy tên gì, dòng họ gì, cao, thấp, hay trung bình, da đen, da ngăm, hay da vàng nhạt, ở làng nào, thị trấn nào, hay thành phố nào không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’ Người ta lại có thể nói với anh ta rằng: ‘Này bạn, người mà bạn không biết, không thấy, bạn lại mong muốn, khao khát người ấy sao?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Vâng.’
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
What do you think, Poṭṭhapāda? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
‘Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ thế nào về điều này? Khi sự việc là như vậy, có phải lời nói của người đàn ông ấy trở thành vô căn cứ không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chắc chắn là vậy. Khi sự việc là như vậy, lời nói của người đàn ông ấy trở thành vô căn cứ.’
“Evameva kho, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti? Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
“In the same way, the ascetics and brahmins who have that doctrine and view …
‘Cũng vậy, này Poṭṭhapāda, đối với những Sa-môn và Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Sau khi chết, bản ngã hoàn toàn an lạc, không bệnh hoạn.’ Ta đến gần họ và hỏi như sau: ‘Có thật là các hiền giả có thuyết như vầy, có kiến như vầy: “Sau khi chết, bản ngã hoàn toàn an lạc, không bệnh hoạn” không?’ Khi được ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Vâng.’ Ta lại hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có đang sống trong khi biết và thấy thế giới hoàn toàn an lạc không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto jānātha: “ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Ta hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có tự mình nhận biết được một bản ngã hoàn toàn an lạc trong một đêm, hoặc một ngày, hoặc nửa đêm, hoặc nửa ngày không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’ Ta lại hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có biết rằng: “Đây là con đường, đây là pháp hành để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc” không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā, tāsaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha: “suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya; mayampi hi, mārisā, evaṁpaṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Ta hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có nghe được tiếng nói của các vị chư thiên đã sanh vào thế giới hoàn toàn an lạc, đang nói rằng: “Này các bạn, các bạn đã khéo thực hành, này các bạn, các bạn đã thực hành chân chánh, để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc; vì rằng, này các bạn, chính chúng tôi cũng đã thực hành như vậy nên đã sanh vào thế giới hoàn toàn an lạc” không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
Doesn’t what they say turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
‘Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ thế nào về điều này? Khi sự việc là như vậy, có phải lời nói của các vị Sa-môn và Bà-la-môn ấy trở thành vô căn cứ không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chắc chắn là vậy. Khi sự việc là như vậy, lời nói của các vị Sa-môn và Bà-la-môn ấy trở thành vô căn cứ.’
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso cātumahāpathe nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti? Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, tassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosī’ti? Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“Suppose a man was to build a ladder at the crossroads for climbing up to a stilt longhouse. They’d say to him, My friend, that stilt longhouse for which you’re building a ladder—do you know whether it’s to the north, south, east, or west? Or whether it’s tall or short or medium?’ Asked this, he’d say, ‘No.’ They’d say to him, ‘My man, are you building a ladder for a longhouse that you’ve never even known or seen?’ Asked this, he’d say, ‘Yes.’
What do you think, Poṭṭhapāda? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
“In the same way, the ascetics and brahmins who have those various doctrines and views …
427. ‘Này Poṭṭhapāda, ví như có người đàn ông đang làm một cái thang ở ngã tư đường để leo lên một tòa lâu đài. Người ta có thể nói với anh ta rằng: ‘Này bạn, cái thang mà bạn đang làm để leo lên tòa lâu đài đó, bạn có biết tòa lâu đài ấy ở hướng đông, hướng nam, hướng tây, hay hướng bắc, là cao, thấp, hay trung bình không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Không.’ Người ta lại có thể nói với anh ta rằng: ‘Này bạn, bạn đang làm một cái thang để leo lên tòa lâu đài mà bạn không biết, không thấy sao?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Vâng.’
