- Aṅguttara Nikāya 7.47
- 5. Mahāyaññavagga
Bản dịch
AN 7.47 — Lửa (2)
Dutiyaaggisutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một tế đàn lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Uggatasarìra, năm trăm con bò đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con nghé đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con nghé cái được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con dê được dắt đến trụ tế đàn, và năm trăm con cừu được dắt đến trụ tế đàn. Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:
—Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.
—Này Bà-la-môn, Ta cũng có nghe: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.
Lần thứ hai… Lần thứ ba, Bà-la-môn Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:
—Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.
—Này Bà-la-môn, Ta cũng có nghe: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”.
—Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chúng ta đồng một mục đích, Tôn giả Gotama và chúng tôi; thật vậy, chúng ta hoàn toàn đồng nhau.
TTC 2Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Uggatasarìra:
—Này Bà-la-môn, không nên hỏi Như Lai rằng: “Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”. Này Bà-la-môn, cần hỏi Như Lai như sau: “Bạch Thế Tôn, con muốn nhen nhúm ngọn lửa, con muốn dựng lên trụ tế đàn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết dạy cho con, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài!”
TTC 3Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, con muốn nhen nhúm ngọn lửa, con muốn dựng trụ tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama hãy giáo giới cho con; Tôn giả Gotama hãy thuyết dạy cho con, để con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
—Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi tế lễ đàn, dựng lên ba cây kiếm bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục. Thế nào là ba?
TTC 4Thân kiếm, ngữ kiếm, ý kiếm. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, khởi lên ý nghĩ: “Chừng ấy con bò đực cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con nghé đực cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con nghé cái cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con dê cần phải giết cho lễ tế đàn, chừng ấy con cừu cần phải giết cho lễ tế đàn”. Vị ấy nghĩ rằng: “Tôi làm công đức”, lại làm bất thiện; nghĩ rằng: “Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành”, lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ý kiếm thứ nhất, bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
TTC 5Lại nữa, này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, nói như sau: “Hãy giết chừng ấy con bò đực cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con nghé đực cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con nghé cái cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con dê cho lễ tế đàn. Hãy giết chừng ấy con cừu cho lễ tế đàn.”. Vị ấy nghĩ rằng: “Tôi làm công đức”, lại làm phi công đức; nghĩ rằng: “Tôi làm thiện”, lại làm bất thiện; nghĩ rằng: “Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành”, lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ngữ kiếm thứ hai, bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
TTC 6Lại nữa, này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con bò đực cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con nghé đực cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con nghé cái cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con dê cho lễ tế đàn”; tự mình bắt đầu khởi sự công việc: “Hãy giết các con cừu cho lễ tế đàn”. Vị ấy nghĩ rằng: “Tôi làm công đức”, lại làm phi công đức; nghĩ rằng: “Tôi làm thiện”, lại làm bất thiện; nghĩ rằng: “Tôi tìm con đường đưa đến cõi lành”, lại tìm con đường đưa đến cõi dữ. Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên thân kiếm thứ ba, bất thiện đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
Này Bà-la-môn, người nhen nhúm ngọn lửa, dựng lên trụ tế đàn, trước khi lễ tế đàn, dựng lên ba cây kiếm này, đưa đến khổ sanh, khổ dị thục.
TTC 7Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa. Thế nào là ba?
TTC 8Lửa tham, lửa sân, lửa si. Vì sao, này Bà-la-môn, lửa tham cần phải đoạn diệt, cần phải tránh xa, không nên thân cận?
TTC 9Người bị tham làm cho ái nhiễm, chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý. Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy, lửa tham này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận. Và này Bà-la-môn, vì sao lửa sân cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận?
TTC 10Người bị sân làm cho tức giận, chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý. Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy lửa sân này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận. Và này Bà-la-môn, vì sao lửa si cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận?
TTC 11Người bị si làm cho mê mờ, chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này Bà-la-môn, làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý. Người ấy sau khi làm ác hạnh với thân, làm ác hạnh với lời nói, làm ác hạnh với ý, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do vậy lửa si này cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận.
