- Aṅguttara Nikāya 7.57
- 6. Abyākatavagga
Sīhasenāpatisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sīhasenāpatisutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi tướng quân Sìha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tướng quân Sìha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nêu rõ kết quả hiện tại của sự bố thí?
TTC 2—Này Sìha, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy. Ông nghĩ thế nào, này Sìha, ở đây có hai người: một người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu; một người có lòng tin là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với ai trước, với người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu hay với người có lòng tin, là người chí thủ, không có chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này trước được? Và bạch Thế Tôn, người nào có lòng tin, là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này trước.
TTC 3—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán đi đến thăm sẽ đi đến hạng người này trước.
TTC 4—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán thọ lãnh đồ ăn khất thực, có thể thọ lãnh của ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán thọ lãnh, có thể thọ lãnh của hạng người ấy trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán có thể thọ lãnh của hạng người này trước.
TTC 5—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán thuyết pháp cho ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán thuyết pháp sẽ thuyết pháp cho hạng người ấy trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán thuyết pháp có thể thuyết pháp cho hạng người này trước.
TTC 6—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, danh tiếng tốt đẹp của ai được truyền rộng ra, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao danh tiếng tốt đẹp của hạng người ấy được truyền rộng ra? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, danh tiếng tốt đẹp của hạng người này có thể được truyền rộng ra.
TTC 7—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, ai đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè được? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, hạng người ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè.
TTC 8—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, sau khi thân hoại mạng chung, ai có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, hạng người này, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
TTC 9Bạch Thế Tôn, sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con biết họ. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, có lòng từ mẫn với con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có đi đến thăm, đi đến thăm con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có nhận lãnh đồ ăn khất thực, nhận lãnh của con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có thuyết pháp, thuyết pháp cho con trước. . Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ, tiếng đồn tốt đẹp về con được truyền rộng ra: “Tướng quân Sìha là người bố thí, là người hành động, là người ủng hộ chúng Tăng”. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ; con đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè. Bạch Thế Tôn, sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố, không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con biết họ. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói về con như sau: “Sìha là người bố thí, là thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này”. Con không biết vấn đề này, ở đây, con đi đến lòng tin nơi Thế Tôn.
—Như vậy là phải, này Sìha! Như vậy là phải, này Sìha! Sìha là người bố thí, là người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Tướng quân Sīha
“sakkā nu kho, bhante, sandiṭṭhikaṁ dānaphalaṁ paññāpetun”ti?
“Sir, can you point out a fruit of giving that’s apparent in the present life?”
57. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, ở giảng đường có mái nhọn. Khi ấy, tướng quân Sīha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tướng quân Sīha bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, có thể nào chỉ ra được quả của sự bố thí có thể thấy được ngay trong hiện tại không?’
“Tena hi, sīha, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, sīha, idha dve purisā—eko puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, eko puriso saddho dānapati anuppadānarato. Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kaṁ nu kho arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampeyyuṁ: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Well then, Sīha, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, Sīha? Consider two people. One is faithless, stingy, miserly, and abusive. One is a faithful donor who loves charity. Which do you think the perfected ones will show sympathy for first?”
‘Vậy thì, này Sīha, Ta sẽ hỏi lại ông về vấn đề này. Ông hãy trả lời theo như ông nghĩ. Này Sīha, ông nghĩ thế nào? Ở đây có hai người: một người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc; một người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí. Này Sīha, ông nghĩ thế nào? Trong hai người đó, các bậc A-la-hán sẽ tế độ ai trước, vì lòng thương tưởng? Người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, hay là người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí?’
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampissanti. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato taṁyeva arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampeyyuṁ”.
“Why would the perfected ones first show sympathy for the person who is faithless, stingy, miserly, and abusive? They’d show sympathy first for the faithful donor who loves charity.”
‘Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao các bậc A-la-hán lại tế độ người ấy trước, vì lòng thương tưởng! Bạch Thế Tôn, đối với người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí, chính người ấy mới được các bậc A-la-hán tế độ trước, vì lòng thương tưởng.’
