Chuyện ông Jīvaka
Ðích đã đến, không sầu, Giải thoát ngoài tất cả, Ðoạn trừ mọi buộc ràng, Vị ấy không nhiệt não.
Bản dịch
Arahantavagga
Ðích đã đến, không sầu, Giải thoát ngoài tất cả, Ðoạn trừ mọi buộc ràng, Vị ấy không nhiệt não.
Tự sách tấn chánh niệm, Không thích cư xá nào, Như ngỗng trời rời ao, Bỏ sau mọi trú ẩn.
Tài sản không chất chứa, Ăn uống biết liễu trì, Tự tại trong hành xứ, Không vô tướng, giải thoát, Như chim giữa hư không, Hướng chúng đi khó tìm.
Ai lậu hoặc đoạn sạch, Ăn uống không tham đắm, Tự tại trong hành xứ, Không, vô tướng, giải thoát. Như chim giữa hư không, Dấu chân thật khó tìm.
Ai nhiếp phục các căn, Như đánh xe điều ngự, Mạn trừ, lậu hoặc dứt, Người vậy, Chư Thiên mến.
Như đất không hiềm hận, Như cột trụ kiên trì, Như hồ, không bùn nhơ, Không luân hồi, vị ấy.
Người tâm ý an tịnh, Lời an, nghiệp cũng an, Chánh trí, chơn giải thoát, Tịnh lạc là vị ấy.
Không tin, hiểu Vô vi. Người cắt mọi hệ lụy, Cơ hội tận, xả ly Vị ấy thật tối thượng.
Làng mạc hay rừng núi Thung lũng hay đồi cao, La-hán trú chỗ nào, Ðất ấy thật khả ái.
Khả ái thay núi rừng, Chỗ người phàm không ưa, Vị ly tham ưa thích, Vì không tìm dục lạc.
Hết phẩm A-la-hán
Bản dịch: HT. Thích Minh Châu
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: HT. Thích Minh Châu
Tiểu Bộ Kinh
Kinh Pháp Cú
Phẩm A-la-hán
Chuyện ông Jīvaka
Gataddhino visokassa,
At journey’s end, rid of sorrow;
Ðích đã đến, không sầu,
Giải thoát ngoài tất cả,
Ðoạn trừ mọi buộc ràng,
Vị ấy không nhiệt não.
Chuyện Trưởng lão Mahā Kassapa (Ca-diếp)
Uyyuñjanti satīmanto,
The mindful apply themselves;
Tự sách tấn chánh niệm,
Không thích cư xá nào,
Như ngỗng trời rời ao,
Bỏ sau mọi trú ẩn.
Chuyện Trưởng lão Belaṭṭhasīsa
Yesaṁ sannicayo natthi,
Those with nothing stored up,
Tài sản không chất chứa,
Ăn uống biết liễu trì,
Tự tại trong hành xứ,
Không vô tướng, giải thoát,
Như chim giữa hư không,
Hướng chúng đi khó tìm.
Chuyện Trưởng lão Anuruddha (A-nậu-lâu-đà)
Yassāsavā parikkhīṇā,
One whose defilements have ended;
Ai lậu hoặc đoạn sạch,
Ăn uống không tham đắm,
Tự tại trong hành xứ,
Không, vô tướng, giải thoát.
Như chim giữa hư không,
Dấu chân thật khó tìm.
Chuyện Trưởng lão Mahā Kaccāyana (Ca-chiên-diên)
Yassindriyāni samathaṅgatāni,
Whose faculties have become serene,
Ai nhiếp phục các căn,
Như đánh xe điều ngự,
Mạn trừ, lậu hoặc dứt,
Người vậy, Chư Thiên mến.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Pathavisamo no virujjhati,
Undisturbed like the earth,
Như đất không hiềm hận,
Như cột trụ kiên trì,
Như hồ, không bùn nhơ,
Không luân hồi, vị ấy.
Chuyện Trưởng lão Tissa ở xứ Kosambi
Santaṁ tassa manaṁ hoti,
Their mind is peaceful,
Người tâm ý an tịnh,
Lời an, nghiệp cũng an,
Chánh trí, chơn giải thoát,
Tịnh lạc là vị ấy.
Chuyện Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Assaddho akataññū ca,
Lacking faith, a house-breaker,
Không tin, hiểu Vô vi.
Người cắt mọi hệ lụy,
Cơ hội tận, xả ly
Vị ấy thật tối thượng.
Chuyện Trưởng lão Revata ở rừng Keo
Gāme vā yadi vāraññe,
Whether in village or wilderness,
Làng mạc hay rừng núi
Thung lũng hay đồi cao,
La-hán trú chỗ nào,
Ðất ấy thật khả ái.
Chuyện người nữ quyến rũ sa-môn
Ramaṇīyāni araññāni,
Delightful are the wildernesses
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc.
Arahantavaggo sattamo.
Hết phẩm A-la-hán