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
436. “Này Poṭṭhapāda, cũng tương tự như vậy, nếu những người khác hỏi chúng ta như vầy: ‘Thưa hiền giả, thế nào là sự thủ đắc tự ngã thô thiển ấy?... (v.v.)... Thưa hiền giả, thế nào là sự thủ đắc tự ngã do ý tạo ấy?... (v.v.)... Thưa hiền giả, thế nào là sự thủ đắc tự ngã vô sắc ấy, mà các ngài thuyết Pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo lời dạy thì các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ?’ Khi được hỏi như vậy, chúng ta sẽ trả lời họ như sau: ‘Thưa hiền giả, đây chính là sự thủ đắc tự ngã vô sắc ấy, mà chúng tôi thuyết Pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo lời dạy thì các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ.’”
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā tāsaṁ devatānaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha: “suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya; mayampi hi, mārisā, evaṁ paṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti? Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
Doesn’t what they say turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
Ta hỏi họ như sau: ‘Này các hiền giả, các vị có nghe được tiếng nói của các vị chư thiên đã sanh vào thế giới hoàn toàn an lạc, đang nói rằng: “Này các bạn, các bạn đã khéo thực hành, này các bạn, các bạn đã thực hành chân chánh, để chứng ngộ thế giới hoàn toàn an lạc; vì rằng, này các bạn, chính chúng tôi cũng đã thực hành như vậy nên đã sanh vào thế giới hoàn toàn an lạc” không?’ Khi được hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Không.’
2.2. Tayoattapaṭilābha
2.2. Three Kinds of Incarnation
Ba loại thủ đắc tự ngã
“Tayo kho me, poṭṭhapāda, attapaṭilābhā—oḷāriko attapaṭilābho, manomayo attapaṭilābho, arūpo attapaṭilābho. Katamo ca, poṭṭhapāda, oḷāriko attapaṭilābho? Rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, ayaṁ oḷāriko attapaṭilābho. Katamo manomayo attapaṭilābho? Rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, ayaṁ manomayo attapaṭilābho. Katamo arūpo attapaṭilābho? Arūpī saññāmayo, ayaṁ arūpo attapaṭilābho.
“Poṭṭhapāda, there are these three kinds of incarnation: a solid incarnation, a mind-made incarnation, and a formless incarnation. And what is a solid incarnation? It is formed, made up of the four principal states, and consumes edible food. What is a mind-made incarnation? It is formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty. What is a formless incarnation? It is formless, made of perception.
428. Này Poṭṭhapāda, có ba loại thủ đắc tự ngã này: thủ đắc tự ngã thô, thủ đắc tự ngã do ý tạo, và thủ đắc tự ngã vô sắc. Và này Poṭṭhapāda, thế nào là thủ đắc tự ngã thô? Đó là tự ngã có sắc, do bốn đại hợp thành, nuôi sống bằng đoàn thực. Đây là thủ đắc tự ngã thô. Thế nào là thủ đắc tự ngã do ý tạo? Đó là tự ngã có sắc, do ý tạo, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn. Đây là thủ đắc tự ngã do ý tạo. Thế nào là thủ đắc tự ngã vô sắc? Đó là tự ngã không có sắc, do tưởng tạo thành. Đây là thủ đắc tự ngã vô sắc.
Oḷārikassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi: ‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti. Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa: ‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti. Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
I teach the Dhamma for the giving up of reincarnation in these three kinds of incarnation. ‘When you practice accordingly, corrupting qualities will be given up in you and cleansing qualities will grow. You’ll enter and remain in the fullness and abundance of wisdom, having realized it with your own insight in this very life.’ Poṭṭhapāda, you might think: ‘Corrupting qualities will be given up and cleansing qualities will grow. One will enter and remain in the fullness and abundance of wisdom, having realized it with one’s own insight in this very life. But such a life is suffering.’ But you should not see it like this. Corrupting qualities will be given up and cleansing qualities will grow. One will enter and remain in the fullness and abundance of wisdom, having realized it with one’s own insight in this very life. And there will be only joy and happiness, tranquility, mindfulness and awareness. Such a life is blissful.
429. Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để đoạn trừ cả sự thủ đắc tự ngã thô. Khi các ông thực hành đúng pháp, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ tăng trưởng, và các ông sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại. Này Poṭṭhapāda, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ tăng trưởng, và vị ấy sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại, nhưng sự an trú ấy sẽ là khổ đau’. Này Poṭṭhapāda, không nên nhìn nhận như vậy. Các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ tăng trưởng, và vị ấy sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại, và sẽ có hân hoan, có hỷ, có khinh an, có niệm, có tỉnh giác, và sự an trú an lạc.
Manomayassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi: ‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti. Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa: ‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti. Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
430. Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để đoạn trừ cả sự thủ đắc tự ngã do ý tạo. Khi các ông thực hành đúng pháp, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ tăng trưởng, và các ông sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại. Này Poṭṭhapāda, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ tăng trưởng, và vị ấy sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại, nhưng sự an trú ấy sẽ là khổ đau’. Này Poṭṭhapāda, không nên nhìn nhận như vậy. Các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ tăng trưởng, và vị ấy sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại, và sẽ có hân hoan, có hỷ, có khinh an, có niệm, có tỉnh giác, và sự an trú an lạc.
Arūpassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi: ‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti. Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa: ‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti. Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
431. Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ sự thủ đắc tự ngã vô sắc, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ. Này Poṭṭhapāda, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ, nhưng sự an trú ấy sẽ là khổ đau.’ Này Poṭṭhapāda, không nên nhìn nhận như vậy. Các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ, và sẽ có sự hân hoan, có hỷ, có khinh an, có niệm, có tỉnh giác, và sự an trú sẽ là an lạc.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamo pana so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti, tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma: ‘ayaṁ vā so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho, yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Poṭṭhapāda, if others should ask us, ‘But reverends, what is that solid incarnation for the giving up of which you teach?’ We’d answer like this, ‘<em>This</em> is that solid incarnation.’
432. Này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta như vầy: ‘Thưa các hiền giả, sự thủ đắc tự ngã thô thiển ấy là gì, mà các ngài thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ?’ Khi được hỏi như vậy, chúng ta sẽ trả lời họ như sau: ‘Thưa các hiền giả, đây chính là sự thủ đắc tự ngã thô thiển ấy, mà chúng tôi thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ.’
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamo pana so, āvuso, manomayo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti? Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma: ‘ayaṁ vā so, āvuso, manomayo attapaṭilābho yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
If others should ask us, ‘But reverends, what is that mind-made incarnation?’ We’d answer like this, ‘<em>This</em> is that mind-made incarnation.’
433. Này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta như vầy: ‘Thưa các hiền giả, sự thủ đắc tự ngã do ý tạo ấy là gì, mà các ngài thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ?’ Khi được hỏi như vậy, chúng ta sẽ trả lời họ như sau: ‘Thưa các hiền giả, đây chính là sự thủ đắc tự ngã do ý tạo ấy, mà chúng tôi thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ.’
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamo pana so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti? Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma: ‘ayaṁ vā so, āvuso, arūpo attapaṭilābho yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
If others should ask us, ‘But reverends, what is that formless incarnation?’ We’d answer like this, ‘<em>This</em> is that formless incarnation.’
434. Này Poṭṭhapāda, nếu những người khác hỏi chúng ta như vầy: ‘Thưa các hiền giả, sự thủ đắc tự ngã vô sắc ấy là gì, mà các ngài thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ?’ Khi được hỏi như vậy, chúng ta sẽ trả lời họ như sau: ‘Thưa các hiền giả, đây chính là sự thủ đắc tự ngã vô sắc ấy, mà chúng tôi thuyết giảng giáo pháp để đoạn trừ nó, để cho những ai thực hành đúng theo, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và ngay trong hiện tại, các vị ấy sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt, và an trú trong sự viên mãn và sung mãn của trí tuệ.’
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
What do you think, Poṭṭhapāda? This being so, doesn’t that statement turn out to have a demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ thế nào? Khi sự việc là như vậy, có phải lời nói đã được trình bày một cách hợp lý không? Thưa vâng, bạch Thế Tôn, khi sự việc là như vậy, chắc chắn lời nói đã được trình bày một cách hợp lý.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya tasseva pāsādassa heṭṭhā. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ, puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti? So evaṁ vadeyya: ‘ayaṁ vā so, āvuso, pāsādo, yassāhaṁ ārohaṇāya nisseṇiṁ karomi, tasseva pāsādassa heṭṭhā’ti.
