- Aṅguttara Nikāya 9.38
- 4. Mahāvagga
Bản dịch
AN 9.38 — Các Bà-La-Môn
Lokāyatikasutta
TTC 1Rồi hai vị Thuận thế Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:
TTC 2—Thưa Tôn giả Gotama, Pùrana Kassapa, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: “Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục thường hằng”. Vị ấy nói như sau: “Với trí vô biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên”. Thưa Tôn giả Gotama, Nigantha Nàtaputta, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: “Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục thường hằng”. Vị ấy nói như sau: “Với trí hữu biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên”. Thưa Tôn giả Gotama, giữa hai bậc tuyên bố về trí này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật, ai nói láo?
TTC 3—Thôi vừa rồi, này các Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Giữa hai bậc tuyên bố về trí này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật, ai nói láo?”
Này các Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 4—Này các Bà-la-môn, ví như bốn người đàn ông đứng bốn phương, đầy đủ với bước đi, với tốc lực tối thắng, với bước chân dài tối thắng. Họ đầy đủ tốc lực như sau: Ví như một người cầm cung, điêu luyện khéo được huấn luyện với bàn tay thiện xảo, bách phát bách trúng, có thể bắn một cách nhẹ nhàng một mũi tên ngang qua bóng của cây tàla. Như vậy là tốc lực của họ. Còn bước chân dài của họ, thời như sau: từ biển phía Ðông đến biển phía Tây. Rồi người đứng ở phương Ðông nói như sau: “Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới”. Dầu cho tuổi thọ của người này là một trăm năm, và người ấy sống một trăm năm, và bước đi trong một trăm năm—trừ khi người ấy ăn, người ấy uống, người ấy nhai, người ấy nếm, trừ khi người ấy đi đại tiện tiểu tiện, trừ khi người ấy ngủ để lấy lại sức, người ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của thế giới”. Rồi người đứng ở phương Tây… rồi người đứng ở phương Bắc… rồi người đứng ở phương Nam nói như sau: “Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới”. Dầu cho tuổi thọ… người ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của thế giới”. Vì cớ sao? Này các Bà-la-môn, Ta nói rằng, không phải với sức chạy như vậy, có thể biết được, có thể thấy được, có thể đạt được tận cùng thế giới. Này các Bà-la-môn, Ta nói rằng nếu không đạt được tận cùng thế giới, thời không thể chấm dứt đau khổ ở đời.
TTC 5Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh. Thế nào là năm?
TTC 6Các sắc do con mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Này Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh.
TTC 7Ở đây, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly các dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo này được gọi là vị đã đến tận cùng thế giới, và sống trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian”.
TTC 8Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị ấy như sau: “Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 9Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 10Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… Sau khi vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ… Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 11Lại các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, thời sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Vị này đã vượt khỏi sự triền phược của thế giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.38
- 4. The Great Chapter
Brahmin Cosmologists
7. Kinh Lokāyatika
Atha kho dve lokāyatikā brāhmaṇā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te brāhmaṇā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then two brahmin cosmologists went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to the Buddha:
38. Bấy giờ, có hai vị Bà-la-môn theo phái Thuận Thế đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Thế Tôn hỏi thăm. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thăm lịch sự, đáng ghi nhớ, họ ngồi một bên. Hai vị Bà-la-môn ngồi một bên đã bạch với Thế Tôn lời này:
“Pūraṇo, bho gotama, kassapo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti: ‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti. So evamāha: ‘ahaṁ anantena ñāṇena anantaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharāmī’ti. Ayampi, bho gotama, nigaṇṭho nāṭaputto sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti: ‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti. So evamāha: ‘ahaṁ anantena ñāṇena anantaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharāmī’ti. Imesaṁ, bho gotama, ubhinnaṁ ñāṇavādānaṁ ubhinnaṁ aññamaññaṁ vipaccanīkavādānaṁ ko saccaṁ āha ko musā”ti?
“Worthy Gotama, Pūraṇa Kassapa claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: ‘Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.’ He says: ‘With infinite knowledge I know and see that the cosmos is infinite.’ And the Jain ascetic of the Ñātika clan also claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: ‘Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.’ He says: ‘With infinite knowledge I know and see that the cosmos is finite.’ These two claim to speak from knowledge, but they directly contradict each other. Which one of them speaks the truth, and which falsehood?”
