- Aṅguttara Nikāya 6.54
- 5. Dhammikavagga
Bản dịch
AN 6.54 — Dhammika
Dhammikasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijihakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Dhammika trú tại chỗ sanh trưởng của mình và có tất cả bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng ấy. Tại đấy, Tôn giả Dhammika đối với các khách Tỷ-kheo, mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận với những lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng, suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo Tăng các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ?” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi chỗ khác.” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi.”
TTC 2Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một trú xứ khác. Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói, liền bỏ đi, không an trú, và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ?” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi đến chỗ khác”. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi”.
TTC 3Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một xứ khác . Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với lời nói, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ? “. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”. Rồi các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, nói với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”.
TTC 4Rồi Tôn giả Dhammika suy nghĩ: “Ta đã bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng. Nay ta sẽ đi tại chỗ nào? Ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Dhammika cầm y bát, ra đi, hướng đến Ràjagaha (Vương Xá), dần dần đi đến núi Gijihakùta (Linh Thứu) tại Ràjagaha; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Dhammika đang ngồi xuống một bên:
—Này Bà-la-môn Dhammika, Ông đi từ đâu đến?
—Bạch Thế Tôn, con bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng!
—Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn Dhammika! Sự việc này, đối với Ông có hề hấn gì! Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta!
TTC 5Trong quá khứ, này Bà-la-môn Dhammika, các nhà buôn đường biển đem theo một con chim để tìm bờ, khi họ đi tàu ra biển. Khi chiếc tàu ra xa, không thấy bờ, họ thả con chim đi tìm bờ. Con chim bay về hướng Ðông, bay về hướng Tây, bay về hướng Bắc, bay về hướng Nam, bay về hướng Trên, bay về hướng Gió. Nếu nó thấy bờ xung quanh, nó liền bay luôn. Nếu nó không thấy bờ xung quanh, nó bay trở lui về tàu. Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta.
TTC 6Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya có một cây bàng chúa tên là Suppatittha, cây này có năm cành, có bóng mát dịu, rất là khả ý. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha tỏa rộng ra đến mười hai do tuần, các rễ mọc lan rộng đến năm do tuần. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha có những trái cây to lớn, lớn như những cái nồi con; những trái cây ngọt lịm như vậy, trong sáng và ngọt như mật ong. Này Bà-la-môn Dhammika, vua với các cung nữ hưởng thụ một cành cây của cây bàng chúa Suppatittha; quân đội hưởng thụ một cành; các Sa-môn, Bà-la-môn hưởng thụ một cành; các loài thú, loài chim hưởng thụ một cành. Này Bà-la-môn Dhammika, không có ai phòng hộ các trái của cây bàng chúa Suppatittha, và không có ai hại nhau vì trái cây. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, một người sau khi đã ăn hết cho đến thỏa thích những trái của cây bàng chúa Suppatittha, liền bẻ gãy một cành rồi bỏ đi. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, con người lại ác cho đến như vậy! Sau khi ăn cho đến thỏa thích các trái của cây bàng chúa Suppatittha, lại bẻ một cành rồi bỏ đi! Vậy cây bàng chúa Suppatittha hãy đừng sanh trái nữa trong tương lai! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa trong tương lai. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, thưa với Thiên chủ Sakka: “Tôn giả có biết không? Cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông, khiến cho mưa to gió lớn khởi lên, làm cây bàng chúa Suppatittha ngã xuống và bật gốc rễ. Này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên. Này Bà-la-môn Dhammika, rồi Thiên chủ Suppatittha đi đến vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha, sau khi đến, nói với vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha như sau:
“—Vì sao, này vị Thiên kia, Ông lại khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên?
“—Thưa Tôn giả, có cơn mưa to gió lớn khởi lên, và làm cho chỗ trú xứ của con bị ngã xuống và bật gốc rễ lên.
“—Này vị Thiên kia, có phải Ông đang gìn giữ cây pháp, nhưng cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm trú xứ của Ông bị ngã xuống và bật gốc rễ lên?
“—Làm thế nào, thưa Tôn giả, một cây… được gìn giữ như một cây pháp?
