- Aṅguttara Nikāya 7.64
- 6. Abyākatavagga
Bản dịch
AN 7.64 — Sân Hận
Kodhanasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bảy pháp này được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hay đàn ông. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này trở thành xấu xí!' Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có dung sắc. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dầu cho người ấy khéo tắm rửa, khéo chải chuốt, tóc râu khéo sửa soạn, mặc toàn đồ trắng rồi người ấy cũng trở thành xấu xí, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này ngủ một cách khổ sở!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình ngủ một cách an lành. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dầu có nằm trên ghế dài, nệm trải bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lọng che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Tuy vậy, họ vẫn ngủ một cách khổ sở, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ hai, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có lợi ích!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được lợi ích. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, thâu hoạch bất lợi, lại nghĩ rằng: “Ta được lợi ích”, thâu hoạch điều bất lợi ích, lại nghĩ rằng: “Ta không được lợi ích”. Những pháp này được nắm giữ khiến người khác trở thành thù địch, đưa đến không hạnh phúc, đau khổ lâu dài, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có tài sản!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được tài sản. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, những tài sản nào của họ thâu hoạch do sự phấn chấn tinh cần, cất chứa do sức mạnh của cánh tay, chồng chất do những giọt mồ hôi, đúng pháp, thâu hoạch hợp pháp. Các tài sản ấy được nhà vua cho chở về ngân khố nhà vua, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ tư, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có danh tiếng!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được danh tiếng. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, nếu có được danh tiếng gì nhờ không phóng dật thâu hoạch được, danh tiếng ấy lánh xa họ, vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ năm, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này không có bạn bè!” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình có được bạn bè. Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, nếu người đó có những bạn bè thân hữu, bà con huyết thống gì, họ sẽ xa lánh, từ bỏ người đó, vì người đó bị phẫn nộ chinh phục. Ðây là pháp thứ sáu, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người thù địch mong muốn kẻ thù địch của mình như sau: “Mong rằng kẻ này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục !” Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, người thù địch không hoan hỷ kẻ thù địch của mình sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này! Này các Tỷ-kheo, hạng người nào phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, người đó làm ác hạnh với thân, người đó nói lời ác hạnh với lời, người đó nghĩ đến điều ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, người đó sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðây là pháp thứ bảy, được người thù ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, được người thù địch ưa thích, tác thành kẻ thù địch đi đến người phẫn nộ, đàn bà hoặc đàn ông.
Kẻ phẫn nộ xấu xí,
Ðau khổ khi nằm ngủ,
Ðược các điều lợi ích
Lại cảm thấy bất lợi.
Phẫn nộ, nó đả thương,
Với thân với lời nói,
Người phẫn nộ chinh phục,
Tài sản bị tiêu vong.
Bị phẫn nộ điên loạn,
Danh dự bị hủy diệt,
Bà con cùng bạn bè,
Lánh xa người phẫn nộ.
Phẫn nộ sanh bất lợi,
Phẫn nộ dao động tâm,
Sợ hãi sanh từ trong,
Người ấy không rõ biết.
Phẫn nộ không biết lợi,
Phẫn nộ không thấy pháp,
Phẫn nộ chinh phục ai,
Người ấy bị mê ám.
Người phẫn nộ thích thú
Làm ác như làm thiện,
Về sau phẫn nộ dứt,
Bị khổ như lửa đốt,
Như ngọn lửa dầu khói,
Ðược thấy thất thểu cháy,
Khi phẫn nộ lan tràn,
Khi tuổi trẻ nổi nóng,
Không xấu hổ, sợ hãi,
Lời nói không cung kính.
Bị phẫn nộ chinh phục,
Không hòn đảo tựa nương.
Việc làm đem hối hận,
Rất xa với Chánh pháp.
Ta sẽ tuyên bố họ,
Hãy nghe như tuyên bố,
Phẫn nộ giết cả cha,
Phẫn nộ giết cả mẹ,
Phẫn nộ giết Phạm chí,
Phẫn nộ giết phàm phu.
Chính nhờ mẹ dưỡng dục,
Người thấy được đời này,
Nhưng phàm phu phẫn nộ,
Giết người cho sự sống.
Chúng sanh tự ví dụ,
Thương tự ngã tối thượng,
Phàm phu giết tự ngã,
Ðiên loạn nhiều hình thức,
Lấy gươm giết tự ngã,
Ðiên loại uống thuốc độc,
Dây tự trói họ chết,
Trong hang động núi rừng,
Những hành động sát sanh,
Khiến tự ngã phải chết.
