- Aṅguttara Nikāya 7.39
- 4. Devatāvagga
Bản dịch
AN 7.39 — Vô Ngại Giải
Dutiyapaṭisambhidāsutta
TTC 1—Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”; khi nào tâm tán loạn, hướng ngoại”. Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các thọ an trú, nhận thức được các thọ đi đến tiêu diệt; nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được các tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt; nhận thức được các tầm khởi lên, nhận thức được các tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp hạ liệt hay thù thắng, đối với các pháp dự phần đen hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.
TTC 3Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Sàriputta với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”;… (như trên, số 2,… chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.39
- 4. Deities
Textual Analysis (2nd)
8. Kinh Phân Tích Tuệ Thứ Hai
“Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato sāriputto catasso paṭisambhidā sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Katamehi sattahi?
Idha, bhikkhave, sāriputto ‘idaṁ me cetaso līnattan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
ajjhattaṁ saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘ajjhattaṁ me saṅkhittaṁ cittan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
bahiddhā vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘bahiddhā me vikkhittaṁ cittan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
tassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti; viditā saññā …pe… vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
sappāyāsappāyesu kho panassa dhammesu hīnappaṇītesu kaṇhasukkasappaṭibhāgesu nimittaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Imehi kho, bhikkhave, sattahi dhammehi samannāgato sāriputto catasso paṭisambhidā sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, having seven qualities, Sāriputta realized the four kinds of textual analysis and lives having achieved them with his own insight. What seven?
It’s when Sāriputta truly understood: ‘This is mental sluggishness’.
He truly understood internally constricted mind as ‘internally constricted mind’.
He truly understood externally scattered mind as ‘externally scattered mind’.
He knew feelings, perceptions, and thoughts as they arose, as they remained, and as they went away.
The patterns of qualities—suitable or unsuitable, inferior or superior, or those with a portion of dark or bright—were properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom.
Having these seven qualities, Sāriputta realized the four kinds of textual analysis and lives having achieved them with his own insight.”
39. “Này các tỳ khưu, ngài Sāriputta hội đủ bảy pháp, tự mình với thắng trí chứng ngộ, thành tựu và an trú trong bốn Phân Tích Tuệ. Bảy pháp nào? Này các tỳ khưu, ở đây ngài Sāriputta tuệ tri như thật: ‘Đây là sự co rút của tâm ta’; hoặc tâm co rút bên trong, ngài tuệ tri như thật: ‘Tâm ta co rút bên trong’; hoặc tâm tán loạn bên ngoài, ngài tuệ tri như thật: ‘Tâm ta tán loạn bên ngoài’; đối với ngài, các cảm thọ được biết rõ khi sanh khởi, được biết rõ khi hiện hữu, được biết rõ khi đi đến hoại diệt; các tưởng... các tầm được biết rõ khi sanh khởi, được biết rõ khi hiện hữu, được biết rõ khi đi đến hoại diệt; và ở trong các pháp thích hợp và không thích hợp, hạ liệt và cao thượng, có phần đen và trắng, tướng được ngài khéo nắm bắt, khéo tác ý, khéo ghi nhớ, khéo thông suốt bằng trí tuệ. Này các tỳ khưu, ngài Sāriputta hội đủ bảy pháp này, tự mình với thắng trí chứng ngộ, thành tựu và an trú trong bốn Phân Tích Tuệ.” Kinh thứ tám.