“—Ở đây, này vị Thiên kia, những người cần rễ đến lấy rễ cây đi, những người cần vỏ đến lấy vỏ cây đi. Những người cần lá đến lấy lá đi. Những người cần bông đến lấy bông đi. Những người cần trái đến lấy trái đi. Như vậy, không có gì để khiến cho một vị Thiên phải không hoan hỷ, không vui vẻ. Như vậy, là một cây được gìn giữ như một cây pháp.
“—Thưa Tôn giả, con không gìn giữ một cây pháp, khi cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm chỗ trú xứ của con ngã xuống và bật gốc rễ lên!
“—Này vị Thiên kia, nếu Ông gìn giữ cây pháp, thời trú xứ của Ông sẽ trở lại như xưa.
Thưa Tôn giã, con sẽ gìn giữ cây pháp, mong rằng trú xứ cuả con trở lại như xưa.
Rồi Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông khiến cho mưa to gió lớn đến dựng đứng lại cây bàng chúa và chữa lành những rễ cây.
Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, Ông có gìn giữ Sa-môn pháp, khi các người cư sĩ tại chỗ sanh trưởng mời Ông đi khỏi bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng không?
—Như thế nào, thưa Tôn giả, là một Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp?
—Như thế này, này Bà-la-môn Dhammika, ở đây, một Sa-môn không có mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không có tức giận người đã tức giận mình, không có quở trách người đã quở trách mình. Như vậy, này Bà-la-môn Dhammika, là vị Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp.
—Thưa Tôn giả, con không gìn giữ Sa-môn pháp khi những người cư sĩ ở tại chỗ sanh trưởng mời con đi khỏi hoàn toàn bảy trú xứ trong chỗ được sanh trưởng.
TTC 7—Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có một ngoại đạo sư tên là Sunettto (Diệu Nhãn) đã viễn ly các dục. Này Bà-la-môn Dhammika, ngoại đạo sư Sunetto có hàng trăm đệ tử. Ngoại đạo sư Sunetto thuyết pháp về cộng trú tại Phạm thiên giới cho các người đệ tử. Những ai nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cộng trú tại Phạm thiên giới, này Bà-la-môn Dhammika, tâm không được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những ai, này Bà-la-môn Dhammika, nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cọng trú tại Phạm thiên giới, tâm được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có ngoại đạo sư tên là Mugapakkha… có ngoại đạo sư tên là Aranemi… có ngoại đạo sư tên là Kuddàlaka… có ngoại đạo sư tên là Hatthipàla… có ngoại đạo sư tên là Jotipàla đã viễn ly các dục… được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy có sanh khởi ra nhiều vô phước không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 8—Thật vậy, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, có sanh khởi ra nhiều vô phước. Còn ai, đối với vị đầy đủ chánh kiến, với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy sanh khởi ra nhiều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố rằng, này Bà-la-môn Dhammika, sự tổn hại đối với các ngoại đạo sư như vậy không bằng sự tổn hại nếu đối xử với các vị đồng Phạm hạnh. Do vậy, này các Bà-la-môn Dhammika, cần phải học tập như sau:
TTC 9Chúng tôi sẽ không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh”. Này Bà-la-môn Dhammika, các Ông cần phải học tập như vậy.
Các vị Bà-la-môn,
Như Sư Sunetto,
Sư Mugapakkha,
Và Aranemi,
Sư Kuddalaka,
Và Hatthipàla,
Sư Jotipàla,
Và Sư Govinda,
Là quốc sư thứ bảy.
Sáu Sư bạn vị này,
Là những vị danh tiếng,
Quá khứ không hại ai,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Và các hàng đệ tử,
Con số lên hàng trăm,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Ẩn sĩ ngoại đạo ấy,
Ly tham, tâm Thiền định,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng nhiếc họ,
Người như vậy tạo ra,
Rất nhiều sự vô phước.
Ðối một đệ tử Phật,
Tỷ-kheo có chánh kiến,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng vị ấy,
Người như vậy tạo ra,
Nhiều vô phước hơn nữa
Chớ phật lòng bậc thiện,
Hãy từ bỏ kiến xứ,
Tối thượng trong Thánh chúng,
Vị ấy được gọi vậy.
