- Aṅguttara Nikāya 8.73
- 8. Yamakavagga
Bản dịch
AN 8.73 — Niệm Chết (1)
Paṭhamamaraṇassatisutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Nàtika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
TTC 3Ðược nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
—Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 4Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 5Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 6Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn một phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 7Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 8Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 9Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 10Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 11Ðược nghe nói như vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”.
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”… Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải tu học như sau: “Hãy sống không phóng dật. Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết, để đoạn diệt các lậu hoặc”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.73
- 8. Pairs
Mindfulness of Death (1st)
3. Kinh Niệm Chết thứ nhất
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“maraṇassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā.
At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, when mindfulness of death is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. It has freedom from death as its objective and culmination.
74. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Giñjakāvasatha ở Nātika. Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu... Này các Tỳ khưu, niệm sự chết, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thì có quả lớn, có lợi ích lớn, đi đến bất tử, kết thúc nơi bất tử.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha,
Này các Tỳ khưu, niệm sự chết được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào để có quả lớn, có lợi ích lớn, đi đến bất tử, kết thúc nơi bất tử? Này các Tỳ khưu, ở đây, khi ngày đã qua, đêm đã đến, vị Tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Có nhiều duyên cho cái chết của ta – rắn có thể cắn ta, bọ cạp có thể cắn ta, rết có thể cắn ta; do đó, ta có thể chết. Đó sẽ là chướng ngại cho ta. Hoặc ta có thể trượt chân té ngã, hoặc thức ăn ta đã ăn có thể không tiêu, hoặc mật của ta có thể bị kích động, hoặc đàm của ta có thể bị kích động, hoặc các loại gió như dao cắt có thể bị kích động, hoặc loài người có thể tấn công ta, hoặc phi nhân có thể tấn công ta; do đó, ta có thể chết. Đó sẽ là chướng ngại cho ta.’ Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy nên suy xét như vầy: ‘Có các pháp ác, bất thiện nào chưa được đoạn trừ nơi ta, mà chúng có thể là chướng ngại cho ta nếu ta chết trong đêm nay không?’
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live for another day and night, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live for another day, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
4. Kinh Niệm Sự Chết thứ hai
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ upaḍḍhapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to eat a single almsmeal, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to eat half an almsmeal, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow four or five mouthfuls, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Lại nữa, một vị tỳ khưu khác bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, thật vậy, con cũng tu tập niệm sự chết.” – “Này tỳ khưu, vậy ngươi tu tập niệm sự chết như thế nào?” – “Bạch ngài, ở đây, con có suy nghĩ như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống trong khoảng thời gian mà ta nhai và nuốt một miếng cơm, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’ Bạch ngài, thật vậy, con tu tập niệm sự chết như thế ấy.”
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi, passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Another mendicant said to the Buddha, “Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think: ‘Oh, if I’d only live as long as it takes to breathe out after breathing in, or to breathe in after breathing out, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’ That’s how I develop mindfulness of death.”
Lại nữa, một vị tỳ khưu khác bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, thật vậy, con cũng tu tập niệm sự chết.” – “Này tỳ khưu, vậy ngươi tu tập niệm sự chết như thế nào?” – “Bạch ngài, ở đây, con có suy nghĩ như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống trong khoảng thời gian mà sau khi hít vào ta thở ra, hoặc sau khi thở ra ta hít vào, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’ Bạch ngài, thật vậy, con tu tập niệm sự chết như thế ấy.”
Evaṁ vutte, bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“yvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti; yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ upaḍḍhadivasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti; yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ upaḍḍhapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti—ime vuccanti, bhikkhave, ‘bhikkhū pamattā viharanti, dandhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya’.
Yo ca khvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti: ‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti. Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
When this was said, the Buddha said to those mendicants:
“The mendicants who develop mindfulness of death by wishing to live for a day and night … or to live for a day … or to live for half a day … or to live as long as it takes to eat a meal of almsfood … or to live as long as it takes to eat half a meal of almsfood … or to live as long as it takes to chew and swallow four or five mouthfuls … These are called mendicants who live negligently. They slackly develop mindfulness of death for the ending of defilements.
But the mendicants who develop mindfulness of death by wishing to live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful …
Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn nói với các vị tỳ khưu ấy lời này: “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống được một ngày một đêm, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’ Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống được một ngày, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’; và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống được nửa ngày, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’ Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống trong khoảng thời gian mà ta dùng một bữa ăn khất thực, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’; và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống trong khoảng thời gian mà ta dùng nửa bữa ăn khất thực, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’ Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Chắc chắn tốt đẹp thay, nếu ta có thể sống trong khoảng thời gian mà ta nhai và nuốt bốn hoặc năm miếng cơm, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của đức Thế Tôn, chắc chắn nhiều (việc) sẽ được ta làm xong.’ – Này các tỳ khưu, những vị này được gọi là: ‘Các tỳ khưu sống buông lung, tu tập niệm sự chết một cách chậm chạp để đoạn tận các lậu hoặc.’”
Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Ôi, mong sao ta có thể sống trong khoảng thời gian mà ta nhai và nuốt một miếng cơm, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của Đức Thế Tôn, việc cần làm của ta chắc chắn sẽ được thực hiện rất nhiều.’ Và này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào tu tập niệm sự chết như vầy: ‘Ôi, mong sao ta có thể sống trong khoảng thời gian ta thở ra sau khi hít vào, hoặc hít vào sau khi thở ra, ta sẽ tác ý đến giáo pháp của Đức Thế Tôn, việc cần làm của ta chắc chắn sẽ được thực hiện rất nhiều.’ Này các Tỳ khưu, những vị này được gọi là các Tỳ khưu sống không dể duôi, tu tập niệm sự chết một cách sắc bén để đoạn tận các lậu hoặc.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘appamattā viharissāma, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāvayissāma āsavānaṁ khayāyā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.
So you should train like this: ‘We will live diligently. We will keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.’ That’s how you should train.”
Này các Tỳ khưu, vì vậy, ở đây các con nên học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ sống không dể duôi, chúng ta sẽ tu tập niệm sự chết một cách sắc bén để đoạn tận các lậu hoặc.’ Này các Tỳ khưu, các con nên học tập như vậy.” Kinh thứ ba.