“Suppose a man were to build a ladder for climbing up to a stilt longhouse right underneath that longhouse. They’d say to him, ‘My man, that stilt longhouse for which you’re building a ladder—do you know whether it’s to the north, south, east, or west? Or whether it’s tall or short or medium?’ He’d say, ‘This is that stilt longhouse for which I’m building a ladder, right underneath it.’
435. Này Poṭṭhapāda, ví như có người đàn ông đang làm một cái thang ở ngay dưới chân một tòa lâu đài để trèo lên tòa lâu đài ấy. Người ta có thể nói với ông ta như vầy: ‘Này ông bạn, ông đang làm một cái thang để trèo lên tòa lâu đài, vậy ông có biết tòa lâu đài ấy ở hướng đông, hướng nam, hướng tây, hay hướng bắc, nó cao, thấp, hay trung bình không?’ Vị ấy sẽ trả lời như vầy: ‘Thưa các hiền giả, đây chính là tòa lâu đài mà tôi đang làm thang để trèo lên, ngay dưới chân của chính tòa lâu đài ấy.’
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, pare ce amhe evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamo pana so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho …pe… katamo pana so, āvuso, manomayo attapaṭilābho …pe… katamo pana so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti? Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma: ‘ayaṁ vā so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
What do you think, Poṭṭhapāda? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have a demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, sir.”
Này Poṭṭhapāda, ông nghĩ thế nào? Khi sự việc là như vậy, có phải lời nói của người đàn ông ấy đã được trình bày một cách hợp lý không? Thưa vâng, bạch Thế Tôn, khi sự việc là như vậy, chắc chắn lời nói của người đàn ông ấy đã được trình bày một cách hợp lý.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti? “Addhā kho, bhante, evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Khi sự việc là như vậy, há chẳng phải lời nói (của ta) trở nên có cơ sở hay sao?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn là vậy. Khi sự việc là như vậy, lời nói (của ngài) trở nên có cơ sở.”
Evaṁ vutte, citto hatthisāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “yasmiṁ, bhante, samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti; oḷāriko vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hoti. Yasmiṁ, bhante, samaye manomayo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti; manomayo vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hoti. Yasmiṁ, bhante, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho manomayo attapaṭilābho hoti; arūpo vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hotī”ti.
When the Buddha had spoken, Citta Hatthisāriputta said, “Sir, when reincarnated in a solid incarnation, are the mind-made and formless incarnations fictitious, and only the solid incarnation real? When reincarnated in a mind-made incarnation, are the solid and formless incarnations fictitious, and only the mind-made incarnation real? When reincarnated in a formless incarnation, are the solid and mind-made incarnations fictitious, and only the formless incarnation real?”
437. Khi được nói như vậy, Citta, con của người nài voi, bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, vào lúc có sự thủ đắc tự ngã thô thiển, thì vào lúc ấy sự thủ đắc tự ngã do ý tạo là trống rỗng, sự thủ đắc tự ngã vô sắc là trống rỗng; và vào lúc ấy, sự thủ đắc tự ngã thô thiển của người ấy là chân thật. Bạch Thế Tôn, vào lúc có sự thủ đắc tự ngã do ý tạo, thì vào lúc ấy sự thủ đắc tự ngã thô thiển là trống rỗng, sự thủ đắc tự ngã vô sắc là trống rỗng; và vào lúc ấy, sự thủ đắc tự ngã do ý tạo của người ấy là chân thật. Bạch Thế Tôn, vào lúc có sự thủ đắc tự ngã vô sắc, thì vào lúc ấy sự thủ đắc tự ngã thô thiển là trống rỗng, sự thủ đắc tự ngã do ý tạo là trống rỗng; và vào lúc ấy, sự thủ đắc tự ngã vô sắc của người ấy là chân thật.”