Ba lửa này, này Bà-la-môn, cần phải đoạn tận, cần phải tránh xa, không nên thân cận.
TTC 12Ba lửa này, này Bà-la-môn, được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc. Thế nào là ba?
TTC 13Lửa đáng cung kính, lửa gia chủ, lửa đáng cúng dường. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa đáng cung kính?
TTC 14Ở đây, này Bà-la-môn, những người mẹ, những người cha của người ấy, này Bà-la-môn, đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì sao? Vì từ đó lửa đáng cung kính này khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra. Do vậy, này Bà-la-môn, lửa đáng cung kính này được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa gia chủ?
TTC 15Ở đây, này Bà-la-môn, những người con, những người vợ, những người phục dịch, những người đưa tin, hoặc những người làm công cho người ấy, này Bà-la-môn, đây gọi là lửa gia chủ. Do vậy lửa gia chủ này được cung kính, được tôn trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc. Và này Bà-la-môn, thế nào là lửa đáng được cúng dường?
TTC 16Ở đây, này Bà-la-môn, những Sa-môn, Bà-la-môn nào từ bỏ kiêu mạn, phóng dật, sống kham nhẫn nhu hòa; mỗi người điều phục tự ngã; mỗi người an chỉ tự ngã; mỗi người lắng dịu tự ngã. Này Bà-la-môn, đây gọi là ngọn lửa đáng được cúng dường. Do vậy lửa đáng được cúng dường này được cung kính, được tôn trọng, đáng được cúng dường, phải đem lại chánh lạc.
Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này được cung kính, được tôn trọng, đáng được cúng dường, phải đem lại chánh lạc.
Còn lửa củi này, này Bà-la-môn, cần phải thường thường nhen đốt nó lên, cần phải thường thường chăm sóc duy trì, cần phải thường thường dập tắt, cần phải thường thường để một bên.
TTC 17Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Uggatasarìra bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama hãy nhận còn làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Và thưa Tôn giả Gotama, con sẽ thả năm trăm con bò đực và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con nghé đực và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con nghé cái và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con dê và cho chúng sống; con sẽ thả năm trăm con cừu và cho chúng sống. Hãy để chúng ăn cỏ xanh; hãy để chúng uống nước mát; hãy để gió thổi chúng mát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.47
- 5. A Great Sacrifice
Fires (2nd)
4. Kinh Lửa (Thứ Hai)
Tena kho pana samayena uggatasarīrassa brāhmaṇassa mahāyañño upakkhaṭo hoti. Pañca usabhasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya, pañca vacchatarasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya, pañca vacchatarisatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya, pañca ajasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya, pañca urabbhasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya.
Atha kho uggatasarīro brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uggatasarīro brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
Now at that time the brahmin Uggatasarīra had prepared a large sacrifice. Bulls, bullocks, heifers, goats and rams—five hundred of each—had been led to the post for the sacrifice.
Then the brahmin Uggatasarīra went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
47. Vào lúc bấy giờ, Bà la môn Uggatasarīra đã chuẩn bị một đại lễ tế đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con bò tơ, năm trăm con bò cái tơ, năm trăm con dê, và năm trăm con cừu đã được đem đến cột tế đàn để làm vật tế. Rồi Bà la môn Uggatasarīra đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn nói chuyện chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà la môn Uggatasarīra bạch với Thế Tôn rằng:
“Mayāpi kho etaṁ, brāhmaṇa, sutaṁ aggissa ādānaṁ yūpassa ussāpanaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti.
Dutiyampi kho uggatasarīro brāhmaṇo …pe… tatiyampi kho uggatasarīro brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bho gotama, aggissa ādānaṁ yūpassa ussāpanaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti.
“Mayāpi kho etaṁ, brāhmaṇa, sutaṁ aggissa ādānaṁ yūpassa ussāpanaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti.
“Tayidaṁ, bho gotama, sameti bhoto ceva gotamassa amhākañca, yadidaṁ sabbena sabbaṁ”.
“I’ve also heard this, brahmin.”
For a second time … and third time Uggatasarīra said to the Buddha, “Worthy Gotama, I have heard that kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post is very fruitful and beneficial.”
