- Aṅguttara Nikāya 8.14
- 2. Mahāvagga
Bản dịch
AN 8.14 — Ngựa Chưa Ðiều Phục
Assakhaḷuṅkasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về tám loại ngựa chưa điều phục, tám tánh xấu của con ngựa, tám hạng người chưa điều phục, tám tánh xấu của con người. Hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là tám loại ngựa chưa được điều phục? Thế nào là tám tánh xấu của ngựa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc, bị người đánh xe la và thúc đẩy, nó đi lùi, và với lưng, làm chiếc xe chạy vòng lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ nhất của con ngựa.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ hai của con ngựa.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi gọng xe và dẫm nát gọng xe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ ba của con ngựa.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó liền đi con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tư của con ngựa.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó trườn đứng phía chân trước và đạp lên không trung với chân trước. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ năm của con ngựa.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe la, không để ý đến cây gậy thúc ngựa, lấy răng nghiền hàm thiết (khớp ngựa) ngựa và đi chỗ nào nó muốn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ sáu của con ngựa.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ bảy của con ngựa.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó liền tréo hai chân trước, tréo lại hai chân sau, và quỵ xuống bốn chân tại đấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tám của con ngựa.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám loại ngựa chưa được điều phục và tám tánh xấu của con ngựa.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tám hạng người chưa được điều phục và tám tánh xấu của con người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, tránh né (vấn đề) như là không nhớ, nói rằng: “Tôi không nhớ, tôi không nhớ “. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó đi lùi với cái lưng làm cho cái xe chạy vòng lại. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ nhất của con người.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, phát ra lời chất vấn Tỷ-kheo buộc tội: “Thầy lấy quyền gì mà nói, này kẻ ngu, không thông minh? Tại sao Thầy nghĩ rằng Thầy phải nói? “ Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi lại, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu hai của con người.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền cật nạn Tỷ-kheo buộc tội: “Thầy cũng phạm tội tên là như vậy. Vậy Thầy hãy phát lộ trước”. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi xe và dẫm nát gọng xe. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu ba của con người.
TTC 13Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng dẫn câu chuyện ra ngoài và biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền đi vào con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tư của con người.
TTC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền nói ba hoa, khua tay múa chân. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền trườn đứng phía thân trước và đạp lên không với chân trước. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ năm của con người.
TTC 15Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, không để ý đến chúng Tăng, không để ý đến các Tỷ-kheo buộc tội, với tội phạm và như một người bị xúc phạm, vị ấy đi chỗ nào vị ấy muốn. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe, không để ý đến cây roi, lấy răng nghiến hàm thiết ngựa, và đi chỗ nào nó muốn. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ sáu của con người.
TTC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền nói: “Tôi không phạm tội, tôi không có phạm tội” và vị ấy làm chúng Tăng bực mình với sự im lặng. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ bảy của con người.
TTC 17Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, nói như sau: “Tại sao các Tôn giả lại quá lo cho tôi. Bắt đầu từ nay, tôi sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục”. Rồi vị ấy sau khi từ bỏ học pháp và hoàn tục nói như sau: “Nay các Tôn giả ấy được hoan hỷ”. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền tréo lại hai chân trước, tréo lại hai chân sau và quỵ xuống bốn chân tại đấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tám của con người.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám hạng người chưa được điều phục và tám tánh xấu của con người.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.14
- 2. The Great Chapter
A Wild Colt
4. Kinh Ngựa Chứng
“Aṭṭha ca, bhikkhave, assakhaḷuṅke desessāmi aṭṭha ca assadose, aṭṭha ca purisakhaḷuṅke aṭṭha ca purisadose. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, I will teach you about eight wild colts and eight defects in horses, and about eight wild people and eight defects in people. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
14. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng về tám loại ngựa chứng và tám tật xấu của ngựa, tám loại người chứng và tám tật xấu của người. Hãy lắng nghe điều ấy, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói.” “Bạch Thế Tôn, vâng ạ.” các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Katame ca, bhikkhave, aṭṭha assakhaḷuṅkā aṭṭha ca assadosā?
Idha, bhikkhave, ekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchato paṭikkamati, piṭṭhito rathaṁ pavatteti. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo assadoso.
“And what, mendicants, are the eight wild colts and eight defects in horses?