Ai chưa ly các dục,
Năm căn còn mềm dịu,
Tín, niệm và tinh tấn,
Với chỉ và với quán,
Nếu phật ý vị ấy,
Trước hết tự hại mình,
Sau khi tự hại mình,
Lại hại đến người khác,
Ai tự bảo vệ mình,
Bề ngoài cũng bảo vệ,
Do vậy, bảo vệ mình,
Bậc trí không tổn hại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.54
- 5. About Dhammika
About Dhammika
12. Kinh Dhammika
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena āyasmā dhammiko jātibhūmiyaṁ āvāsiko hoti sabbaso jātibhūmiyaṁ sattasu āvāsesu. Tatra sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya. Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.
Now at that time Venerable Dhammika was a resident in all seven monasteries of his native land. There he abused visiting mendicants; he insulted, harmed, attacked, and harassed them. The visiting mendicants who were treated in this way did not stay. They left, abandoning the monastery.
54. Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Bấy giờ, Tôn giả Dhammika là người trụ trì tại quê nhà, trong tất cả bảy trú xứ ở quê nhà. Tại đó, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, lăng mạ, làm hại, châm chọc, và quấy rầy bằng lời nói đối với các vị tỳ khưu khách. Và các vị tỳ khưu khách ấy, bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, lăng mạ, làm hại, châm chọc, và quấy rầy bằng lời nói, đã bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena. Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ. Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya. Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ. Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāmā”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yena āyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
Then the local lay followers thought to themselves, “We have supplied the mendicant Saṅgha with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. But the visiting mendicants don’t stay. They leave, abandoning the monastery. What is the cause, what is the reason for this?”
Then the local lay followers thought to themselves, “This Venerable Dhammika abuses visiting mendicants; he insults, harms, attacks, and harasses them. The visiting mendicants who were treated in this way do not stay. They leave, abandoning the monastery. Why don’t we banish Venerable Dhammika?”
Then the local lay followers went up to Venerable Dhammika and said to him,
Rồi các nam cư sĩ ở quê nhà khởi lên suy nghĩ này: “Chúng ta đã hộ độ Tăng chúng với y, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Thế nhưng các vị tỳ khưu khách lại bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì mà các vị tỳ khưu khách bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ?” Rồi các nam cư sĩ ở quê nhà lại khởi lên suy nghĩ này: “Chính Tôn giả Dhammika đã mắng nhiếc, lăng mạ, làm hại, châm chọc, và quấy rầy bằng lời nói đối với các vị tỳ khưu khách. Và các vị tỳ khưu khách ấy, bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, lăng mạ, làm hại, châm chọc, và quấy rầy bằng lời nói, đã bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ. Hay là chúng ta hãy trục xuất Tôn giả Dhammika!”
Atha kho āyasmā dhammiko tamhā āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatrapi sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya. Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Then Venerable Dhammika left and went to another monastery. There he abused visiting mendicants; he insulted, harmed, attacked, and harassed them. The visiting mendicants who were treated in this way did not stay. They left, abandoning the monastery.
Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi đi đến chỗ trưởng lão Dhammika; sau khi đến, họ đã nói với trưởng lão Dhammika điều này: – ‘Bạch ngài, mong trưởng lão Dhammika hãy rời khỏi trú xứ này; ngài ở đây đã đủ rồi.’ Bấy giờ, trưởng lão Dhammika đã đi từ trú xứ ấy đến một trú xứ khác. Ở nơi ấy, trưởng lão Dhammika cũng đã mắng nhiếc, hăm dọa, quấy nhiễu, khiêu khích, áp chế các vị tỳ khưu khách bằng lời nói. Và các vị tỳ khưu khách ấy, bị trưởng lão Dhammika mắng nhiếc, hăm dọa, quấy nhiễu, khiêu khích, áp chế bằng lời nói, đã bỏ đi, không ở lại, đã rời bỏ trú xứ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena. Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ. Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti? Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya. Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ. Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāmā”ti.