“Yasmiṁ, citta, samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati; oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati. Yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati; manomayo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati. Yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati; arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
“When reincarnated in a solid incarnation, it’s not referred to as a mind-made or formless incarnation, only as a solid incarnation. When reincarnated in a mind-made incarnation, it’s not referred to as a solid or formless incarnation, only as a mind-made incarnation. When reincarnated in a formless incarnation, it’s not referred to as a solid or mind-made incarnation, only as a formless incarnation.
“Này Citta, vào lúc có sự thủ đắc tự ngã thô thiển, thì vào lúc ấy nó không được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã do ý tạo,’ cũng không được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã vô sắc;’ mà vào lúc ấy, nó chỉ được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã thô thiển.’ Này Citta, vào lúc có sự thủ đắc tự ngã do ý tạo, thì vào lúc ấy nó không được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã thô thiển,’ cũng không được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã vô sắc;’ mà vào lúc ấy, nó chỉ được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã do ý tạo.’ Này Citta, vào lúc có sự thủ đắc tự ngã vô sắc, thì vào lúc ấy nó không được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã thô thiển,’ cũng không được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã do ý tạo;’ mà vào lúc ấy, nó chỉ được gọi là ‘sự thủ đắc tự ngã vô sắc.’”
Sace taṁ, citta, evaṁ puccheyyuṁ: ‘ahosi tvaṁ atītamaddhānaṁ, na tvaṁ nāhosi; bhavissasi tvaṁ anāgatamaddhānaṁ, na tvaṁ na bhavissasi; atthi tvaṁ etarahi, na tvaṁ natthī’ti. Evaṁ puṭṭho tvaṁ, citta, kinti byākareyyāsī”ti?
Citta, suppose they were to ask you, ‘Did you exist in the past? Will you exist in the future? Do you exist now?’ How would you answer?”
438. “Này Citta, nếu có người hỏi ngươi như vầy: ‘Có phải ngươi đã tồn tại trong quá khứ, chứ không phải là không tồn tại? Có phải ngươi sẽ tồn tại trong tương lai, chứ không phải là sẽ không tồn tại? Có phải ngươi đang tồn tại ở hiện tại, chứ không phải là không tồn tại?’ Khi được hỏi như vậy, này Citta, ngươi sẽ trả lời thế nào?”
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘ahosi tvaṁ atītamaddhānaṁ, na tvaṁ na ahosi; bhavissasi tvaṁ anāgatamaddhānaṁ, na tvaṁ na bhavissasi; atthi tvaṁ etarahi, na tvaṁ natthī’ti. Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘ahosāhaṁ atītamaddhānaṁ, nāhaṁ na ahosiṁ; bhavissāmahaṁ anāgatamaddhānaṁ, nāhaṁ na bhavissāmi; atthāhaṁ etarahi, nāhaṁ natthī’ti. Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, citta, evaṁ puccheyyuṁ: ‘yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno? Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno? Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
“Sir, if they were to ask me this, I’d answer like this, ‘I did exist in the past. I will exist in the future. I do exist now.’ That’s how I’d answer.”
“But Citta, suppose they were to ask you, ‘Is the reincarnation you had in the past your only real one, and those of the future and present fictitious? Is the reincarnation you will have in the future your only real one, and those of the past and present fictitious? Is the reincarnation you have now your only real one, and those of the past and future fictitious?’
“Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: ‘Có phải ngươi đã tồn tại trong quá khứ, chứ không phải là không tồn tại? Có phải ngươi sẽ tồn tại trong tương lai, chứ không phải là sẽ không tồn tại? Có phải ngươi đang tồn tại ở hiện tại, chứ không phải là không tồn tại?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: ‘Tôi đã tồn tại trong quá khứ, chứ không phải là không tồn tại. Tôi sẽ tồn tại trong tương lai, chứ không phải là sẽ không tồn tại. Tôi đang tồn tại ở hiện tại, chứ không phải là không tồn tại.’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.”