Firstly, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts back right up and spin the chariot behind them. Some wild colts are like that. This is the first defect of a horse.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là tám loại ngựa chứng và tám tật xấu của ngựa? Ở đây, này các Tỳ khưu, có loại ngựa chứng, khi được bảo: 'Hãy đi!', bị thúc giục, được người đánh xe điều khiển, nó lại lùi lại, làm cho cỗ xe quay về phía sau. Này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là tật xấu thứ nhất của ngựa.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchā laṅghati, kubbaraṁ hanati, tidaṇḍaṁ bhañjati. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo assadoso.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts jump back, wreck the hub, and break the triple rod. Some wild colts are like that. This is the second defect of a horse.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng, khi được bảo: 'Hãy đi!', bị thúc giục, được người đánh xe điều khiển, nó nhảy lùi lại, đập vào vành xe, làm gãy ba cây sào. Này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là tật xấu thứ hai của ngựa.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā rathīsāya satthiṁ ussajjitvā rathīsaṁyeva ajjhomaddati. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo assadoso.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts shake the draft-pole off their thigh and trample it. Some wild colts are like that. This is the third defect of a horse.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng, khi được bảo: 'Hãy đi!', bị thúc giục, được người đánh xe điều khiển, nó ấn đùi vào càng xe rồi chồm lên chính càng xe. Này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là tật xấu thứ ba của ngựa.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā ummaggaṁ gaṇhati, ubbaṭumaṁ rathaṁ karoti. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho assadoso.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts take a wrong turn, sending the chariot off track. Some wild colts are like that. This is the fourth defect of a horse.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng, khi được bảo: 'Hãy đi!', bị thúc giục, được người đánh xe điều khiển, nó đi vào đường tà, làm cho cỗ xe đi sai đường. Này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là tật xấu thứ tư của ngựa.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā laṅghati purimakāyaṁ paggaṇhati purime pāde. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo assadoso.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts rear up and strike out with their fore-legs. Some wild colts are like that. This is the fifth defect of a horse.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng, khi được bảo: 'Hãy đi!', bị thúc giục, được người đánh xe điều khiển, nó chồm thân trước lên, nhấc hai chân trước lên. Này các Tỳ khưu, ở đây có loại ngựa chứng như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là tật xấu thứ năm của ngựa.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā anādiyitvā sārathiṁ anādiyitvā patodalaṭṭhiṁ dantehi mukhādhānaṁ vidhaṁsitvā yena kāmaṁ pakkamati. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho assadoso.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts ignore the trainer and the goad, spit out the bit, and go wherever they want. Some wild colts are like that. This is the sixth defect of a horse.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây có con ngựa xấu, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó không để ý đến người đánh xe, không để ý đến roi thúc ngựa, dùng răng cắn nát dây cương rồi đi đến nơi nào nó muốn. Này các Tỳ khưu, ở đây có con ngựa xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ sáu của con ngựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā neva abhikkamati no paṭikkamati tattheva khīlaṭṭhāyī ṭhito hoti. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, sattamo assadoso.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts don’t step forward or turn back but stand right there still as a post. Some wild colts are like that. This is the seventh defect of a horse.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây có con ngựa xấu, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó không tiến tới cũng không lùi lại, đứng yên tại chỗ đó như cây cọc. Này các Tỳ khưu, ở đây có con ngựa xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ bảy của con ngựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā purime ca pāde saṁharitvā pacchime ca pāde saṁharitvā tattheva cattāro pāde abhinisīdati. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo assadoso. Ime kho, bhikkhave, aṭṭha assakhaḷuṅkā aṭṭha ca assadosā.
Furthermore, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, some wild colts tuck in their fore-legs and hind-legs, and sit right down on their four legs. Some wild colts are like that. This is the eighth defect of a horse. These are the eight wild colts and the eight defects in horses.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây có con ngựa xấu, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó co các chân trước lại, co các chân sau lại, rồi nằm phục xuống bằng bốn chân ngay tại chỗ đó. Này các Tỳ khưu, ở đây có con ngựa xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ tám của con ngựa. Này các Tỳ khưu, đây chính là tám loại ngựa xấu và tám lỗi của ngựa.
Katame ca, bhikkhave, aṭṭha purisakhaḷuṅkā aṭṭha ca purisadosā?