Then the local lay followers thought to themselves: …
Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Quả thật, chúng ta đã phục vụ chư Tăng với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Thế nhưng các vị tỳ khưu khách lại bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì mà các vị tỳ khưu khách bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ?’ Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi lại khởi lên suy nghĩ này: – ‘Chính trưởng lão Dhammika này đã mắng nhiếc, hăm dọa, quấy nhiễu, khiêu khích, áp chế các vị tỳ khưu khách bằng lời nói. Và các vị tỳ khưu khách ấy, bị trưởng lão Dhammika mắng nhiếc, hăm dọa, quấy nhiễu, khiêu khích, áp chế bằng lời nói, đã bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ. Hay là chúng ta hãy trục xuất trưởng lão Dhammika!’
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yenāyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ: “pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko imamhāpi āvāsā; alaṁ te idha vāsenā”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatrapi sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya. Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
They said to Venerable Dhammika, “Sir, please leave this monastery. You’ve stayed here long enough.”
Then Venerable Dhammika left and went to another monastery. There he abused visiting mendicants; he insulted, harmed, attacked, and harassed them. The visiting mendicants who were treated in this way did not stay. They left, abandoning the monastery.
Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi đi đến chỗ trưởng lão Dhammika; sau khi đến, họ đã nói với trưởng lão Dhammika điều này: – ‘Bạch ngài, mong trưởng lão Dhammika hãy rời khỏi trú xứ này nữa; ngài ở đây đã đủ rồi.’ Bấy giờ, trưởng lão Dhammika cũng đã đi từ trú xứ ấy đến một trú xứ khác. Ở nơi ấy, trưởng lão Dhammika cũng đã mắng nhiếc, hăm dọa, quấy nhiễu, khiêu khích, áp chế các vị tỳ khưu khách bằng lời nói. Và các vị tỳ khưu khách ấy, bị trưởng lão Dhammika mắng nhiếc, hăm dọa, quấy nhiễu, khiêu khích, áp chế bằng lời nói, đã bỏ đi, không ở lại, đã rời bỏ trú xứ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena. Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ. Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti? Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati …pe…. Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāma sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yenāyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ: “pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Atha kho āyasmato dhammikassa etadahosi: “pabbājito khomhi jātibhūmakehi upāsakehi sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehi. Kahaṁ nu kho dāni gacchāmī”ti? Atha kho āyasmato dhammikassa etadahosi: “yannūnāhaṁ yena bhagavā tenupasaṅkameyyan”ti.
Then the local lay followers thought to themselves, “Why don’t we banish Venerable Dhammika from all seven monasteries in our native land?”
Then the local lay followers went up to Venerable Dhammika and said to him, “Sir, please leave all seven monasteries in our native land.”
Then Venerable Dhammika thought, “I’ve been banished by the local lay followers from all seven monasteries in my native land. Where am I to go now?” He thought, “Why don’t I go to see the Buddha?”
Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Quả thật, chúng ta đã phục vụ chư Tăng với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Thế nhưng các vị tỳ khưu khách lại bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì mà các vị tỳ khưu khách bỏ đi, không ở lại, rời bỏ trú xứ?’ Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi lại khởi lên suy nghĩ này: – ‘Chính trưởng lão Dhammika này đã mắng nhiếc các vị tỳ khưu khách ... Hay là chúng ta hãy trục xuất trưởng lão Dhammika hoàn toàn khỏi Jātibhūmi, khỏi cả bảy trú xứ!’ Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Jātibhūmi đi đến chỗ trưởng lão Dhammika; sau khi đến, họ đã nói với trưởng lão Dhammika điều này: – ‘Bạch ngài, mong trưởng lão Dhammika hãy rời đi hoàn toàn khỏi Jātibhūmi, khỏi cả bảy trú xứ.’ Bấy giờ, trưởng lão Dhammika khởi lên suy nghĩ này: – ‘Quả thật, ta đã bị các nam cư sĩ ở Jātibhūmi trục xuất hoàn toàn khỏi Jātibhūmi, khỏi cả bảy trú xứ. Bây giờ, ta biết đi đâu đây?’ Bấy giờ, trưởng lão Dhammika lại khởi lên suy nghĩ này: – ‘Hay là ta hãy đi đến chỗ của Thế Tôn.’
