- Aṅguttara Nikāya 8.60
- 6. Gotamīvagga
Bản dịch
AN 8.60 — Tám Hạng Người (2)
Dutiyapuggalasutta
TTC 1-2… (giống như đoạn 1, 2 của kinh trên, chỉ có bài kệ hơi khác) …
Bốn vị đã hướng đến
Bốn vị đã trú quả
Tăng chúng này tối thắng
Tám người giữa chúng sanh
Loài Người cúng thí vật
Chúng sanh cầu phước đức
Làm công đức tái sanh
Tăng chúng tăng quả lớn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.60
- 6. Gotamī
Eight Individuals (2nd)
10. Bài kinh Puggala thứ hai
“Aṭṭhime, bhikkhave, puggalā āhuneyyā …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katame aṭṭha? Sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno …pe… arahā, arahattāya paṭipanno. Ime kho, bhikkhave, aṭṭha puggalā āhuneyyā …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
“Mendicants, these eight individuals are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and are the supreme field of merit for the world. What eight? The stream-enterer and the one practicing to realize the fruit of stream-entry. The once-returner and the one practicing to realize the fruit of once-return. The non-returner and the one practicing to realize the fruit of non-return. The perfected one, and the one practicing for perfection. These are the eight individuals who are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and are the supreme field of merit for the world.
60. “Này các tỳ khưu, có tám hạng người này đáng được cúng dường... (v.v.)... là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám hạng người nào? Vị Dự lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Dự lưu... (v.v.)... vị A-la-hán, vị đang thực hành để đạt đến A-la-hán quả. Này các tỳ khưu, chính tám hạng người này đáng được cúng dường... (v.v.)... là ruộng phước vô thượng cho đời.”
Cattāro ca paṭipannā, cattāro ca phale ṭhitā; Esa saṅgho samukkaṭṭho, sattānaṁ aṭṭha puggalā.
Four practicing the path, and four established in the fruit. This is the exalted Saṅgha, the eight individuals among sentient beings.
“Bốn vị đang thực hành, và bốn vị trú trong quả; Tăng chúng này gồm tám hạng người, là tối thượng giữa các chúng sanh.”
Yajamānānaṁ manussānaṁ, puññapekkhāna pāṇinaṁ; Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ, ettha dinnaṁ mahapphalan”ti.
Dasamaṁ.
For humans, those merit-seeking creatures, who sponsor sacrifices, making worldly merit, what’s given here is very fruitful.”
“Đối với những chúng sanh là con người biết cúng dường, đang tìm cầu phước báu, đang tạo tác phước hữu lậu, sự cúng dường ở đây có quả báu to lớn.” Hết bài kinh thứ mười.
Gotamīvaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Gotamī, thứ nhất.
Gotamī ovādaṁ saṅkhittaṁ, dīghajāṇu ca ujjayo; Bhayā dve āhuneyyā ca, dve ca aṭṭha puggalāti.
Gotamī, Ovāda (Giáo Giới), Saṃkhitta (Tóm Tắt), Dīghajāṇu, và Ujjayo; hai kinh Bhayā (Sợ Hãi), hai kinh Āhuneyyā (Đáng Cúng Dường), và hai kinh về Tám Hạng Người.