- Aṅguttara Nikāya 7.61
- 6. Abyākatavagga
Pacalāyamānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pacalāyamānasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, tại vườn Nai. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai, rồi hiện ra trước mặt Tôn giả Mahàmoggallàna, tại làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:
—Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục? Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
TTC 2—Do vậy, này Moggallàna, khi nào Thầy trú có tưởng và thụy miên xâm nhập Thầy, chớ có tác ý đến nó, chớ có tưởng nhiều đến nó. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 3Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna, với tâm của Thầy, hãy tùy tâm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 4Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy đọc tụng pháp một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 5Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy kéo hai lỗ tai của Thầy, và lấy tay xoa bóp tay chân. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 6Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy từ chỗ ngồi, đứng dậy lấy nước chùi mắt, nhìn về phía chân trời và nhìn lên các sao lấp lánh. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 7Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy tác ý đến quang tưởng và an trú vào tưởng ban ngày. Như ban ngày, ban đêm cũng vậy. Như ban đêm, ban ngày cũng vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 8Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy trú tâm trên chỗ kinh hành, với tưởng trước mặt và sau lưng, với căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
TTC 9Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức dậy. Và khi thức dậy, này Moggallàna, Thầy hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: “Ta sẽ trú, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm xuống một bên, lạc thụy miên”. Như vậy, này Moggallàna, Thầy cần phải học tập.
TTC 10Do vậy, này Moggallàna, hãy học tập như sau: “Không say sưa trong cao mạn, ta sẽ đi đến thăm các gia đình”. Này Moggallàna, như vậy các Thầy sẽ học tập. Này Moggallàna, nếu Tỷ-kheo say sưa trong cao mạn đi đến thăm các gia đình. Trong các gia đình, này Moggallàna, người ta có nhiều công việc phải làm. Do vậy, người ta không có tác ý đến Tỷ-kheo đã đi đến. Ở đây, Tỷ-kheo ấy có thể suy nghĩ: “Nay, ai đã chia rẽ ta với gia đình này. Các người này không ưa thích gì ta”. Như vậy, do không được gì, vị ấy nản chí, vị ấy giao động; do giao động, vị ấy không phòng hộ, do không phòng hộ, tâm rời xa Thiền định. Do vậy, này Moggallàna, hãy học tập như sau: “Ta sẽ không nói lời khiêu khích”. Như vậy, này Moggallàna, Thầy cần phải học tập. Khi nào có lời khiêu khích, này Moggallàna, thời chờ đợi là nhiều lời qua tiếng lại, khi nào có nhiều lời qua tiếng lại, thời có dao động. Với người có dao động, thời không có phòng hộ. Với người không có phòng hộ, tâm rời xa Thiền định. Này Moggallàna, Ta không tán thán tất cả sự liên hệ, nhưng không phải Ta không tán thán tất cả sự liên hệ. Thật vậy, này Moggallàna, Ta không tán thán các vị xuất gia có sự liên hệ, với các gia chủ. Nhưng với các trú xứ ít tiếng ồn, ít tiếng động, thoát khỏi hơi thở của nhiều người, những chỗ ở cô độc xa vắng loài Người, thích hợp cho đời sống Thiền tịnh, Ta tán thán sự liên hệ với những trú xứ như vậy.
TTC 11Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Mahàmoggallàna bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào, tóm tắt lại, một Tỷ-kheo được giải thoát nhờ sự đoạn diệt khát ái, đạt đến cứu cánh mục đích, đạt đến cứu cánh an ổn khỏi ách nạn, đạt đến cứu cánh Phạm hạnh, đạt đến cứu cánh của cứu cánh, trở thành tối thượng giữa chư Thiên và loài Người?