Họ làm nhưng không biết,
Kẻ phẫn nộ hại người,
Với hình thức phẫn nộ,
Ma bẫy ẩn trong tâm.
Hãy nhiếp phục cắt đứt,
Với tuệ, tấn, chánh kiến,
Bậc trí tuệ cắt đoạn,
Mỗi mỗi bất thiện pháp
Như vậy học tập pháp,
Không để tâm nản chí,
Ly sân, không áo não,
Ly tham, tật đố không,
Nhiếp phục, đoạn phẫn nộ,
Vô lậu, nhập Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.64
- 6. The Undeclared Points
Irritable
11. Kinh Về Người Hay Nóng Giận
“Sattime, bhikkhave, dhammā sapattakantā sapattakaraṇā kodhanaṁ āgacchanti itthiṁ vā purisaṁ vā. Katame satta?
Idha, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ dubbaṇṇo assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa vaṇṇavatāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, kiñcāpi so hoti sunhāto suvilitto kappitakesamassu odātavatthavasano;
“Mendicants, these seven things that please and assist an enemy happen to an irritable woman or man. What seven?
Firstly, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they’d become ugly!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have a beautiful enemy. An irritable individual, overcome and overwhelmed by anger, is ugly, even though they’re nicely bathed and anointed, with hair and beard dressed, and wearing white clothes.
64. “Này các Tỳ khưu, có bảy pháp này làm cho kẻ thù hài lòng, làm lợi cho kẻ thù, đến với người hay nóng giận, dù là phụ nữ hay đàn ông. Bảy pháp nào? Ở đây, này các Tỳ khưu, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này trở nên xấu xí!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không vui mừng trước vẻ đẹp của kẻ thù. Này các Tỳ khưu, người đàn ông hay nóng giận này bị sân hận chi phối, bị sân hận xâm chiếm, cho dù người ấy có tắm gội sạch sẽ, thoa dầu thơm, cắt tóc cạo râu, mặc y phục trắng tinh; nhưng vì bị sân hận chi phối, người ấy vẫn trở nên xấu xí. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ nhất làm cho kẻ thù hài lòng, làm lợi cho kẻ thù, đến với người hay nóng giận, dù là phụ nữ hay đàn ông.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ dukkhaṁ sayeyyā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa sukhaseyyāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, kiñcāpi so pallaṅke seti gonakatthate paṭalikatthate kadalimigapavarapaccattharaṇe sauttaracchade ubhatolohitakūpadhāne; atha kho so dukkhaññeva seti kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.
Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they’d sleep badly!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy who sleeps at ease. An irritable individual, overcome and overwhelmed by anger, sleeps badly, even though they sleep on a couch spread with woolen covers—shag-piled, pure white, or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends. This is the second thing …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này ngủ không yên giấc!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không vui mừng khi kẻ thù ngủ được an lành. Này các Tỳ khưu, người đàn ông hay nóng giận này bị sân hận chi phối, bị sân hận xâm chiếm, cho dù người ấy có nằm trên giường bành, trải thảm len lông dài, trải thảm len thêu hoa, trải tấm da sơn dương hảo hạng, có lọng che phía trên và gối đỏ ở hai đầu; nhưng vì bị sân hận chi phối, người ấy vẫn ngủ không yên giấc. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ hai làm cho kẻ thù hài lòng, làm lợi cho kẻ thù, đến với người hay nóng giận, dù là phụ nữ hay đàn ông.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na pacurattho assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa pacuratthatāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, anatthampi gahetvā ‘attho me gahito’ti maññati, atthampi gahetvā ‘anattho me gahito’ti maññati. Tassime dhammā aññamaññaṁ vipaccanīkā gahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti kodhābhibhūtassa. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.
Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only their needs are not amply satisfied!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy whose needs are amply satisfied. When an irritable individual, overcome and overwhelmed by anger, gets what they don’t need they think, ‘I’ve got what I need.’ When they get what they need they think, ‘I’ve got what I don’t need.’ When an angry person gets these things that are the exact opposite of what they need, it’s for their lasting harm and suffering. This is the third thing …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này không được nhiều lợi lộc!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không vui mừng trước sự thành đạt của kẻ thù. Này các Tỳ khưu, người đàn ông hay nóng giận này bị sân hận chi phối, bị sân hận xâm chiếm, người ấy nắm lấy điều bất lợi mà cho rằng ‘ta đã nắm được điều lợi’, nắm lấy điều lợi mà cho rằng ‘ta đã nắm được điều bất lợi’. Đối với người bị sân hận chi phối, những pháp này, được nắm giữ một cách trái ngược nhau, sẽ dẫn đến bất hạnh và đau khổ lâu dài. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ ba làm cho kẻ thù hài lòng, làm lợi cho kẻ thù, đến với người hay nóng giận, dù là phụ nữ hay đàn ông.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na bhogavā assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa bhogavatāya nandati. Kodhanassa, bhikkhave, purisapuggalassa kodhābhibhūtassa kodhaparetassa, yepissa te honti bhogā uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā sedāvakkhittā dhammikā dhammaladdhā, tepi rājāno rājakosaṁ pavesenti kodhābhibhūtassa. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.
Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they weren’t wealthy!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy who is wealthy. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, the rulers seize the legitimate wealth they’ve earned by their efforts, built up with their own hands, gathered by the sweat of their brow. This is the fourth thing …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này không có tài sản!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không hoan hỷ với sự giàu có của kẻ thù. Này các Tỳ khưu, đối với người hay phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, những tài sản nào của người ấy có được do nỗ lực tinh tấn, do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp, hợp pháp, thì các tài sản ấy cũng bị vua chúa sung vào công quỹ vì người ấy bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ tư, điều mà kẻ thù mong muốn, điều làm lợi cho kẻ thù, xảy đến cho người hay phẫn nộ, dù là phụ nữ hay nam giới.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na yasavā assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa yasavatāya nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto, yopissa so hoti yaso appamādādhigato, tamhāpi dhaṁsati kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.
Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they weren’t famous!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have a famous enemy. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, any fame they have acquired by diligence falls to dust. This is the fifth thing …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này không có danh tiếng!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không hoan hỷ với danh tiếng của kẻ thù. Này các Tỳ khưu, người hay phẫn nộ này, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, danh tiếng nào của người ấy có được do không dể duôi, người ấy cũng bị mất đi danh tiếng ấy vì bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ năm, điều mà kẻ thù mong muốn, điều làm lợi cho kẻ thù, xảy đến cho người hay phẫn nộ, dù là phụ nữ hay nam giới.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ na mittavā assā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa mittavatāya nandati. Kodhanaṁ, bhikkhave, purisapuggalaṁ kodhābhibhūtaṁ kodhaparetaṁ, yepissa te honti mittāmaccā ñātisālohitā, tepi ārakā parivajjanti kodhābhibhūtaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.
Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only they had no friends!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy with friends. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, their friends and colleagues, relatives and kin avoid them from afar. This is the sixth thing …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này không có bạn bè!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không hoan hỷ với việc có bạn bè của kẻ thù. Này các Tỳ khưu, người hay phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, bạn bè, thân hữu, quyến thuộc, bà con của người ấy cũng xa lánh người bị phẫn nộ chinh phục. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ sáu, điều mà kẻ thù mong muốn, điều làm lợi cho kẻ thù, xảy đến cho người hay phẫn nộ, dù là phụ nữ hay nam giới.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sapatto sapattassa evaṁ icchati: ‘aho vatāyaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyā’ti. Taṁ kissa hetu? Na, bhikkhave, sapatto sapattassa sugatigamane nandati. Kodhanoyaṁ, bhikkhave, purisapuggalo kodhābhibhūto kodhapareto kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya …pe… kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati kodhābhibhūto. Ayaṁ, bhikkhave, sattamo dhammo sapattakanto sapattakaraṇo kodhanaṁ āgacchati itthiṁ vā purisaṁ vā.
Ime kho, bhikkhave, satta dhammā sapattakantā sapattakaraṇā kodhanaṁ āgacchanti itthiṁ vā purisaṁ vāti.
Furthermore, an enemy wishes for an enemy: ‘If only, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell!’ Why is that? Because an enemy doesn’t like to have an enemy who goes to a good place. When an individual is irritable, overcome and overwhelmed by anger, they do bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is the seventh thing that pleases and assists an enemy which happens to an irritable woman or man.
