- Aṅguttara Nikāya 8.33
- 4. Dānavagga
Bản dịch
AN 8.33 — Căn Bản Ðể Bố Thí
Dānavatthusutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí. Thế nào là tám?
TTC 2Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Trước tổ tiên đã bố thí, trước đã làm. Ta không xứng đáng là người để truyền thống này bị bỏ phế” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Khi ta bố thí này, tâm được tịnh tín, do hân hoan, hỷ được sanh” nên bố thí; để trang nghiêm tâm, trang bị tâm, nên bố thí.
Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.33
- 4. Giving
Reasons to Give
3. Kinh Về Các Nền Tảng Bố Thí
“Aṭṭhimāni, bhikkhave, dānavatthūni. Katamāni aṭṭha? Chandā dānaṁ deti, dosā dānaṁ deti, mohā dānaṁ deti, bhayā dānaṁ deti, ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi, nārahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti, ‘imāhaṁ dānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti dānaṁ deti, ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti, cittālaṅkāracittaparikkhāratthaṁ dānaṁ deti. Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha dānavatthūnī”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, there are these eight grounds for giving. What eight? Someone might give a gift out of favoritism or hostility or stupidity or cowardice. Or they give thinking, ‘Giving was practiced by my father and my father’s father. It would not be right for me to abandon this traditional family custom.’ Or they give thinking, ‘After I’ve given this gift, when my body breaks up, after death, I’ll be reborn in a good place, a heavenly realm.’ Or they give thinking, ‘When giving this gift my mind becomes clear, and I become happy and joyful.’ Or they give a gift thinking, ‘This is an adornment and requisite for the mind.’ These are the eight grounds for giving.”
33. ‘Này các Tỳ khưu, có tám nền tảng bố thí này. Tám nền tảng nào? Bố thí vì thiên vị; bố thí vì sân hận; bố thí vì si mê; bố thí vì sợ hãi; bố thí với suy nghĩ: ‘Cha ông ta đã từng cho, đã từng làm; ta không đáng để làm mai một truyền thống gia tộc xưa;’ bố thí với suy nghĩ: ‘Sau khi thực hiện việc bố thí này, khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới;’ bố thí với suy nghĩ: ‘Khi ta thực hiện việc bố thí này, tâm ta được tịnh tín, sự hoan hỷ và hân hoan khởi sanh;’ bố thí vì để trang hoàng tâm, để hỗ trợ tâm. Này các Tỳ khưu, đây là tám nền tảng bố thí.’ Hết kinh thứ ba.