“I’ve also heard this, brahmin.”
“Then the worthy Gotama and I are in total agreement in this matter.”
“Thưa Tôn giả Gotama, con đã nghe rằng: ‘Việc nhóm lửa và dựng cột tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn.’” “Này Bà la môn, Ta cũng đã nghe rằng: ‘Việc nhóm lửa và dựng cột tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn.’” Lần thứ hai cũng vậy... Lần thứ ba, Bà la môn Uggatasarīra bạch với Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, con đã nghe rằng: ‘Việc nhóm lửa và dựng cột tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn.’” “Này Bà la môn, Ta cũng đã nghe rằng: ‘Việc nhóm lửa và dựng cột tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn.’” “Thưa Tôn giả Gotama, như vậy, điều mà Tôn giả Gotama đã nghe và điều mà chúng con đã nghe hoàn toàn tương hợp với nhau.”
Evaṁ vutte āyasmā ānando uggatasarīraṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “na kho, brāhmaṇa, tathāgatā evaṁ pucchitabbā: ‘sutaṁ metaṁ, bho gotama, aggissa ādānaṁ yūpassa ussāpanaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan’ti. Evaṁ kho, brāhmaṇa, tathāgatā pucchitabbā: ‘ahañhi, bhante, aggiṁ ādātukāmo, yūpaṁ ussāpetukāmo. Ovadatu maṁ, bhante, bhagavā. Anusāsatu maṁ, bhante, bhagavā yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’”ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to Uggatasarīra, “Brahmin, you shouldn’t ask the Buddha in this way. You should ask in this way: ‘Sir, I want to kindle the sacrificial fire and raise the sacrificial post. May the Buddha please advise and instruct me. It will be for my lasting welfare and happiness.’”
Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Bà la môn Uggatasarīra: “Này Bà la môn, không nên hỏi Như Lai như thế này: ‘Thưa Tôn giả Gotama, con đã nghe rằng: ‘Việc nhóm lửa và dựng cột tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn.’ Này Bà la môn, nên hỏi Như Lai như thế này: ‘Bạch Thế Tôn, con muốn nhóm lửa, con muốn dựng cột tế đàn. Kính mong Thế Tôn hãy chỉ dạy cho con. Kính mong Thế Tôn hãy giáo huấn cho con, điều gì sẽ mang lại cho con lợi ích và an lạc lâu dài.’”
Atha kho uggatasarīro brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “ahañhi, bho gotama, aggiṁ ādātukāmo yūpaṁ ussāpetukāmo. Ovadatu maṁ bhavaṁ gotamo. Anusāsatu maṁ bhavaṁ gotamo yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Then Uggatasarīra said to the Buddha, “Worthy Gotama, I want to kindle the sacrificial fire and raise the sacrificial post. May the worthy Gotama please advise and instruct me. It will be for my lasting welfare and happiness.”
Rồi Bà la môn Uggatasarīra bạch với Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, con muốn nhóm lửa, con muốn dựng cột tế đàn. Kính mong Tôn giả Gotama hãy chỉ dạy cho con. Kính mong Tôn giả Gotama hãy giáo huấn cho con, điều gì sẽ mang lại cho con lợi ích và an lạc lâu dài.”
“Aggiṁ, brāhmaṇa, ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā tīṇi satthāni ussāpeti akusalāni dukkhudrayāni dukkhavipākāni. Katamāni tīṇi? Kāyasatthaṁ, vacīsatthaṁ, manosatthaṁ. Aggiṁ, brāhmaṇa, ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā evaṁ cittaṁ uppādesi: ‘ettakā usabhā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatarā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatariyo haññantu yaññatthāya, ettakā ajā haññantu yaññatthāya, ettakā urabbhā haññantu yaññatthāyā’ti. So ‘puññaṁ karomī’ti apuññaṁ karoti, ‘kusalaṁ karomī’ti akusalaṁ karoti, ‘sugatiyā maggaṁ pariyesāmī’ti duggatiyā maggaṁ pariyesati. Aggiṁ, brāhmaṇa, ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā idaṁ paṭhamaṁ manosatthaṁ ussāpeti akusalaṁ dukkhudrayaṁ dukkhavipākaṁ.