“Thưa Tôn giả Gotama, Pūraṇa Kassapa là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến, tự nhận có tri kiến không dư sót: ‘Khi ta đi, ngủ, và thức, tri kiến luôn luôn, thường trực hiện tiền.’ Vị ấy nói như sau: ‘Ta sống, biết và thấy thế gian vô biên bằng trí vô biên.’ Thưa Tôn giả Gotama, Nigaṇṭha Nāṭaputta này cũng là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến, tự nhận có tri kiến không dư sót: ‘Khi ta đi, đứng, ngủ, và thức, tri kiến luôn luôn, thường trực hiện tiền.’ Vị ấy nói như sau: ‘Ta sống, biết và thấy thế gian vô biên bằng trí vô biên.’ Thưa Tôn giả Gotama, trong hai vị này, những người chủ trương về trí, những người có chủ trương đối nghịch nhau, ai nói thật, ai nói dối?”
“Alaṁ, brāhmaṇā. Tiṭṭhatetaṁ: ‘imesaṁ ubhinnaṁ ñāṇavādānaṁ ubhinnaṁ aññamaññaṁ vipaccanīkavādānaṁ ko saccaṁ āha ko musā’ti. Dhammaṁ vo, brāhmaṇā, desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho te brāhmaṇā bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Enough, brahmins, let that be. I will teach you the Dhamma. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” those brahmins replied. The Buddha said this:
“Thôi đi, này các Bà-la-môn! Hãy để việc ấy lại: ‘Trong hai vị này, những người chủ trương về trí, những người có chủ trương đối nghịch nhau, ai nói thật, ai nói dối?’ Này các Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết Pháp cho các ông, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Tôn giả,” các Bà-la-môn ấy đã đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn đã nói lời này:
“Seyyathāpi, brāhmaṇā, cattāro purisā catuddisā ṭhitā paramena javena ca samannāgatā paramena ca padavītihārena. Te evarūpena javena samannāgatā assu, seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasirena tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya; evarūpena ca padavītihārena, seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo atha puratthimāya disāya ṭhito puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti. So aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarā kālaṁ kareyya. Atha pacchimāya disāya …pe… atha uttarāya disāya … atha dakkhiṇāya disāya ṭhito puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti. So aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarā kālaṁ kareyya. Taṁ kissa hetu? Nāhaṁ, brāhmaṇā, evarūpāya sandhāvanikāya lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmi. Na cāhaṁ, brāhmaṇā, appatvāva lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.
“Suppose there were four men standing in the four quarters. Each of them was extremely fast, with an extremely mighty stride. They’re as fast as a light arrow easily shot across the shadow of a palm tree by a well-trained expert archer with a strong bow. Their stride was such that it spanned from the eastern ocean to the western ocean. Then the man standing in the east would say: ‘I will reach the end of the world by traveling.’ Though he’d travel for his whole lifespan of a hundred years—pausing only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness—he’d die along the way, never reaching the end of the world. Then the man standing in the west … Then the man standing in the north … Then the man standing in the south would say: ‘I will reach the end of the world by traveling.’ Though he’d travel for his whole lifespan of a hundred years—pausing only to eat and drink, go to the toilet, and sleep to dispel weariness—he’d die along the way, never reaching the end of the world. Why is that? I say it’s not possible to know or see or reach the end of the world by running like this. But I also say there’s no making an end of suffering without reaching the end of the world.
“Này các Bà-la-môn, ví như có bốn người đàn ông đứng ở bốn phương, có tốc độ tối thượng và sải chân tối thượng. Họ có tốc độ như thế này: ví như một cung thủ có cây cung chắc chắn, được huấn luyện, tay nghề khéo léo, đã thực hành, có thể bắn một mũi tên nhẹ không khó khăn vượt qua bóng cây thốt nốt; và có sải chân như thế này: ví như từ biển đông đến biển tây. Bấy giờ, người đàn ông đứng ở phương đông có thể nói như sau: ‘Ta sẽ đi đến tận cùng thế gian bằng cách đi bộ.’ Người ấy, ngoại trừ việc ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ việc đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ việc ngủ và nghỉ ngơi, có tuổi thọ một trăm năm, sống một trăm năm, đi suốt một trăm năm, nhưng không đến được tận cùng thế gian mà chết giữa chừng. Rồi người ở phương tây... rồi người ở phương bắc... rồi người ở phương nam đứng có thể nói như sau: ‘Ta sẽ đi đến tận cùng thế gian bằng cách đi bộ.’ Người ấy, ngoại trừ việc ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ việc đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ việc ngủ và nghỉ ngơi, có tuổi thọ một trăm năm, sống một trăm năm, đi suốt một trăm năm, nhưng không đến được tận cùng thế gian mà chết giữa chừng. Vì sao vậy? Này các Bà-la-môn, Ta không nói rằng có thể biết, thấy, đạt đến tận cùng thế gian bằng cách chạy như vậy. Và này các Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng thế gian.