These are the seven things that please and assist an enemy which happen to an irritable woman or man.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, kẻ thù mong muốn cho kẻ thù của mình như sau: ‘Mong sao người này, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!’ Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, kẻ thù không hoan hỷ với việc đi đến thiện thú của kẻ thù. Này các Tỳ khưu, người hay phẫn nộ này, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, thực hành ác hạnh qua thân, thực hành ác hạnh qua lời nói, thực hành ác hạnh qua ý. Người ấy, do bị phẫn nộ chinh phục, sau khi thực hành ác hạnh qua thân, qua lời nói... sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỳ khưu, đây là pháp thứ bảy, điều mà kẻ thù mong muốn, điều làm lợi cho kẻ thù, xảy đến cho người hay phẫn nộ, dù là phụ nữ hay nam giới. Này các Tỳ khưu, bảy pháp này, điều mà kẻ thù mong muốn, điều làm lợi cho kẻ thù, xảy đến cho người hay phẫn nộ, dù là phụ nữ hay nam giới.
Kodhano dubbaṇṇo hoti, atho dukkhampi seti so; Atho atthaṁ gahetvāna, anatthaṁ adhipajjati.
An irritable person is ugly and they sleep badly. When they get what they need, they take it to be what they don’t need.
Người hay phẫn nộ có dung sắc xấu xí, lại còn ngủ không yên giấc. Rồi người ấy nắm lấy điều lợi, nhưng lại rơi vào bất lợi.
Tato kāyena vācāya, vadhaṁ katvāna kodhano; Kodhābhibhūto puriso, dhanajāniṁ nigacchati.
Kodhasammadasammatto,
An angry person kills with body or speech; overcome with anger, they lose their wealth.
Mad with anger,
Do đó, người hay phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, sau khi gây tổn hại bằng thân và khẩu, liền đi đến chỗ tổn thất tài sản.
Say sưa trong cơn say phẫn nộ, người ấy đi đến chỗ mất danh tiếng. Bà con, bạn bè, thân hữu đều xa lánh người hay phẫn nộ.
Anatthajanano kodho, kodho cittappakopano; Bhayamantarato jātaṁ, taṁ jano nāvabujjhati.
Anger creates harm; anger upsets the mind. That person doesn’t recognize the danger that arises within.
Phẫn nộ sinh ra bất lợi, phẫn nộ làm tâm khuấy động. Mối nguy hiểm sinh từ bên trong, người đời không giác ngộ được điều ấy.
Kuddho atthaṁ na jānāti, kuddho dhammaṁ na passati; Andhatamaṁ tadā hoti, yaṁ kodho sahate naraṁ.
An angry person doesn’t know the good. An angry person doesn’t see the truth. When a person is beset by anger, only blind darkness is left.
Người phẫn nộ không biết lợi ích, người phẫn nộ không thấy được Pháp. Khi phẫn nộ chinh phục con người, lúc ấy là bóng tối mịt mù.
Yaṁ kuddho uparodheti, sukaraṁ viya dukkaraṁ; Pacchā so vigate kodhe, aggidaḍḍhova tappati.
An angry person destroys with ease what was hard to build. Afterwards, when the anger is spent, they’re tormented as if burnt by fire.
Việc khó làm, người phẫn nộ lại gây hấn như thể dễ dàng. Về sau, khi cơn giận đã nguôi, người ấy bị dằn vặt như bị lửa thiêu.
Dummaṅkuyaṁ padasseti, dhūmaṁ dhūmīva pāvako; Yato patāyati kodho, yena kujjhanti mānavā.
Their look betrays their sulkiness like a fire’s smoky plume. And when their anger flares up, they make others angry.
Khi sân hận bùng phát, khiến con người nổi giận, nó biểu lộ sự u ám, như ngọn lửa bốc lên khói.
Nāssa hirī na ottappaṁ, na vāco hoti gāravo; Kodhena abhibhūtassa, na dīpaṁ hoti kiñcanaṁ.
They have no conscience or prudence, nor any respectful speech. One overcome by anger has no island refuge anywhere.
Người ấy không có tàm, không có quý, không tôn trọng lời nói. Người bị phẫn nộ chinh phục, không có nơi nương tựa nào cả.
Tapanīyāni kammāni, yāni dhammehi ārakā; Tāni ārocayissāmi, taṁ suṇātha yathā tathaṁ.
The deeds that torment a man are far from those that are good. I’ll explain them now; listen to this, for it is the truth.