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kaṁ nu kho arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkameyyuṁ: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti? “Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamissanti. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato taṁyeva arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkameyyuṁ”.
“Which do you think the perfected ones will first approach?” “They’d first approach the faithful donor who loves charity.”
‘Này Sīha, ông nghĩ thế nào? Trong hai người đó, các bậc A-la-hán sẽ đến gần ai trước? Người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, hay là người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí?’ ‘Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao các bậc A-la-hán lại đến gần người ấy trước! Bạch Thế Tôn, đối với người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí, chính người ấy mới được các bậc A-la-hán đến gần trước.’
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇheyyuṁ: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti? “Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhissanti. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇheyyuṁ”.
“Which do you think the perfected ones will receive alms from first?” “They’d receive alms first from the faithful donor who loves charity.”
‘Này Sīha, ông nghĩ thế nào? Trong hai người đó, các bậc A-la-hán sẽ thọ nhận vật thí của ai trước? Người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, hay là người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí?’ ‘Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao các bậc A-la-hán lại thọ nhận vật thí của người ấy trước! Bạch Thế Tôn, đối với người có đức tin, là thí chủ, ưa thích bố thí, chính vật thí của người ấy mới được các bậc A-la-hán thọ nhận trước.’
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā deseyyuṁ: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti? “Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desessanti. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā deseyyuṁ”.
“Which do you think the perfected ones will teach the Dhamma to first?” “They’d first teach the Dhamma to the faithful donor who loves charity.”
“Này Sīha, ông nghĩ thế nào về điều này, trong số hai người này -- một người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, và một người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng -- các vị A-la-hán khi thuyết Pháp sẽ thuyết cho ai trước tiên?” “Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao các vị A-la-hán khi thuyết Pháp lại thuyết cho người ấy trước tiên được! Bạch Thế Tôn, chính là đối với người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng, các vị A-la-hán khi thuyết Pháp sẽ thuyết cho người ấy trước tiên.”
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho kalyāṇo kittisaddo abbhuggaccheyya: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti? “Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva kalyāṇo kittisaddo abbhuggaccheyya”.
“Which do you think would get a good reputation?” “The faithful donor who loves charity would get a good reputation.”
“Này Sīha, ông nghĩ thế nào về điều này, trong số hai người này -- một người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, và một người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng -- tiếng tăm tốt đẹp sẽ vang xa cho ai?” “Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao tiếng tăm tốt đẹp lại có thể vang xa cho người ấy được! Bạch Thế Tôn, chính là đối với người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng, tiếng tăm tốt đẹp sẽ vang xa cho người ấy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, ko nu kho yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkameyya, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkameyya amaṅkubhūto: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kiṁ so yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkamissati, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamissati amaṅkubhūto. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato so yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkameyya, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkameyya amaṅkubhūto”.
“Which do you think would enter any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics?”
“How could the person who is faithless, stingy, miserly, and abusive enter any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics? The faithful donor who loves charity would enter any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics.”
“Này Sīha, ông nghĩ thế nào về điều này, trong số hai người này -- một người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, và một người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng -- ai là người khi đi đến bất cứ hội chúng nào, dù là hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng Sa-môn, sẽ đi đến một cách tự tin, không bối rối?” “Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao người ấy khi đi đến bất cứ hội chúng nào, dù là hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng Sa-môn, lại có thể đi đến một cách tự tin, không bối rối được! Bạch Thế Tôn, chính là người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng, người ấy khi đi đến bất cứ hội chúng nào, dù là hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng Sa-môn, sẽ đi đến một cách tự tin, không bối rối.”
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, ko nu kho kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya: ‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kiṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati. Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya.
“When their body breaks up, after death, which do you think would be reborn in a good place, a heavenly realm?”
“Why would the person who is faithless, stingy, miserly, and abusive be reborn in a good place, a heavenly realm? The faithful donor who loves charity would, when their body breaks up, after death, be reborn in a good place, a heavenly realm.