“Này Citta, nhưng nếu có người hỏi ngươi như vầy: ‘Sự thủ đắc tự ngã trong quá khứ của ngươi đã từng có, có phải chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của ngươi là chân thật, còn sự thủ đắc trong tương lai là trống rỗng, sự thủ đắc trong hiện tại là trống rỗng? Sự thủ đắc tự ngã trong tương lai của ngươi sẽ có, có phải chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của ngươi là chân thật, còn sự thủ đắc trong quá khứ là trống rỗng, sự thủ đắc trong hiện tại là trống rỗng? Sự thủ đắc tự ngã trong hiện tại của ngươi đang có, có phải chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của ngươi là chân thật, còn sự thủ đắc trong quá khứ là trống rỗng, sự thủ đắc trong tương lai là trống rỗng?’ Khi được hỏi như vậy, này Citta, ngươi sẽ trả lời thế nào?”
“Sace pana maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti. Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘yo me ahosi atīto attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco ahosi, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo me bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco bhavissati, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo me etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti. Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sir, if they were to ask me this, I’d answer like this, ‘The reincarnation I had in the past was real at that time, and those of the future and present fictitious. The reincarnation I will have in the future will be real at the time, and those of the past and present fictitious. The reincarnation I have now is real at this time, and those of the past and future fictitious.’ That’s how I’d answer.”
“Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: ‘Sự thủ đắc tự ngã trong quá khứ của ngươi đã từng có, có phải chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của ngươi là chân thật, còn sự thủ đắc trong tương lai là trống rỗng, sự thủ đắc trong hiện tại là trống rỗng? Sự thủ đắc tự ngã trong tương lai của ngươi sẽ có, có phải chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của ngươi là chân thật, còn sự thủ đắc trong quá khứ là trống rỗng, sự thủ đắc trong hiện tại là trống rỗng? Sự thủ đắc tự ngã trong hiện tại của ngươi đang có, có phải chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của ngươi là chân thật, còn sự thủ đắc trong quá khứ là trống rỗng, sự thủ đắc trong tương lai là trống rỗng?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: ‘Sự thủ đắc tự ngã trong quá khứ của tôi đã từng có, vào lúc ấy chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của tôi là chân thật, còn sự thủ đắc trong tương lai là trống rỗng, sự thủ đắc trong hiện tại là trống rỗng. Sự thủ đắc tự ngã trong tương lai của tôi sẽ có, vào lúc ấy chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của tôi sẽ là chân thật, còn sự thủ đắc trong quá khứ là trống rỗng, sự thủ đắc trong hiện tại là trống rỗng. Sự thủ đắc tự ngã trong hiện tại của tôi đang có, chỉ sự thủ đắc tự ngã ấy của tôi là chân thật, còn sự thủ đắc trong quá khứ là trống rỗng, sự thủ đắc trong tương lai là trống rỗng.’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.”
“Evameva kho, citta, yasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati. Oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati. Yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti …pe… yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati; arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
“In the same way, while in any one of the three reincarnations, it’s not referred to as the other two, only under its own name.
439. Này Citta, cũng tương tự như vậy, vào lúc có được sự hiện hữu của tự ngã thô thiển, thì vào lúc ấy không được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã do ý tạo, cũng không được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã vô sắc. Vào lúc ấy, chỉ được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã thô thiển. Này Citta, vào lúc có được sự hiện hữu của tự ngã do ý tạo... (v.v.)... Này Citta, vào lúc có được sự hiện hữu của tự ngã vô sắc, thì vào lúc ấy không được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã thô thiển, cũng không được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã do ý tạo; vào lúc ấy, chỉ được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã vô sắc.
