- Aṅguttara Nikāya 7.55
- 6. Abyākatavagga
Bản dịch
AN 7.55 — Sanh Thú Của Loài Người
Purisagatisutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về bảy sanh thú của loài Người, và không chấp thủ Niết-bàn. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo. Thế nào là bảy sanh thú của loài Người?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả. Vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm hữu, không tham đắm hậu hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh. Và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên và trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy đoạn diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 4Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy đoạn diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Trung gian Niết-bàn.
TTC 5Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra , có thể bay lên, sau khi chưa chạm vào đất, có thể trở thành nguội lạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn.
TTC 6Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ nhỏ, hay trên một đống củi nhỏ; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ nhỏ ấy, hay đống củi nhỏ ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Vô hành Niết-bàn.
TTC 7Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ , hay trên một đống củi rộng lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ , hay đống củi rộng lớn ấy, rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này sẽ không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn.
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ.”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chưa chứng ngộ trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng được Thượng lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày và được đập đánh, một miếng vụn có thể văng ra, có thể bay lên, có thể rơi xuống trên một đống cỏ, hay trên một đống củi to lớn; miếng vụn ấy ở đấy sanh ra ngọn lửa, sanh ra khói. Sau khi sanh ra ngọn lửa, sau khi sanh ra khói, nó đốt cháy tiêu hết đồng cỏ, hay đống củi to lớn ấy, thiêu cháy lùm cây, thiêu cháy rừng rậm. Sau khi thiêu cháy thảo nguyên, sau khi thiêu cháy rừng rậm, nó cháy lan đến đám ruộng xanh hay đến đám đất cao, hay đến hòn đá, hay đến dòng nước, hay đến đám đất khả ái, hay đến một phần đất nào rồi trở thành nguội lạnh vì không có nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta…”. Vị ấy, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Thượng lưu Bát-niết-bàn, đi đến Sắc cứu cánh.
Này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú của loài Người. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Không chấp thủ Bát-Niết-bàn?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi thực hành như vậy, suy nghĩ như sau: “Nếu cái này không có, cái này có thể không phải của ta. Nếu cái này sẽ không có, cái này sẽ không phải của ta. Cái gì có, cái gì được thành, ta đều từ bỏ.”. Vị ấy có được xả, vị ấy không tham đắm sanh hữu, không tham đắm tích tụ của hữu; với chánh trí tuệ, vị ấy thấy có con đường vô thượng tịch tịnh và vị ấy chứng đắc trọn vẹn hoàn toàn con đường ấy. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn mạn tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn hữu tham tùy miên. Vị ấy chưa đoạn tận trọn vẹn hoàn toàn vô minh tùy miên. Do diệt tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy tự mình với thắng trí, ngay trong hiện tại, chứng nhập, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Không chấp thủ Bát-niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đây là bảy sanh thú của loài Người và Không chấp thủ Bát-niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.55
- 6. The Undeclared Points
Places People Are Reborn
2. Kinh về các Cảnh giới của Bậc Chân nhân
“Satta ca, bhikkhave, purisagatiyo desessāmi anupādā ca parinibbānaṁ. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“katamā ca, bhikkhave, satta purisagatiyo?
“Mendicants, I will teach you seven places people are reborn, and complete extinguishment with no fuel for grasping. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” the mendicants replied. The Buddha said this:
“And what are the seven places people are reborn?
55. Này các bhikkhu, Ta sẽ giảng về bảy cảnh giới của bậc chân nhân và sự tịch diệt Niết-bàn không còn chấp thủ. Các con hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. – Các vị bhikkhu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này: – Này các bhikkhu, thế nào là bảy cảnh giới của bậc chân nhân?
Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati. So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati. Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity. They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond. But they haven’t completely realized that state. They haven’t totally given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance. With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Này các bhikkhu, ở đây có vị bhikkhu thực hành như sau: ‘Nếu điều ấy đã không có, thì đã không có đối với tôi; nếu điều ấy sẽ không có, thì sẽ không có đối với tôi. Cái gì đang có, cái gì đã hiện hữu, tôi từ bỏ cái ấy.’ Vị ấy chứng được xả. Vị ấy không tham đắm trong hữu, không tham đắm trong sanh hữu, với chánh trí tuệ vị ấy thấy được trạng thái tối thượng, an tịnh. Nhưng trạng thái ấy chưa được vị ấy chứng ngộ một cách hoàn toàn; đối với vị ấy, mạn tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn; hữu ái tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn; vô minh tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn. Do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Này các bhikkhu, ví như khi một tấm sắt được nung nóng suốt ngày bị đập, một mảnh vụn bắn ra rồi tắt lịm. Cũng vậy, này các bhikkhu, vị bhikkhu thực hành như sau: ‘Nếu điều ấy đã không có, thì đã không có đối với tôi; nếu điều ấy sẽ không có, thì sẽ không có đối với tôi. Cái gì đang có, cái gì đã hiện hữu, tôi từ bỏ cái ấy.’ Vị ấy chứng được xả. Vị ấy không tham đắm trong hữu, không tham đắm trong sanh hữu, với chánh trí tuệ vị ấy thấy được trạng thái tối thượng, an tịnh. Nhưng trạng thái ấy chưa được vị ấy chứng ngộ một cách hoàn toàn; đối với vị ấy, mạn tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn; hữu ái tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn; vô minh tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn. Do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Trung gian Bát-niết-bàn.
Lại nữa, này các bhikkhu, ở đây có vị bhikkhu thực hành như sau: ‘Nếu điều ấy đã không có, thì đã không có đối với tôi; nếu điều ấy sẽ không có, thì sẽ không có đối với tôi. Cái gì đang có, cái gì đã hiện hữu, tôi từ bỏ cái ấy.’ Vị ấy chứng được xả. Vị ấy không tham đắm trong hữu, không tham đắm trong sanh hữu, với chánh trí tuệ vị ấy thấy được trạng thái tối thượng, an tịnh. Nhưng trạng thái ấy chưa được vị ấy chứng ngộ một cách hoàn toàn; đối với vị ấy, mạn tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn; hữu ái tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn; vô minh tùy miên chưa được đoạn trừ một cách hoàn toàn. Do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Này các bhikkhu, ví như khi một tấm sắt được nung nóng suốt ngày bị đập, một mảnh vụn bắn ra, bay lên rồi tắt lịm. Cũng vậy, này các bhikkhu, vị bhikkhu thực hành như sau: ‘Nếu điều ấy đã không có, thì đã không có đối với tôi... (như trên)... Do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Trung gian Bát-niết-bàn.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati. So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati. Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā nibbāyeyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā anupahacca talaṁ nibbāyeyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā upahacca talaṁ nibbāyeyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā paritte tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya. Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva parittaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā anāhārā nibbāyeyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā vipule tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya. Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva vipulaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā anāhārā nibbāyeyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati. So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati. Tañca khvassa padaṁ na sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa na sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī. Seyyathāpi, bhikkhave, divasaṁsantatte ayokapāle haññamāne papaṭikā nibbattitvā uppatitvā mahante tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nipateyya. Sā tattha aggimpi janeyya, dhūmampi janeyya, aggimpi janetvā dhūmampi janetvā tameva mahantaṁ tiṇapuñjaṁ vā kaṭṭhapuñjaṁ vā pariyādiyitvā gacchampi daheyya, dāyampi daheyya, gacchampi dahitvā dāyampi dahitvā haritantaṁ vā pathantaṁ vā selantaṁ vā udakantaṁ vā ramaṇīyaṁ vā bhūmibhāgaṁ āgamma anāhārā nibbāyeyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā …pe… so pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī. Imā kho, bhikkhave, satta purisagatiyo.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity. They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond. But they haven’t totally realized that state. They haven’t completely given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance. With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next. Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would be extinguished. In the same way, a mendicant who practices like this … With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next. Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would be extinguished before landing. In the same way, a mendicant who practices like this … With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing. Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would be extinguished upon landing. In the same way, a mendicant who practices like this … ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort. Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would fall on a little heap of grass or twigs. There it would ignite a fire and produce smoke. But the fire would consume the grass or twigs and become extinguished due to not being fed. In the same way, a mendicant who practices like this … ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort. Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would fall on a large heap of grass or twigs. There it would ignite a fire and produce smoke. But the fire would consume the grass or twigs and become extinguished due to not being fed. In the same way, a mendicant who practices like this … ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort.
Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity. They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond. But they haven’t totally realized that state. They haven’t completely given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance. With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. Suppose you struck an iron pot that had been heated all day. Any spark that flew off and floated away would fall on a big heap of grass or twigs. There it would ignite a fire and produce smoke. And after consuming the grass and twigs, the fire would burn up plants and trees until it reached a green field, a roadside, a cliff’s edge, a body of water, or cleared parkland, where it would be extinguished due to not being fed. In the same way, a mendicant who practices like this … ‘It might not be, and it might not be mine. …’ With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. These are the seven places people are reborn.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu thực hành như vầy: ‘(Nghiệp quá khứ) đã không có, (thân hiện tại) của ta đã không có mặt; (nghiệp vị lai) sẽ không có, (thân vị lai) của ta sẽ không có mặt; cái gì hiện có, cái gì đã hiện hữu, ta từ bỏ cái ấy,’ và vị ấy chứng được xả. Vị ấy không tham đắm trong hữu, không tham đắm trong tái sanh, với chánh trí tuệ, vị ấy thấy được trạng thái cao tột, an tịnh. Nhưng trạng thái ấy chưa được vị ấy chứng ngộ một cách hoàn toàn. Nơi vị ấy, mạn tùy miên chưa được đoạn tận hoàn toàn, hữu tham tùy miên chưa được đoạn tận hoàn toàn, vô minh tùy miên chưa được đoạn tận hoàn toàn. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Thượng lưu, đi đến cõi Sắc Cứu Cánh. Này các Tỳ khưu, ví như từ tấm sắt được nung nóng cả ngày, khi được đập, một tia lửa bắn ra, rơi vào một đống cỏ lớn hay một đống củi lớn. Ở đấy, nó có thể tạo ra lửa, có thể tạo ra khói; sau khi đã tạo ra lửa, tạo ra khói, nó thiêu rụi hết đống cỏ lớn hay đống củi lớn ấy, rồi có thể đốt cháy bụi rậm, có thể đốt cháy khu rừng; sau khi đốt cháy bụi rậm, đốt cháy khu rừng, nó đi đến thảm cỏ xanh, hoặc con đường, hoặc tảng đá, hoặc mặt nước, hoặc một vùng đất khả ái, rồi vì hết nhiên liệu, nó tắt ngấm. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thực hành như vầy: ‘(Nghiệp quá khứ) đã không có, (thân hiện tại) của ta đã không có mặt...’ ... Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Thượng lưu, đi đến cõi Sắc Cứu Cánh. Này các Tỳ khưu, đây là bảy hướng đi của bậc trượng phu.
Katamañca, bhikkhave, anupādāparinibbānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti: ‘no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati, yadatthi yaṁ bhūtaṁ taṁ pajahāmī’ti upekkhaṁ paṭilabhati. So bhave na rajjati, sambhave na rajjati, atthuttari padaṁ santaṁ sammappaññāya passati. Tañca khvassa padaṁ sabbena sabbaṁ sacchikataṁ hoti, tassa sabbena sabbaṁ mānānusayo pahīno hoti, sabbena sabbaṁ bhavarāgānusayo pahīno hoti, sabbena sabbaṁ avijjānusayo pahīno hoti. So āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, anupādāparinibbānaṁ.
Imā kho, bhikkhave, satta purisagatiyo anupādā ca parinibbānan”ti.
Dutiyaṁ.
And what is complete extinguishment with no fuel for grasping? Take a mendicant who practices like this: ‘It might not be, and it might not be mine. It will not be, and it will not be mine. I am giving up what exists, what has come to be.’ They gain equanimity. They’re not attached to life, or to creating a new life. And they see with right wisdom that there is a peaceful state beyond. And they have totally realized that state. They’ve completely given up the underlying tendencies of conceit, desire for continued existence, and ignorance. They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is called complete extinguishment with no fuel for grasping.
These are the seven places people are reborn, and complete extinguishment with no fuel for grasping.”
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là Vô thủ trước Bát-niết-bàn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu thực hành như vầy: ‘(Nghiệp quá khứ) đã không có, (thân hiện tại) của ta đã không có mặt; (nghiệp vị lai) sẽ không có, (thân vị lai) của ta sẽ không có mặt; cái gì hiện có, cái gì đã hiện hữu, ta từ bỏ cái ấy,’ và vị ấy chứng được xả. Vị ấy không tham đắm trong hữu, không tham đắm trong tái sanh, với chánh trí tuệ, vị ấy thấy được trạng thái cao tột, an tịnh. Và trạng thái ấy được vị ấy chứng ngộ một cách hoàn toàn. Nơi vị ấy, mạn tùy miên được đoạn tận hoàn toàn, hữu tham tùy miên được đoạn tận hoàn toàn, vô minh tùy miên được đoạn tận hoàn toàn. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc... sau khi tự mình chứng ngộ, vị ấy đạt đến và an trú. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này các Tỳ khưu, đây là bảy hướng đi của bậc trượng phu và Vô thủ trước Bát-niết-bàn.” Hết phẩm thứ hai.