“Even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post, one raises three unskillful knives which ripen and result in suffering. What three? The knives of the body, speech, and mind. Even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post one gives rise to the thought: ‘May this many bulls, bullocks, heifers, goats, and rams be slaughtered for the sacrifice!’ Thinking, ‘May I make goodness’, one makes wickedness. Thinking, ‘May I do good’, one does bad. Thinking, ‘May I seek the path to a good rebirth’, one seeks the path to a bad rebirth. Even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post one raises this first unskillful mental knife which ripens and results in suffering.
“Này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã dựng lên ba loại vũ khí bất thiện, đưa đến khổ đau, có quả là khổ đau. Ba loại nào? Vũ khí về thân, vũ khí về lời nói, vũ khí về ý. Này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã khởi lên tâm niệm rằng: ‘Mong rằng chừng ấy bò đực bị giết để tế lễ, chừng ấy bò tơ bị giết để tế lễ, chừng ấy bò cái tơ bị giết để tế lễ, chừng ấy dê bị giết để tế lễ, chừng ấy cừu bị giết để tế lễ.’ Người ấy nghĩ ‘Ta đang làm phước’ nhưng lại làm điều không phước; nghĩ ‘Ta đang làm điều thiện’ nhưng lại làm điều bất thiện; nghĩ ‘Ta đang tìm con đường đến cõi lành’ nhưng lại tìm con đường đến cõi dữ. Này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã dựng lên vũ khí thứ nhất này là vũ khí về ý, là điều bất thiện, đưa đến khổ đau, có quả là khổ đau.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, aggiṁ ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā evaṁ vācaṁ bhāsati: ‘ettakā usabhā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatarā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatariyo haññantu yaññatthāya, ettakā ajā haññantu yaññatthāya, ettakā urabbhā haññantu yaññatthāyā’ti. So ‘puññaṁ karomī’ti apuññaṁ karoti, ‘kusalaṁ karomī’ti akusalaṁ karoti, ‘sugatiyā maggaṁ pariyesāmī’ti duggatiyā maggaṁ pariyesati. Aggiṁ, brāhmaṇa, ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā idaṁ dutiyaṁ vacīsatthaṁ ussāpeti akusalaṁ dukkhudrayaṁ dukkhavipākaṁ.
Furthermore, even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post, one says such things as: ‘May this many bulls, bullocks, heifers, goats, and rams be slaughtered for the sacrifice!’ Thinking, ‘May I make goodness’, one makes wickedness. Thinking, ‘May I do good’, one does bad. Thinking, ‘May I seek the path to a good rebirth’, one seeks the path to a bad rebirth. Even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post one raises this second unskillful verbal knife which ripens and results in suffering.
“Lại nữa, này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã nói lên lời rằng: ‘Mong rằng chừng ấy bò đực bị giết để tế lễ, chừng ấy bò tơ bị giết để tế lễ, chừng ấy bò cái tơ bị giết để tế lễ, chừng ấy dê bị giết để tế lễ, chừng ấy cừu bị giết để tế lễ.’ Người ấy nghĩ ‘Ta đang làm phước’ nhưng lại làm điều không phước; nghĩ ‘Ta đang làm điều thiện’ nhưng lại làm điều bất thiện; nghĩ ‘Ta đang tìm con đường đến cõi lành’ nhưng lại tìm con đường đến cõi dữ. Này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã dựng lên vũ khí thứ hai này là vũ khí về lời nói, là điều bất thiện, đưa đến khổ đau, có quả là khổ đau.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, aggiṁ ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā sayaṁ paṭhamaṁ samārambhati usabhā hantuṁ yaññatthāya, sayaṁ paṭhamaṁ samārambhati vacchatarā hantuṁ yaññatthāya, sayaṁ paṭhamaṁ samārambhati vacchatariyo hantuṁ yaññatthāya, sayaṁ paṭhamaṁ samārambhati ajā hantuṁ yaññatthāya, sayaṁ paṭhamaṁ samārambhati urabbhā hantuṁ yaññatthāya. So ‘puññaṁ karomī’ti apuññaṁ karoti, ‘kusalaṁ karomī’ti akusalaṁ karoti, ‘sugatiyā maggaṁ pariyesāmī’ti duggatiyā maggaṁ pariyesati. Aggiṁ, brāhmaṇa, ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā idaṁ tatiyaṁ kāyasatthaṁ ussāpeti akusalaṁ dukkhudrayaṁ dukkhavipākaṁ. Aggiṁ, brāhmaṇa, ādento yūpaṁ ussāpento pubbeva yaññā imāni tīṇi satthāni ussāpeti akusalāni dukkhudrayāni dukkhavipākāni.