“Này Sīha, ông nghĩ thế nào về điều này, trong số hai người này -- một người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, và một người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng -- ai là người sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới?” “Bạch Thế Tôn, đối với người không có đức tin, keo kiệt, bủn xỉn, hay mắng nhiếc, làm sao người ấy sau khi thân hoại mạng chung lại có thể sanh vào thiện thú, thiên giới được! Bạch Thế Tôn, chính là người có đức tin, là thí chủ, ưa thích việc bố thí không ngừng, người ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới.”
Yānimāni, bhante, bhagavatā sandiṭṭhikāni dānaphalāni akkhātāni, nāhaṁ ettha bhagavato saddhāya gacchāmi. Ahampi etāni jānāmi. Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, maṁ arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampanti. Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, maṁ arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamanti. Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhanti. Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desenti. Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘sīho senāpati dāyako kārako saṅghupaṭṭhāko’ti. Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkamāmi, yadi khattiyaparisaṁ …pe… yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamāmi amaṅkubhūto. Yānimāni, bhante, bhagavatā sandiṭṭhikāni dānaphalāni akkhātāni, nāhaṁ ettha bhagavato saddhāya gacchāmi. Ahampi etāni jānāmi. Yañca kho maṁ, bhante, bhagavā evamāha: ‘dāyako, sīha, dānapati kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī’ti. Etāhaṁ na jānāmi, ettha ca panāhaṁ, bhagavato saddhāya gacchāmī”ti.
“Evametaṁ, sīha, evametaṁ, sīha. Dāyako, sīha, dānapati kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī”ti.
Catutthaṁ.
When it comes to these fruits of giving that are apparent in the present life, I don’t rely on faith in the Buddha, for I know them too. I’m a giver, a donor, and the perfected ones show sympathy for me first. I’m a giver, and the perfected ones approach me first. I’m a giver, and the perfected ones receive alms from me first. I’m a giver, and the perfected ones teach me Dhamma first. I’m a giver, and I have this good reputation: ‘General Sīha gives, serves, and attends on the Saṅgha.’ I’m a giver, I enter any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. When it comes to these fruits of giving that are apparent in the present life, I don’t rely on faith in the Buddha, for I know them too. But when the Buddha says: ‘When a giver’s body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm.’ I don’t know this, so I rely on faith in the Buddha.”
“That’s so true, Sīha! That’s so true! When a giver’s body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm.”
“Bạch Thế Tôn, đối với những quả báu hiện đời của việc bố thí mà Thế Tôn đã tuyên thuyết, về điểm này con không đi theo bằng đức tin nơi Thế Tôn. Con cũng biết những điều này. Bạch Thế Tôn, con là người cho, là thí chủ, các vị A-la-hán khi thể hiện lòng bi mẫn, các vị ấy thể hiện lòng bi mẫn đến con trước tiên. Bạch Thế Tôn, con là người cho, là thí chủ, các vị A-la-hán khi đi đến, các vị ấy đi đến với con trước tiên. Bạch Thế Tôn, con là người cho, là thí chủ, các vị A-la-hán khi nhận, các vị ấy nhận của con trước tiên. Bạch Thế Tôn, con là người cho, là thí chủ, các vị A-la-hán khi thuyết Pháp, các vị ấy thuyết cho con trước tiên. Bạch Thế Tôn, con là người cho, là thí chủ, tiếng tăm tốt đẹp về con đã vang xa rằng: ‘Tướng quân Sīha là người cho, là người làm (phước), là người hộ độ Tăng đoàn.’ Bạch Thế Tôn, con là người cho, là thí chủ, khi con đi đến bất cứ hội chúng nào, dù là hội chúng Sát-đế-lỵ... cho đến... dù là hội chúng Sa-môn, con đi đến một cách tự tin, không bối rối. Bạch Thế Tôn, đối với những quả báu hiện đời của việc bố thí mà Thế Tôn đã tuyên thuyết, về điểm này con không đi theo bằng đức tin nơi Thế Tôn. Con cũng biết những điều này. Nhưng bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con như vầy: ‘Này Sīha, người cho, người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới,’ điều này con không biết, và về điểm này, con đi theo bằng đức tin nơi Thế Tôn.” “Đúng vậy, Sīha; đúng vậy, Sīha! Này Sīha, người cho, người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới.” Kinh thứ tư.