—Này Moggallàna, ở đây, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Không nên thiên chấp tất cả pháp”. Này Moggallàna, và Tỷ-kheo được nghe như sau: “Không nên thiên chấp tất cả pháp”. Vị ấy thắng tri tất cả pháp; do thắng tri tất cả pháp, vị ấy liễu tri tất cả pháp. Do liễu tri tất cả pháp, phàm có cảm thọ gì được cảm giác, lạc, khổ hay không khổ, không lạc, vị ấy trú tùy quán vô thường đối với các cảm thọ ấy. Vị ấy trú tùy quán ly tham. Vị ấy trú tùy quán đoạn diệt. Vị ấy trú tùy quán từ bỏ. Do vị ấy trú tùy quán vô thường trong các cảm thọ, do vị ấy trú tùy quán ly tham, do vị ấy tùy quán đoạn diệt. Vị ấy trú tùy quán từ bỏ, nên không chấp thủ một cái gì ở đời; do không chấp thủ nên không lo âu; do không tham đắm nên tự mình nhập Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trong trạng thái này nữa”. Này Moggallàna, cho đến như vậy, tóm tắt lại, một Tỷ-kheo được giải thoát nhờ sự đoạn diệt khát ái, đạt đến mục đích cứu cánh, đạt đến cứu cánh an ổn khỏi các ách nạn, đạt đến cứu cánh Phạm hạnh, đạt đến cứu cánh của cứu cánh, trở thành tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
Này các Tỷ-kheo, chớ có sợ hãi các công đức. Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với an lạc chính là các công đức . Ta thắng tri rằng, này các Tỷ-kheo, các công đức được làm lâu ngày có quả dị thục, có sự hình thành khả ái, khả hỷ, khả ý lâu ngày. Trong bảy năm Ta tu tập từ tâm, sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy thành kiếp hoại kiếp, Ta không trở lui lại thế giới này. Khi thế giới ở trong thành kiếp, này các Tỷ-kheo, Ta đi đến thế giới Quang âm thiên. Khi thế giới ở trong kiếp đấy, này các Tỷ-kheo, Ta là Phạm thiên, là Ðại phạm thiên, vị Chiến thắng, vị Vô năng thắng, vị Biến tri, vị Tự tại. Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, Ta là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, Ta là vị Chuyển luân vương theo Chánh pháp, là vị Pháp vương, bậc Chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Này các Tỷ-kheo, Ta có bảy loại châu báu này, như là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và cư sĩ báu là thứ bảy. Ta có hơn một ngàn người con trai, này các Tỷ-kheo, là những bậc anh hùng, dõng mãnh, đánh tan địch quân. Và khi Ta chiến thắng quả đất này, xa cho đến bờ biển, Ta trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng đao, đúng với Chánh pháp.
Hãy xem quả dị thục,
Của các việc công đức,
Của các việc hiền thiện,
Với kẻ tìm an lạc.
Này Tỷ-kheo, Ta tu,
Từ tâm trong bảy năm,
Trong bảy thành hoại kiếp,
Không trở lại thành kiếp,
Ta đạt Quang âm thiên,
Khi thế giới hoại kiếp
Sanh Phạm cung trống rỗng.
Bảy lần, Ta đóng vai,
Ðại Phạm thiên, Tự tại,
Trong ba mươi sáu lần,
Làm Thiên chủ Thiên giới.
Ta làm vua Chuyển luân,
Chủ tể cõi Diêm-phù.
Bậc Sát-ly quán đảnh,
Bậc chủ tể loài Người,
Ta chiến thắng đất này,
Không với trượng, với kiếm,
Không bạo lực, đúng pháp,
Ðối mọi người bình đẳng,
Ta trị vì đúng pháp,
Trên cõi đất tròn này.
Ta khiến các gia đình,
Giàu lớn, tài sản lớn,
Họ hưởng mọi dục lạc,
Ta đầy đủ bảy báu,
Chư Phật thương tưởng đời,
Khéo dạy điều như vậy.
Ðấy là nhân đại sự,
Ðược gọi là Ðịa vương.
Ta là vua, huy hoàng,
Bảo vệ nhiều tài sản,
Có thần lực, danh xưng,
Vương chủ rừng Diêm-phù,
Ai nghe, không tịnh tín?