Furthermore, even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post one first personally undertakes preparations for the sacrificial slaughter of bulls, bullocks, heifers, goats, and rams. Thinking, ‘May I make goodness’, one makes wickedness. Thinking, ‘May I do good’, one does bad. Thinking, ‘May I seek the path to a good rebirth’, one seeks the path to a bad rebirth. Even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post, one raises this third unskillful bodily knife which ripens and results in suffering. Even before kindling the sacrificial fire and raising the sacrificial post, one raises these three unskillful knives which ripen and result in suffering.
“Lại nữa, này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ, chính mình tự tay bắt đầu giết bò đực để tế lễ, chính mình tự tay bắt đầu giết bò tơ để tế lễ, chính mình tự tay bắt đầu giết bò cái tơ để tế lễ, chính mình tự tay bắt đầu giết dê để tế lễ, chính mình tự tay bắt đầu giết cừu để tế lễ. Người ấy nghĩ ‘Ta đang làm phước’ nhưng lại làm điều không phước; nghĩ ‘Ta đang làm điều thiện’ nhưng lại làm điều bất thiện; nghĩ ‘Ta đang tìm con đường đến cõi lành’ nhưng lại tìm con đường đến cõi dữ. Này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã dựng lên vũ khí thứ ba này là vũ khí về thân, là điều bất thiện, đưa đến khổ đau, có quả là khổ đau. Này Bà la môn, người nhóm lửa, dựng cột tế đàn, trước khi tế lễ đã dựng lên ba loại vũ khí này, là những điều bất thiện, đưa đến khổ đau, có quả là khổ đau.
Tayome, brāhmaṇa, aggī pahātabbā parivajjetabbā, na sevitabbā. Katame tayo? Rāgaggi, dosaggi, mohaggi.
Brahmin, these three fires should be given up and shunned, not cultivated. What three? The fires of greed, hate, and delusion.
Này Bà-la-môn, có ba ngọn lửa này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi. Ba ngọn lửa nào? Lửa tham, lửa sân, lửa si.
Kasmā cāyaṁ, brāhmaṇa, rāgaggi pahātabbo parivajjetabbo, na sevitabbo? Ratto kho, brāhmaṇa, rāgena abhibhūto pariyādinnacitto kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Tasmāyaṁ rāgaggi pahātabbo parivajjetabbo, na sevitabbo.
And why should the fire of greed be given up and shunned, not cultivated? A greedy person does bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. That’s why the fire of greed should be given up and shunned, not cultivated.
Này Bà-la-môn, vì sao ngọn lửa tham này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi? Này Bà-la-môn, người bị tham ái, bị tham ái chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, người ấy hành ác hạnh bằng thân, hành ác hạnh bằng lời nói, hành ác hạnh bằng ý. Người ấy sau khi hành ác hạnh bằng thân, hành ác hạnh bằng lời nói, hành ác hạnh bằng ý, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đó, ngọn lửa tham này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi.
Kasmā cāyaṁ, brāhmaṇa, dosaggi pahātabbo parivajjetabbo, na sevitabbo? Duṭṭho kho, brāhmaṇa, dosena abhibhūto pariyādinnacitto kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Tasmāyaṁ dosaggi pahātabbo parivajjetabbo, na sevitabbo.
And why should the fire of hate be given up and shunned, not cultivated? A hateful person does bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. That’s why the fire of hate should be given up and shunned, not cultivated.