Những nghiệp gây ray rứt, xa lìa các thiện pháp, Ta sẽ nói về chúng, hãy lắng nghe như thật.
Kuddho hi pitaraṁ hanti, hanti kuddho samātaraṁ; Kuddho hi brāhmaṇaṁ hanti, hanti kuddho puthujjanaṁ.
An angry person slays their father; their mother, too, they slay. An angry person slays a saint; a normal person, too, they slay.
Người phẫn nộ giết cha, người phẫn nộ giết mẹ ruột của mình. Người phẫn nộ giết Bà la môn, người phẫn nộ giết kẻ phàm phu.
Yāya mātu bhato poso, imaṁ lokaṁ avekkhati; Tampi pāṇadadiṁ santiṁ, hanti kuddho puthujjano.
A man is raised by his mother, who shows him the world. But an angry ordinary person slays even that good woman who gave him life.
Nhờ người mẹ mà con được nuôi dưỡng, nhìn thấy được thế gian này. Ngay cả người mẹ ấy, người cho sự sống, người hiền hòa, kẻ phàm phu phẫn nộ cũng giết.
Attūpamā hi te sattā, attā hi paramo piyo; Hanti kuddho puthuttānaṁ, nānārūpesu mucchito.
Like oneself, those sentient beings hold themselves most dear. But when angered, they kill themselves in different ways, distraught in many respects.
Chúng sanh xem mình là trên hết, vì tự ngã là quý nhất. Người phẫn nộ, mê đắm trong các sắc tướng khác nhau, lại giết hại chính bản thân mình.
Asinā hanti attānaṁ, visaṁ khādanti mucchitā; Rajjuyā bajjha mīyanti, pabbatāmapi kandare.
Some kill themselves with swords, some, distraught, take poison. Some hang themselves with rope, or fling themselves down a mountain gorge.
Họ tự sát bằng gươm, mê muội mà ăn thuốc độc; họ thắt cổ bằng dây thừng mà chết, hoặc lao mình từ vách núi, vực sâu.
Bhūnahaccāni kammāni, attamāraṇiyāni ca; Karontā nāvabujjhanti, kodhajāto parābhavo.
When they commit deeds of baby-killing, and killing themselves, they don’t realize what they do, for anger leads to their downfall.
Họ làm những nghiệp phá hoại sự sống, và những nghiệp dẫn đến tự sát, mà không hiểu rằng: sự suy vong sinh ra từ phẫn nộ.
Itāyaṁ kodharūpena, maccupāso guhāsayo; Taṁ damena samucchinde, paññāvīriyena diṭṭhiyā.
The snare of death in the form of anger lies hidden in the heart. You should cut it out by self-control, by wisdom, energy, and right ideas.
Như vậy, cái bẫy của thần chết này, dưới hình thức phẫn nộ, ẩn trong hang sâu. Hãy đoạn trừ nó bằng sự chế ngự, bằng trí tuệ, tinh tấn, và chánh kiến.
Yathā metaṁ akusalaṁ, samucchindetha paṇḍito; Tatheva dhamme sikkhetha, mā no dummaṅkuyaṁ ahu.
An astute person should cut out this unskillful thing. And they’d train in the teaching in just the same way, not yielding to sulkiness.
Như người trí đoạn trừ điều bất thiện này, cũng vậy, hãy tu học trong các pháp, với ý nghĩ: ‘Mong rằng chúng ta không còn u ám’.
Vītakodhā anāyāsā, Vītalobhā anussukā; Dantā kodhaṁ pahantvāna, Parinibbanti anāsavā”ti.
Ekādasamaṁ.
Free of anger, free of despair, free of greed, with no more longing, tamed, having given up anger, the undefiled are fully extinguished.”
Những vị đã lìa sân, không còn phiền muộn, đã lìa tham, không còn ganh tỵ; các ngài đã được điều phục, sau khi từ bỏ phẫn nộ, đã tịch diệt vì không còn lậu hoặc. Hết kinh thứ mười một.
Abyākatavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Vô Ký, thứ sáu.
Abyākato purisagati, Tissa sīha arakkhiyaṁ; Kimilaṁ satta pacalā, Mettā bhariyā kodhekādasāti.
Vô Ký, Hành Trình của Người, Tissa, Sīha, Không Cần Hộ Trì; Kimila, Bảy Pháp, Ngủ Gật, Từ Bi, Người Vợ, và Phẫn Nộ là mười một.