Atha kho āyasmā dhammiko pattacīvaramādāya yena rājagahaṁ tena pakkāmi. Anupubbena yena rājagahaṁ gijjhakūṭo pabbato yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ dhammikaṁ bhagavā etadavoca: “handa kuto nu tvaṁ, brāhmaṇa dhammika, āgacchasī”ti?
“Pabbājito ahaṁ, bhante, jātibhūmakehi upāsakehi sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
“Alaṁ, brāhmaṇa dhammika, kiṁ te iminā, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti, so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Then Venerable Dhammika took his bowl and robe and set out for Rājagaha. Eventually he came to Rājagaha and the Vulture’s Peak. He went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him, “So, Brahmin Dhammika, where have you come from?”
“Sir, I’ve been banished by the local lay followers from all seven monasteries in my native land.”
“Enough, Brahmin Dhammika, what’s that to you? Now that you’ve been banished from all of those places, you have come to me.
Bấy giờ, trưởng lão Dhammika lấy y bát rồi lên đường đi đến thành Rājagaha. Tuần tự đi đến thành Rājagaha, núi Gijjhakūṭa, đến chỗ của Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã nói với trưởng lão Dhammika đang ngồi một bên điều này: – ‘Này Bà-la-môn Dhammika, thầy từ đâu đến vậy?’ – ‘Bạch Thế Tôn, con đã bị các nam cư sĩ ở Jātibhūmi trục xuất hoàn toàn khỏi Jātibhūmi, khỏi cả bảy trú xứ.’ – ‘Thôi được, này Bà-la-môn Dhammika. Thầy ở lại nơi ấy thì có ích gì? Việc họ trục xuất thầy từ nơi này đến nơi khác là phải lẽ rồi. Thầy bị trục xuất từ nơi này đến nơi khác như thế, đã tìm đến chính nơi ta.’
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṁ sakuṇaṁ gahetvā nāvāya samuddaṁ ajjhogāhanti. Te atīradakkhiṇiyā nāvāya tīradassiṁ sakuṇaṁ muñcanti. So gacchateva puratthimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati anudisaṁ. Sace so samantā tīraṁ passati, tathāgatakova hoti. Sace pana so samantā tīraṁ na passati tameva nāvaṁ paccāgacchati. Evamevaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Once upon a time, some sea-merchants set sail for the ocean deeps, taking with them a land-spotting bird. When their ship was out of sight of land, they released the bird. It flew right away to the east, the west, the north, the south, upwards, and in-between. If it saw land on any side, it went there and stayed. But if it saw no land on any side it returned to the ship. In the same way, now that you’ve been banished from all of those places, you have come to me.
‘Chuyện đã từng xảy ra trong quá khứ, này Bà-la-môn Dhammika. Các thương nhân đi biển bắt một con chim có thể nhìn thấy bờ rồi dùng thuyền đi vào biển cả. Khi con thuyền không còn nhìn thấy bờ, họ thả con chim có thể nhìn thấy bờ ra. Nó bay về hướng đông, bay về hướng tây, bay về hướng bắc, bay về hướng nam, bay lên trên, bay về các hướng phụ. Nếu nó nhìn thấy bờ ở xung quanh, nó sẽ bay thẳng đến đó. Nhưng nếu nó không nhìn thấy bờ ở xung quanh, nó sẽ quay trở lại chính con thuyền ấy. Cũng giống như thế, này Bà-la-môn Dhammika, việc họ trục xuất thầy từ nơi này đến nơi khác, và thầy bị trục xuất từ nơi này đến nơi khác như thế, đã tìm đến chính nơi ta.’
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, rañño korabyassa suppatiṭṭho nāma nigrodharājā ahosi pañcasākho sītacchāyo manoramo. Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa dvādasayojanāni abhiniveso ahosi, pañca yojanāni mūlasantānakānaṁ. Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa tāva mahantāni phalāni ahesuṁ; seyyathāpi nāma āḷhakathālikā. Evamassa sādūni phalāni ahesuṁ; seyyathāpi nāma khuddaṁ madhuṁ anelakaṁ. Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa ekaṁ khandhaṁ rājā paribhuñjati saddhiṁ itthāgārena, ekaṁ khandhaṁ balakāyo paribhuñjati, ekaṁ khandhaṁ negamajānapadā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ samaṇabrāhmaṇā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ migā paribhuñjanti. Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa na koci phalāni rakkhati, na ca sudaṁ aññamaññassa phalāni hiṁsanti.