Seyyathāpi, citta, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo. Yasmiṁ samaye khīraṁ hoti, neva tasmiṁ samaye dadhīti saṅkhaṁ gacchati, na navanītanti saṅkhaṁ gacchati, na sappīti saṅkhaṁ gacchati, na sappimaṇḍoti saṅkhaṁ gacchati; khīrantveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati. Yasmiṁ samaye dadhi hoti …pe… navanītaṁ hoti … sappi hoti … sappimaṇḍo hoti, neva tasmiṁ samaye khīranti saṅkhaṁ gacchati, na dadhīti saṅkhaṁ gacchati, na navanītanti saṅkhaṁ gacchati, na sappīti saṅkhaṁ gacchati; sappimaṇḍotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati. Evameva kho, citta, yasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti …pe… yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti …pe… yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati; arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati. Imā kho, citta, lokasamaññā lokaniruttiyo lokavohārā lokapaññattiyo, yāhi tathāgato voharati aparāmasan”ti.
From a cow comes milk, from milk comes curds, from curds come butter, from butter comes ghee, and from ghee comes cream of ghee. And the cream of ghee is said to be the best of these. While it’s milk, it’s not referred to as curds, butter, ghee, or cream of ghee. It’s only referred to as milk. While it’s curd or butter or ghee or cream of ghee, it’s not referred to as anything else, only under its own name. In the same way, while in any one of the three incarnations, it’s not referred to as the other two, only under its own name. These are the world’s common usages, definitions, expressions, and descriptions, which the Realized One uses to communicate without getting stuck on them.”
440. Này Citta, ví như từ bò có sữa, từ sữa có sữa đông, từ sữa đông có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ luyện, từ bơ luyện có tinh chất bơ. Vào lúc là sữa, thì vào lúc ấy không được gọi là sữa đông, không được gọi là bơ tươi, không được gọi là bơ luyện, không được gọi là tinh chất bơ; vào lúc ấy, chỉ được gọi là sữa. Vào lúc là sữa đông... (v.v.)... là bơ tươi... là bơ luyện... là tinh chất bơ, thì vào lúc ấy không được gọi là sữa, không được gọi là sữa đông, không được gọi là bơ tươi, không được gọi là bơ luyện; vào lúc ấy, chỉ được gọi là tinh chất bơ. Này Citta, cũng tương tự như vậy, vào lúc có được sự hiện hữu của tự ngã thô thiển... (v.v.)... Này Citta, vào lúc có được sự hiện hữu của tự ngã do ý tạo... (v.v.)... Này Citta, vào lúc có được sự hiện hữu của tự ngã vô sắc, thì vào lúc ấy không được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã thô thiển, cũng không được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã do ý tạo; vào lúc ấy, chỉ được gọi là có được sự hiện hữu của tự ngã vô sắc. Này Citta, đây là những danh xưng của thế gian, những ngôn từ của thế gian, những cách nói của thế gian, những khái niệm của thế gian, mà Như Lai sử dụng nhưng không chấp thủ.
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, the wanderer Poṭṭhapāda said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, so too the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
441. Khi được nói như vậy, du sĩ Poṭṭhapāda bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, cũng như người ta lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy được các hình sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong đức Thế Tôn ghi nhận con là một cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’
2.3. Cittahatthisāriputtaupasampadā
2.3. The Ordination of Citta Hatthisāriputta
Sự Thọ Cụ Túc Giới của Citta, Con Trai Người Nài Voi
Citto pana hatthisāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
But Citta Hatthisāriputta said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, so too the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
442. Còn Citta, con trai của người nài voi, bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, cũng như người ta lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy được các hình sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, mong rằng con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của đức Thế Tôn, mong rằng con được thọ cụ túc giới.’
Alattha kho citto hatthisāriputto bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā citto hatthisāriputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto na cirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthAttāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā citto hatthisāriputto arahataṁ ahosīti.
And Citta Hatthisāriputta received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Citta Hatthisāriputta, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness. He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Citta Hatthisāriputta became one of the perfected.
443. Và Citta, con trai của người nài voi, đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của đức Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới. Không bao lâu sau khi thọ cụ túc giới, Tôn giả Citta Hatthisāriputta, sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, đã không bao lâu tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Và Tôn giả Citta Hatthisāriputta đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Poṭṭhapādasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Poṭṭhapāda, kinh thứ chín, đã kết thúc.