Trừ các loại ác sanh,
Do vậy muốn lợi ích,
Cầu vọng sự lớn mạnh,
Hãy kính trọng diệu pháp,
Hãy nhớ lời Phật dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Gật Gù
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno magadhesu kallavāḷaputtagāme pacalāyamāno nisinno hoti. Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ magadhesu kallavāḷaputtagāme pacalāyamānaṁ nisinnaṁ. Disvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—bhaggesu susumāragire bhesakaḷāvane migadāye antarahito magadhesu kallavāḷaputtagāme āyasmato mahāmoggallānassa sammukhe pāturahosi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
Now at that time, in the land of the Magadhans near Kallavāḷamutta Village, Venerable Mahāmoggallāna was nodding off while meditating. The Buddha saw him with his clairvoyance that is purified and superhuman. Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the deer park at Bhesakaḷā’s Wood in the land of the Bhaggas and reappeared in front of Mahāmoggallāna near Kallavāḷamutta Village in the land of the Magadhans.
He sat down on the seat spread out and said to Mahāmoggallāna,
61. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở xứ Bhagga, tại thành Susumāragira, trong khu rừng Bhesakaḷā, tại vườn Lộc Uyển. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna đang ngồi ngủ gật tại làng Kallavāḷaputta ở xứ Magadha. Đức Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, đã thấy Tôn giả Mahāmoggallāna đang ngồi ngủ gật tại làng Kallavāḷaputta ở xứ Magadha. Sau khi thấy, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi khu rừng Bhesakaḷā, vườn Lộc Uyển ở thành Susumāragira xứ Bhagga, và hiện ra trước mặt Tôn giả Mahāmoggallāna tại làng Kallavāḷaputta ở xứ Magadha. Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này:
“Evaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, moggallāna, yathāsaññissa te viharato taṁ middhaṁ okkamati, taṁ saññaṁ mā manasākāsi, taṁ saññaṁ mā bahulamakāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, moggallāna, vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
“Yes, sir.”
“So, Moggallāna, don’t focus on or cultivate the perception that you were meditating on when you fell drowsy. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Này Moggallāna, có phải ông đang ngủ gật không? Này Moggallāna, có phải ông đang ngủ gật không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Vì vậy, này Moggallāna, khi ông đang trú với tưởng nào mà cơn buồn ngủ ấy xâm chiếm, ông chớ tác ý đến tưởng ấy, chớ làm cho nhiều tưởng ấy. Này Moggallāna, có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkeyyāsi anuvicāreyyāsi, manasā anupekkheyyāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
But what if that doesn’t work? Then think about and consider the teaching as you’ve learned and memorized it, examining it with your mind. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy tầm tứ, hãy sát nghiệm bằng tâm, hãy quán xét bằng ý về Pháp như đã được nghe, như đã được học. Có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ kareyyāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
But what if that doesn’t work? Then rehearse in detail the teaching as you’ve learned and memorized it. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy tụng đọc một cách chi tiết Pháp như đã được nghe, như đã được học. Có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, ubho kaṇṇasotāni āviñcheyyāsi, pāṇinā gattāni anumajjeyyāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
But what if that doesn’t work? Then pinch your ears and rub your limbs. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy kéo hai dái tai, hãy dùng tay xoa bóp chân tay. Có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, uṭṭhāyāsanā udakena akkhīni anumajjitvā disā anuvilokeyyāsi, nakkhattāni tārakarūpāni ullokeyyāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
But what if that doesn’t work? Then get up from your seat, flush your eyes with water, look around in every direction, and look up at the stars and constellations. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, dùng nước rửa mắt, hãy nhìn các phương, hãy ngước nhìn các tinh tú, các vì sao. Có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, ālokasaññaṁ manasi kareyyāsi, divāsaññaṁ adhiṭṭhaheyyāsi—yathā divā tathā rattiṁ yathā rattiṁ tathā divā. Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveyyāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
But what if that doesn’t work? Then apply your mind to the perception of light, focusing on the perception of day: as by day, so by night; as by night, so by day. And so, with an open and unenveloped heart, develop a mind that’s full of radiance. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy tác ý đến tưởng ánh sáng, hãy an trú tưởng ban ngày – ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy; ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy. Như vậy, với tâm rộng mở, không bị bao phủ, ông hãy tu tập tâm có ánh sáng. Có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, pacchāpuresaññī caṅkamaṁ adhiṭṭhaheyyāsi antogatehi indriyehi abahigatena mānasena. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
But what if that doesn’t work? Then walk mindfully, focusing on the perception of before and behind, your faculties directed inwards and your mind not scattered outside. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy thực hành kinh hành với tưởng về phía sau và phía trước, với các căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Có trường hợp này là khi ông trú như vậy, cơn buồn ngủ ấy có thể được đoạn trừ.”
