- Aṅguttara Nikāya 9.18
- 2. Sīhanādavagga
Bản dịch
AN 9.18 — Từ Bi
Navaṅguposathasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu chín chi phần được thực hành, có quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn. Ðược thực hành như thế nào, này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu chín chi phần, có quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh là loài hữu tình. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu.
TTC 3“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành trai giới”. Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu.
TTC 4“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lìa, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lìa, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu.
TTC 5“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành trai giới”. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu.
TTC 6“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm này và ngày này ta cũng đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu.
TTC 7“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán mỗi ngày dùng một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng dùng mỗi ngày dùng một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu.
TTC 8“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng từ bỏ xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu.
TTC 9“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận giường cao, giường lớn, từ bỏ giường cao, giường lớn, các vị ấy nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ, trên thảm cỏ. Hôm nay, đêm này và ngày này, ta cũng đoạn tận giường cao, giường lớn, từ bỏ giường cao, giường lớn, ta nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ, trên thảm cỏ. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu.
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử với tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương và an trú, như vậy phương thứ hai… như vậy phương thứ ba… như vậy phương thứ tư… như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy với tâm câu hữu với từ, biến mãn và an trú, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, được thực hành ngày trai giới thành tựu chín chi phần, có quả lớn, có lợi ích, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.18
- 2. The Lion’s Roar
The Sabbath with Nine Factors
8. Kinh Bố Tát Chín Chi
“Navahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato uposatho upavuttho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro. Kathaṁ upavuttho ca, bhikkhave, navahaṅgehi samannāgato uposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro?
Idha, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yāvajīvaṁ arahanto pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratā nihitadaṇḍā nihitasatthā lajjī dayāpannā sabbapāṇabhūtahitānukampino viharanti; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharāmi. Imināpaṅgena arahataṁ anukaromi; uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti.
“Mendicants, the observance of the sabbath with its nine factors is very fruitful and beneficial and dazzling and bountiful. And how should it be observed?
It’s when a noble disciple reflects: ‘As long as they live, the perfected ones give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They are scrupulous and kind, and live full of sympathy for all living beings. I, too, for this day and night will give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. I’ll be scrupulous and kind, and live full of sympathy for all living beings. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.’
18. Này các Tỳ khưu, ngày Bố tát được thực hành với chín chi phần sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, có ánh sáng lớn, có sự lan tỏa lớn. Và này các Tỳ khưu, thế nào là ngày Bố tát được thực hành với chín chi phần có quả lớn, có lợi ích lớn, có ánh sáng lớn, có sự lan tỏa lớn? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: 'Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ sát sanh, từ bỏ việc sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, có lòng tàm, có lòng bi, sống với lòng thương xót đến lợi ích của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Ta cũng vậy, hôm nay, trong đêm này và ngày này, từ bỏ sát sanh, từ bỏ việc sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, có lòng tàm, có lòng bi, sống với lòng thương xót đến lợi ích của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán; và ngày Bố tát của ta sẽ được thực hành.' Vị ấy có đủ chi phần thứ nhất này...v.v...
‘Yāvajīvaṁ arahanto uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭiviratā nīcaseyyaṁ kappenti—mañcake vā tiṇasanthārake vā; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭivirato nīcaseyyaṁ kappemi—mañcake vā tiṇasanthārake vā. Imināpaṅgena arahataṁ anukaromi; uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti. Iminā aṭṭhamena aṅgena samannāgato hoti.
‘As long as they live, the perfected ones give up high and luxurious beds. They sleep in a low place, either a cot or a grass mat. I, too, for this day and night will give up high and luxurious beds. I’ll sleep in a low place, either a cot or a grass mat. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.’ This is its eighth factor.
'Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ giường cao và giường lớn, từ bỏ việc nằm trên giường cao và giường lớn, họ nằm ở chỗ thấp – hoặc trên giường nhỏ, hoặc trên thảm cỏ. Ta cũng vậy, hôm nay, trong đêm này và ngày này, từ bỏ giường cao và giường lớn, từ bỏ việc nằm trên giường cao và giường lớn, ta nằm ở chỗ thấp – hoặc trên giường nhỏ, hoặc trên thảm cỏ. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán; và ngày Bố tát của ta sẽ được thực hành.' Vị ấy có đủ chi phần thứ tám này.
Mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Iminā navamena aṅgena samannāgato hoti.
Evaṁ upavuttho kho, bhikkhave, navahaṅgehi samannāgato uposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro”ti.
Aṭṭhamaṁ.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. This is its ninth factor.
The observance of the sabbath with its nine factors in this way is very fruitful and beneficial and dazzling and bountiful.”
Vị ấy sống, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, ở khắp nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy sống, biến mãn toàn thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không sân, không hận. Vị ấy có đủ chi phần thứ chín này. Này các Tỳ khưu, ngày Bố tát được thực hành với chín chi phần như vậy sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, có ánh sáng lớn, có sự lan tỏa lớn. (Kinh thứ) tám.