Này Bà-la-môn, vì sao ngọn lửa sân này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi? Này Bà-la-môn, người sân hận, bị sân hận chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, người ấy hành ác hạnh bằng thân, hành ác hạnh bằng lời nói, hành ác hạnh bằng ý. Người ấy sau khi hành ác hạnh bằng thân, hành ác hạnh bằng lời nói, hành ác hạnh bằng ý, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đó, ngọn lửa sân này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi.
Kasmā cāyaṁ, brāhmaṇa, mohaggi pahātabbo parivajjetabbo, na sevitabbo? Mūḷho kho, brāhmaṇa, mohena abhibhūto pariyādinnacitto kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Tasmāyaṁ mohaggi pahātabbo parivajjetabbo, na sevitabbo. Ime kho tayo, brāhmaṇa, aggī pahātabbā parivajjetabbā, na sevitabbā.
And why should the fire of delusion be given up and shunned, not cultivated? A deluded person does bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. That’s why the fire of delusion should be given up and shunned, not cultivated. These three fires should be given up and shunned, not cultivated.
Này Bà-la-môn, vì sao ngọn lửa si này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi? Này Bà-la-môn, người si mê, bị si mê chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, người ấy hành ác hạnh bằng thân, hành ác hạnh bằng lời nói, hành ác hạnh bằng ý. Người ấy sau khi hành ác hạnh bằng thân, hành ác hạnh bằng lời nói, hành ác hạnh bằng ý, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đó, ngọn lửa si này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi. Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này cần phải từ bỏ, cần phải tránh xa, không nên gần gũi.
Tayo kho, brāhmaṇa, aggī sakkatvā garuṁ katvā mānetvā pūjetvā sammā sukhaṁ parihātabbā. Katame tayo? Āhuneyyaggi, gahapataggi, dakkhiṇeyyaggi.
Brahmin, you should properly and happily take care of three fires, honoring, respecting, esteeming, and venerating them. What three? The fire of those worthy of offerings dedicated to the gods. The fire of a householder. And the fire of those worthy of a religious donation.
Này Bà-la-môn, có ba ngọn lửa này cần phải kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và chăm sóc một cách đúng đắn, an vui. Ba ngọn lửa nào? Lửa đáng được cúng dường, lửa gia chủ, và lửa đáng được bố thí.
Katamo ca, brāhmaṇa, āhuneyyaggi? Idha, brāhmaṇa, yassa te honti mātāti vā pitāti vā, ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, āhuneyyaggi. Taṁ kissa hetu? Atohayaṁ, brāhmaṇa, āhuto sambhūto, tasmāyaṁ āhuneyyaggi sakkatvā garuṁ katvā mānetvā pūjetvā sammā sukhaṁ parihātabbo.
And what is the fire of those worthy of offerings dedicated to the gods? Your mother and father are called the fire of those worthy of offerings dedicated to the gods. Why is that? Since it is from them that you’ve been incubated and produced. So you should properly and happily take care of this fire, honoring, respecting, esteeming, and venerating it.
Này Bà-la-môn, thế nào là lửa đáng được cúng dường? Này Bà-la-môn, ở đây, những người là mẹ hay là cha của một người, đây được gọi là lửa đáng được cúng dường, này Bà-la-môn. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì người con này được mang đến, được sanh ra từ họ. Do đó, ngọn lửa đáng được cúng dường này cần phải kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và chăm sóc một cách đúng đắn, an vui.
Katamo ca, brāhmaṇa, gahapataggi? Idha, brāhmaṇa, yassa te honti puttāti vā dārāti vā dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, gahapataggi. Tasmāyaṁ gahapataggi sakkatvā garuṁ katvā mānetvā pūjetvā sammā sukhaṁ parihātabbo.
And what is the fire of a householder? Your children, partners, bondservants, servants, and workers are called a householder’s fire. So you should properly and happily take care of this fire, honoring, respecting, esteeming, and venerating it.
Này Bà-la-môn, thế nào là lửa gia chủ? Này Bà-la-môn, ở đây, những người là con cái, là vợ, là người hầu, là người đưa tin, hay là người làm công của một người, đây được gọi là lửa gia chủ, này Bà-la-môn. Do đó, ngọn lửa gia chủ này cần phải kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và chăm sóc một cách đúng đắn, an vui.