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeyyāsi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā. Paṭibuddhena ca te, moggallāna, khippaññeva paccuṭṭhātabbaṁ: ‘na seyyasukhaṁ na passasukhaṁ na middhasukhaṁ anuyutto viharissāmī’ti. Evañhi te, moggallāna, sikkhitabbaṁ.
But what if that doesn’t work? Then lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. When you wake, you should get up quickly, thinking: ‘I will not live indulging in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing.’ That’s how you should train.
“Nếu khi ông trú như vậy mà cơn buồn ngủ ấy không được đoạn trừ, thì này Moggallāna, ông hãy nằm xuống trong tư thế sư tử, nghiêng về hông bên phải, đặt chân này lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, tác ý đến tưởng thức dậy. Và này Moggallāna, khi đã thức dậy, ông phải nhanh chóng đứng lên, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trú, chuyên tâm vào sự thoải mái của việc nằm, sự thoải mái của việc nghiêng mình, sự thoải mái của giấc ngủ’. Này Moggallāna, ông phải học tập như vậy.”
Tasmātiha, moggallāna, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na uccāsoṇḍaṁ paggahetvā kulāni upasaṅkamissāmī’ti. Evañhi te, moggallāna, sikkhitabbaṁ. Sace, moggallāna, bhikkhu uccāsoṇḍaṁ paggahetvā kulāni upasaṅkamati, santi hi, moggallāna, kulesu kiccakaraṇīyāni. Yehi manussā āgataṁ bhikkhuṁ na manasi karonti, tatra bhikkhussa evaṁ hoti: ‘kosu nāma idāni maṁ imasmiṁ kule paribhindi, virattarūpā dānime mayi manussā’ti. Itissa alābhena maṅkubhāvo, maṅkubhūtassa uddhaccaṁ, uddhatassa asaṁvaro, asaṁvutassa ārā cittaṁ samādhimhā.
So you should train like this: ‘I will not approach families with my head swollen with vanity.’ That’s how you should train. What happens if a mendicant approaches families with a head swollen with vanity? Well, families have business to attend to, so people might not notice when a mendicant arrives. In that case the mendicant thinks: ‘Who on earth has turned this family against me? It seems they don’t like me any more.’ And so, because they don’t get anything they feel dismayed. Being dismayed, they become restless. Being restless, they lose restraint. And without restraint the mind is far from immersion.
“Vì vậy, này Moggallāna, ông phải học tập như vầy: ‘Ta sẽ không đến gần các gia đình với thái độ kiêu mạn’. Này Moggallāna, ông phải học tập như vậy. Này Moggallāna, nếu một vị tỳ-khưu đến gần các gia đình với thái độ kiêu mạn, thì này Moggallāna, trong các gia đình có những công việc phải làm. Do đó, người ta không chú ý đến vị tỳ-khưu đã đến. Khi ấy, vị tỳ-khưu khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ai đã gây chia rẽ ta với gia đình này? Bây giờ những người này có vẻ xa lánh ta’. Như vậy, do không được lợi dưỡng, vị ấy trở nên bối rối; người bối rối thì có trạo cử; người trạo cử thì không có sự thu thúc; người không thu thúc thì tâm xa rời định.”
Tasmātiha, moggallāna, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na viggāhikakathaṁ kathessāmī’ti. Evañhi te, moggallāna, sikkhitabbaṁ. Viggāhikāya, moggallāna, kathāya sati kathābāhullaṁ pāṭikaṅkhaṁ, kathābāhulle sati uddhaccaṁ, uddhatassa asaṁvaro, asaṁvutassa ārā cittaṁ samādhimhā. Nāhaṁ, moggallāna, sabbeheva saṁsaggaṁ vaṇṇayāmi. Na panāhaṁ, moggallāna, sabbeheva saṁsaggaṁ na vaṇṇayāmi. Sagahaṭṭhapabbajitehi kho ahaṁ, moggallāna, saṁsaggaṁ na vaṇṇayāmi. Yāni ca kho tāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni tathārūpehi senāsanehi saṁsaggaṁ vaṇṇayāmī”ti.