Pañcime, brāhmaṇā, kāmaguṇā ariyassa vinaye lokoti vuccati. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā; sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā; ime kho, brāhmaṇā, pañca kāmaguṇā ariyassa vinaye lokoti vuccati.
These five kinds of sensual stimulation are called the world in the training of the Noble One. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These five kinds of sensual stimulation are called the world in the training of the Noble One.
“Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này trong giới luật của bậc Thánh được gọi là thế gian. Năm loại nào? Các sắc do mắt nhận biết, đáng mong, đáng ưa, đáng thích, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, gây ra tham ái; các tiếng do tai nhận biết... các hương do mũi nhận biết... các vị do lưỡi nhận biết... các vật xúc chạm do thân nhận biết, đáng mong, đáng ưa, đáng thích, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, gây ra tham ái. Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này trong giới luật của bậc Thánh được gọi là thế gian.
Idha, brāhmaṇā, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma, lokassa ante viharati’. Tamaññe evamāhaṁsu: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is called a mendicant who, having gone to the end of the world, meditates at the end of the world. Others say of them: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’
“Này các Bà-la-môn, ở đây, vị tỳ-khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm, có tứ. Này các Bà-la-môn, vị tỳ-khưu này được gọi là ‘đã đến tận cùng thế gian, sống ở tận cùng thế gian’. Những người khác nói về vị ấy như sau: ‘Vị này cũng bị bao hàm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’ Và này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như vậy: ‘Vị này cũng bị bao hàm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’”
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’. Tamaññe evamāhaṁsu: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti. Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Furthermore, take a mendicant who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption. This is called a mendicant who, having gone to the end of the world, meditates at the end of the world. Others say of them: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’ And I also say this: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’
Này các vị Bà-la-môn, lại nữa, vị tỳ khưu do làm cho lắng dịu tầm và tứ... (vân vân)... chứng và trú thiền thứ hai... thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư. Này các vị Bà-la-môn, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘đã đi đến tận cùng của thế gian, đang trú ở nơi tận cùng của thế gian.’ Vị ấy được những người khác nói như vầy: ‘Vị này cũng bị bao gồm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’ Này các vị Bà-la-môn, Ta cũng nói như vầy: ‘Vị này cũng bị bao gồm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’”
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’. Tamaññe evamāhaṁsu: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti. Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. This is called a mendicant who, having gone to the end of the world, meditates at the end of the world. Others say of them: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’ And I also say this: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’
Này các vị Bà-la-môn, lại nữa, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do làm cho biến mất các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng sai biệt, (nghĩ rằng) ‘hư không là vô biên,’ chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này các vị Bà-la-môn, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘đã đi đến tận cùng của thế gian, đang trú ở nơi tận cùng của thế gian.’ Vị ấy được những người khác nói như vầy: ‘Vị này cũng bị bao gồm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’ Này các vị Bà-la-môn, Ta cũng nói như vầy: ‘Vị này cũng bị bao gồm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’”
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …pe… sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …pe… sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’. Tamaññe evamāhaṁsu: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti. Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi: ‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Furthermore, take a mendicant who enters and remains in the dimension of infinite consciousness. … the dimension of nothingness … the dimension of neither perception nor non-perception. This is called a mendicant who, having gone to the end of the world, meditates at the end of the world. Others say of them: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’ And I also say this: ‘They’re included in the world, and haven’t yet left the world.’
Này các vị Bà-la-môn, lại nữa, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, (nghĩ rằng) ‘thức là vô biên,’ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ... (vân vân)... do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, (nghĩ rằng) ‘không có gì cả,’ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ... (vân vân)... do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này các vị Bà-la-môn, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘đã đi đến tận cùng của thế gian, đang trú ở nơi tận cùng của thế gian.’ Vị ấy được những người khác nói như vầy: ‘Vị này cũng bị bao gồm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’ Này các vị Bà-la-môn, Ta cũng nói như vầy: ‘Vị này cũng bị bao gồm trong thế gian, vị này cũng chưa thoát khỏi thế gian.’”
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati tiṇṇo loke visattikan’”ti.
Sattamaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end. This is called a mendicant who, having gone to the end of the world, meditates at the end of the world. And they’ve crossed over clinging to the world.”
Này các vị Bà-la-môn, lại nữa, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định, và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này các vị Bà-la-môn, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘đã đi đến tận cùng của thế gian, đang trú ở nơi tận cùng của thế gian, đã vượt qua sự dính mắc ở thế gian.’” (Kinh thứ bảy).