Katamo ca, brāhmaṇa, dakkhiṇeyyaggi? Idha, brāhmaṇa, ye te samaṇabrāhmaṇā parappavādā paṭiviratā khantisoracce niviṭṭhā ekamattānaṁ damenti, ekamattānaṁ samenti, ekamattānaṁ parinibbāpenti, ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, dakkhiṇeyyaggi. Tasmāyaṁ dakkhiṇeyyaggi sakkatvā garuṁ katvā mānetvā pūjetvā sammā sukhaṁ parihātabbo. Ime kho, brāhmaṇa, tayo aggī sakkatvā garuṁ katvā mānetvā pūjetvā sammā sukhaṁ parihātabbā.
And what is the fire of those worthy of a religious donation? The ascetics and brahmins who refrain from intoxication and negligence, are settled in patience and gentleness, and who tame, calm, and extinguish themselves are called the fire of those worthy of a religious donation. So you should properly and happily take care of this fire, honoring, respecting, esteeming, and venerating it. You should properly and happily take care of these three fires, honoring, respecting, esteeming, and venerating them.
Này Bà-la-môn, thế nào là lửa đáng được bố thí? Này Bà-la-môn, ở đây, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào từ bỏ tà kiến của người khác, an trú trong nhẫn nại và nhu hòa, tự mình điều phục, tự mình làm cho an tịnh, tự mình làm cho tịch diệt, đây được gọi là lửa đáng được bố thí, này Bà-la-môn. Do đó, ngọn lửa đáng được bố thí này cần phải kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và chăm sóc một cách đúng đắn, an vui. Này Bà-la-môn, ba ngọn lửa này cần phải kính trọng, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và chăm sóc một cách đúng đắn, an vui.
Ayaṁ kho pana, brāhmaṇa, kaṭṭhaggi kālena kālaṁ ujjaletabbo, kālena kālaṁ ajjhupekkhitabbo, kālena kālaṁ nibbāpetabbo, kālena kālaṁ nikkhipitabbo”ti.
But the wood fire, brahmin, should, from time to time, be fanned, watched over with equanimity, extinguished, or put aside.”
Còn ngọn lửa bằng củi này, này Bà-la-môn, thì tùy thời mà nhóm lên, tùy thời mà lờ đi, tùy thời mà dập tắt, và tùy thời mà đặt sang một bên.
Evaṁ vutte, uggatasarīro brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatanti. Esāhaṁ, bho gotama, pañca usabhasatāni muñcāmi jīvitaṁ demi, pañca vacchatarasatāni muñcāmi jīvitaṁ demi, pañca vacchatarisatāni muñcāmi jīvitaṁ demi, pañca ajasatāni muñcāmi jīvitaṁ demi, pañca urabbhasatāni muñcāmi jīvitaṁ demi. Haritāni ceva tiṇāni khādantu, sītāni ca pānīyāni pivantu, sīto ca nesaṁ vāto upavāyatan”ti.
Catutthaṁ.
When he said this, the brahmin Uggatasarīra said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life. Worthy Gotama, I now set free these five hundred bulls, five hundred bullocks, five hundred heifers, five hundred goats, and five hundred rams. I give them life! May they eat grass and drink cool water and enjoy a cool breeze!”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Uggatasarīra bạch với Thế Tôn rằng: 'Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! ... Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một người cận sự nam, từ hôm nay cho đến trọn đời đã quy y. Thưa Tôn giả Gotama, con xin phóng thích năm trăm con bò đực, con xin ban cho chúng sự sống; con xin phóng thích năm trăm con bò tơ đực, con xin ban cho chúng sự sống; con xin phóng thích năm trăm con bò tơ cái, con xin ban cho chúng sự sống; con xin phóng thích năm trăm con dê, con xin ban cho chúng sự sống; con xin phóng thích năm trăm con cừu, con xin ban cho chúng sự sống. Mong chúng hãy ăn cỏ xanh, uống nước mát, và mong ngọn gió mát mẻ hãy thổi đến với chúng.' Kinh thứ tư.