Idha, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno ‘na sarāmī’ti asatiyā nibbeṭheti. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchato paṭikkamati, piṭṭhito rathaṁ vatteti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo purisadoso.
And what are the eight wild people and eight defects in people?
Firstly, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant evades it by saying they don’t remember. I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, back right up and spin the chariot behind them. Some wild people are like that. This is the first defect of a person.
Này các Tỳ khưu, thế nào là tám loại người xấu và tám lỗi của người? Này các Tỳ khưu, ở đây, các Tỳ khưu khiển trách một Tỳ khưu về một tội. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu khiển trách về một tội, đã gỡ tội bằng cách nói không nhớ: ‘Tôi không nhớ’. Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu kia, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó lùi lại phía sau, làm cho cỗ xe quay về phía sau; Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có người xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ nhất của người.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno codakaṁyeva paṭippharati: ‘kiṁ nu kho tuyhaṁ bālassa abyattassa bhaṇitena. Tvampi nāma bhaṇitabbaṁ maññasī’ti. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchā laṅghati, kubbaraṁ hanati, tidaṇḍaṁ bhañjati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo purisadoso.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant objects to the accuser: ‘What has an incompetent fool like you got to say? How on earth could you imagine you’ve got something worth saying!’ I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, jump back, wreck the hub, and break the triple rod. Some wild people are like that. This is the second defect of a person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, các Tỳ khưu khiển trách một Tỳ khưu về một tội. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu khiển trách về một tội, lại còn mắng nhiếc chính người khiển trách: ‘Lời nói của kẻ ngu si, không khéo léo như ông thì có ích gì! Ông mà cũng nghĩ rằng mình nên nói hay sao!’. Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu kia, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó nhảy lùi lại, phá vành xe, làm gãy ba cây lao; Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có người xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ hai của người.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno codakasseva paccāropeti: ‘tvaṁ khosi itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno, tvaṁ tāva paṭhamaṁ paṭikarohī’ti. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā rathīsāya satthiṁ ussajjitvā rathīsaṁyeva ajjhomaddati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo purisadoso.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant retorts to the accuser: ‘Well, you’ve fallen into an offense named such-and-such. You should deal with that first.’ I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, shake the draft-pole off their thigh and trample it. Some wild people are like that. This is the third defect of a person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, các Tỳ khưu khiển trách một Tỳ khưu về một tội. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu khiển trách về một tội, lại đổ tội lại cho chính người khiển trách: ‘Chính ông đã phạm tội này tội kia, trước tiên ông hãy tự sửa mình đi đã’. Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu kia, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó dùng đùi đẩy vào càng xe, rồi chà đạp lên chính càng xe; Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có người xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ ba của người.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno aññenāññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā ummaggaṁ gaṇhati, ubbaṭumaṁ rathaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho purisadoso.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant dodges the issue, distracts the discussion with irrelevant points, and displays annoyance, hate, and bitterness. I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, take a wrong turn, sending the chariot off track. Some wild people are like that. This is the fourth defect of a person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, các Tỳ khưu khiển trách một Tỳ khưu về một tội. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu khiển trách về một tội, đã lảng sang chuyện khác, hướng câu chuyện ra ngoài đề, biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn. Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu kia, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó đi vào đường tà, làm cho cỗ xe đi chệch đường; Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có người xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ tư của người.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno saṅghamajjhe bāhuvikkhepaṁ karoti. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā laṅghati, purimakāyaṁ paggaṇhati purime pāde; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo purisadoso.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant gesticulates while speaking in the middle of the Saṅgha. I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, rear up and strike out with their fore-legs. Some wild people are like that. This is the fifth defect of a person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, các Tỳ khưu khiển trách một Tỳ khưu về một tội. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu khiển trách về một tội, đã vung tay giữa Tăng chúng. Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu kia, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, nó nhảy chồm lên, nhấc thân trước và các chân trước lên; Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có người xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ năm của người.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno anādiyitvā saṅghaṁ anādiyitvā codakaṁ sāpattikova yena kāmaṁ pakkamati. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā anādiyitvā sārathiṁ anādiyitvā patodalaṭṭhiṁ dantehi mukhādhānaṁ vidhaṁsitvā yena kāmaṁ pakkamati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho purisadoso.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant ignores the Saṅgha and the accusation and, though still guilty of the offense, they go wherever they want. I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, ignore the trainer and the goad, spit out the bit, and go wherever they want. Some wild people are like that. This is the sixth defect of a person.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, các Tỳ khưu khiển trách một Tỳ khưu về một tội. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu khiển trách về một tội, không để ý đến Tăng chúng, không để ý đến người khiển trách, vẫn còn mang tội, đi đến nơi nào mình muốn. Này các Tỳ khưu, ví như con ngựa xấu kia, khi được người đánh xe nói: ‘Hãy đi đi!’, bị đâm chích, được thúc giục, không để ý đến người đánh xe, không để ý đến roi thúc ngựa, dùng răng cắn nát dây cương rồi đi đến nơi nào nó muốn; Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có người xấu là loại như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là lỗi thứ sáu của người.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno ‘nevāhaṁ āpannomhi, na panāhaṁ āpannomhī’ti so tuṇhībhāvena saṅghaṁ viheṭheti. Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā neva abhikkamati no paṭikkamati tattheva khīlaṭṭhāyī ṭhito hoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, sattamo purisadoso.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant neither confesses to the offense nor denies it, but frustrates the Saṅgha by staying silent. I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, don’t step forward or turn back but stand right there still as a post. Some wild people are like that. This is the seventh defect of a person.
