- Aṅguttara Nikāya 7.83
- 8. Vinayavagga
Bản dịch
AN 7.83 — Thông Ðiệp
Satthusāsanasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
TTC 2—Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: “Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: “Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn”. Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: “Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: “Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.83
- 8. The Monastic Law
The Teacher’s Instructions
9. Kinh Giáo Huấn Của Bậc Đạo Sư
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca:
Then Venerable Upāli went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
83. Rồi Tôn giả Upāli đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Upāli bạch với Thế Tôn điều này:
“Sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Ye kho tvaṁ, upāli, dhamme jāneyyāsi: ‘ime dhammā na ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattantī’ti; ekaṁsena, upāli, dhāreyyāsi: ‘neso dhammo neso vinayo netaṁ satthusāsanan’ti. Ye ca kho tvaṁ, upāli, dhamme jāneyyāsi: ‘ime dhammā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattantī’ti; ekaṁsena, upāli, dhāreyyāsi: ‘eso dhammo eso vinayo etaṁ satthusāsanan’”ti.
Navamaṁ.
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“Upāli, you might know that certain things don’t lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. Categorically, you should remember these things as not the teaching, not the training, and not the Teacher’s instructions. You might know that certain things do lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. Categorically, you should remember these things as the teaching, the training, and the Teacher’s instructions.”
“Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, để sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.” “Này Upāli, những pháp nào ông biết rằng: ‘Những pháp này không đưa đến hoàn toàn nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn,’ thì này Upāli, ông nên dứt khoát ghi nhớ rằng: ‘Đây không phải là Pháp, đây không phải là Luật, đây không phải là giáo huấn của bậc Đạo Sư.’ Và này Upāli, những pháp nào ông biết rằng: ‘Những pháp này đưa đến hoàn toàn nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn,’ thì này Upāli, ông nên dứt khoát ghi nhớ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là giáo huấn của bậc Đạo Sư.’” Kinh thứ chín.