So you should train like this: ‘I won’t get into arguments.’ That’s how you should train. When there’s an argument, you can expect there’ll be lots of talking. When there’s lots of talking, people become restless. Being restless, they lose restraint. And without restraint the mind is far from immersion. Moggallāna, I don’t praise all kinds of closeness. Nor do I criticize all kinds of closeness. I don’t praise closeness with laypeople and renunciates. I do praise closeness with those lodgings that are quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat.”
“Vì vậy, này Moggallāna, ông phải học tập như vầy: ‘Ta sẽ không nói lời tranh cãi’. Này Moggallāna, ông phải học tập như vậy. Này Moggallāna, khi có lời tranh cãi, có thể mong đợi sự nói nhiều; khi có sự nói nhiều, có thể mong đợi trạo cử; người trạo cử thì không có sự thu thúc; người không thu thúc thì tâm xa rời định. Này Moggallāna, Ta không tán thán sự giao du với tất cả mọi người. Nhưng này Moggallāna, Ta cũng không phải là không tán thán sự giao du với tất cả mọi người. Này Moggallāna, Ta không tán thán sự giao du với cả người tại gia và người xuất gia. Những trú xứ nào ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư, Ta tán thán sự giao du với những trú xứ như vậy.”
Evaṁ vutte, āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti?
When he said this, Venerable Moggallāna asked the Buddha, “Sir, how do you briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans?”
Khi được nói như vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, do mức độ nào mà một vị tỳ khưu, một cách tóm tắt, được giải thoát nhờ sự đoạn tận ái, đạt đến cứu cánh tuyệt đối, đạt đến sự an ổn tuyệt đối khỏi các ách phược, là người có phạm hạnh tuyệt đối, đạt đến sự kết thúc tuyệt đối, là bậc tối thượng giữa trời và người?”
“Idha, moggallāna, bhikkhuno sutaṁ hoti: ‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti; evañcetaṁ, moggallāna, bhikkhuno sutaṁ hoti: ‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti. So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti. Sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vediyati sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto virāgānupassī viharanto nirodhānupassī viharanto paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaṁyeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Ettāvatā kho, moggallāna, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Take a mendicant who has heard: ‘Nothing is worth insisting on.’ When a mendicant has heard that nothing is worth insisting on, they directly know all things. Directly knowing all things, they completely understand all things. Completely understanding all things, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—they meditate observing impermanence, dispassion, cessation, and letting go in those feelings. Meditating in this way, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ That’s how I briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans.”
“Này Moggallāna, ở đây, vị tỳ khưu đã được nghe rằng: ‘Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ.’ Và này Moggallāna, vị tỳ khưu đã được nghe điều này như vậy: ‘Tất cả các pháp không đáng để chấp thủ.’ Vị ấy thắng tri tất cả các pháp, sau khi thắng tri tất cả các pháp, vị ấy liễu tri tất cả các pháp. Sau khi liễu tri tất cả các pháp, vị ấy cảm thọ bất cứ cảm thọ nào, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc bất khổ bất lạc. Vị ấy sống, quán vô thường trong các cảm thọ ấy; sống, quán ly tham; sống, quán đoạn diệt; sống, quán xả ly. Vị ấy, trong khi sống quán vô thường, sống quán ly tham, sống quán đoạn diệt, sống quán xả ly trong các cảm thọ ấy, không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không lo sợ. Không lo sợ, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này Moggallāna, do mức độ này, vị tỳ khưu, một cách tóm tắt, được giải thoát nhờ sự đoạn tận ái, đạt đến cứu cánh tuyệt đối, đạt đến sự an ổn tuyệt đối khỏi các ách phược, là người có phạm hạnh tuyệt đối, đạt đến sự kết thúc tuyệt đối, là bậc tối thượng giữa trời và người.” (Kinh thứ) tám.