Này các tỳ khưu, lại nữa, các tỳ khưu chất vấn một tỳ khưu về một tội. Vị tỳ khưu ấy, khi bị các tỳ khưu chất vấn về một tội, (nghĩ rằng): ‘Ta không phạm tội, ta không hề phạm tội,’ rồi vị ấy dùng sự im lặng để làm phiền nhiễu Tăng chúng. Này các tỳ khưu, ví như con ngựa xấu, khi được người đánh xe thúc giục, được đâm chích, được bảo: ‘Hãy đi tới,’ nó không đi tới, cũng không lùi lại, mà đứng yên tại chỗ như cây cột trụ; này các tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng ví như vậy. Này các tỳ khưu, ở đây có hạng người xấu xa như thế. Này các tỳ khưu, đây là lỗi lầm thứ bảy của người đàn ông.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno evamāha: ‘kiṁ nu kho tumhe āyasmanto atibāḷhaṁ mayi byāvaṭā yāva idānāhaṁ sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti. So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitvā evamāha: ‘idāni kho tumhe āyasmanto attamanā hothā’ti? Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā purime ca pāde saṁharitvā pacchime ca pāde saṁharitvā tattheva cattāro pāde abhinisīdati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti. Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo purisadoso.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha purisakhaḷuṅkā aṭṭha ca purisadosā”ti.
Catutthaṁ.
Furthermore, the mendicants accuse a mendicant of an offense. But the accused mendicant says this: ‘Why are you venerables making so much of an issue over me? Now I’ll resign the training and return to a lesser life.’ When they have resigned the training, they say: ‘Well, venerables, are you happy now?’ I say that this individual is comparable to the wild colts who, when the trainer says ‘giddyup!’ and spurs and goads them on, tuck in their fore-legs and hind-legs, and sit right down on their four legs. Some wild people are like that. This is the eighth defect of a person.
These are the eight wild people and eight defects in people.”
Này các tỳ khưu, lại nữa, các tỳ khưu chất vấn một tỳ khưu về một tội. Vị tỳ khưu ấy, khi bị các tỳ khưu chất vấn về một tội, đã nói như sau: ‘Tại sao các hiền giả lại quá khắt khe với tôi như vậy? Bây giờ tôi sẽ từ bỏ học giới và hoàn tục.’ Rồi vị ấy từ bỏ học giới, hoàn tục, và nói như sau: ‘Bây giờ thì các hiền giả đã hài lòng chưa?’ Này các tỳ khưu, ví như con ngựa xấu, khi được người đánh xe thúc giục, được đâm chích, được bảo: ‘Hãy đi tới,’ nó co cả chân trước lẫn chân sau lại rồi ngồi ỳ xuống tại chỗ bằng cả bốn chân; này các tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng ví như vậy. Này các tỳ khưu, ở đây có hạng người xấu xa như thế. Này các tỳ khưu, đây là lỗi lầm thứ tám của người đàn ông. Này các tỳ khưu, đây là tám hạng người xấu xa và tám lỗi lầm của người đàn ông.