Once upon a time, King Koravya had a royal banyan tree with five trunks called ‘Well Planted’. It was shady and lovely. Its canopy spread over twelve leagues, while the network of roots spread for five leagues. Its fruits were as large as a rice pot. And they were as sweet as pure wild honey. The king and harem made use of one trunk, the troops another, the people of town and country another, ascetics and brahmins another, and beasts and birds another. No one guarded the fruit, yet no one damaged another’s fruits.
Này Bà la môn Dhammika, thuở quá khứ, có vua cây đa tên là Suppatiṭṭha của đức vua Korabya, có năm nhánh, bóng mát, khả ái. Này Bà la môn Dhammika, vua cây đa Suppatiṭṭha ấy có tàn lá trải rộng mười hai do tuần, và các rễ con lan ra năm do tuần. Này Bà la môn Dhammika, vua cây đa Suppatiṭṭha ấy có những trái cây lớn dường ấy; ví như cái nồi nấu cơm bằng một đấu (āḷhaka). Trái cây của nó ngọt ngào dường ấy; ví như mật ong nguyên chất. Này Bà la môn Dhammika, một nhánh của vua cây đa Suppatiṭṭha được nhà vua cùng với hoàng gia dùng, một nhánh được quân đội dùng, một nhánh được dân chúng thành thị và nông thôn dùng, một nhánh được các Sa-môn, Bà-la-môn dùng, một nhánh được các loài thú dùng. Này Bà la môn Dhammika, không có ai canh giữ trái cây của vua cây đa Suppatiṭṭha, và họ cũng không làm hại trái cây của nhau.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, aññataro puriso suppatiṭṭhassa nigrodharājassa yāvadatthaṁ phalāni bhakkhitvā sākhaṁ bhañjitvā pakkāmi. Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthāya devatāya etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Yāva pāpo manusso, yatra hi nāma suppatiṭṭhassa nigrodharājassa yāvadatthaṁ phalāni bhakkhitvā sākhaṁ bhañjitvā pakkamissati, yannūna suppatiṭṭho nigrodharājā āyatiṁ phalaṁ na dadeyyā’ti. Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭho nigrodharājā āyatiṁ phalaṁ na adāsi.
Then a certain person ate as much as he liked of the fruit, then broke off a branch and left. Then the deity haunting the royal banyan tree thought, ‘Oh lord, how incredible, how amazing! How wicked this person is, to eat as much as they like, then break off a branch and leave! Why don’t I make sure that the royal banyan tree gives no fruit in future?’ Then the royal banyan tree gave no more fruit.
Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, có một người kia ăn trái của vua cây đa Suppatiṭṭha thỏa thích rồi bẻ một nhánh cây và bỏ đi. Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, vị thiên trú tại vua cây đa Suppatiṭṭha khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Con người này thật là xấu xa, sau khi ăn trái của vua cây đa Suppatiṭṭha thỏa thích rồi lại bẻ một nhánh cây và bỏ đi. Sẽ tốt biết bao nếu vua cây đa Suppatiṭṭha trong tương lai không ra trái nữa’. Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, vua cây đa Suppatiṭṭha trong tương lai đã không cho trái nữa.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, rājā korabyo yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca: ‘yagghe, mārisa, jāneyyāsi suppatiṭṭho nigrodharājā phalaṁ na detī’ti. Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā bhusā vātavuṭṭhi āgantvā suppatiṭṭhaṁ nigrodharājaṁ pavattesi ummūlamakāsi. Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthā devatā dukkhī dummanā assumukhī rudamānā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Then King Koravya went up to Sakka, lord of gods, and said to him, ‘Please good fellow, you should know that the royal banyan tree called Well Planted gives no fruit.’ Then Sakka used his psychic powers to will that a violent storm come. And it felled and uprooted the royal banyan tree. Then the deity haunting the tree stood to one side, miserable and sad, weeping, with a tearful face.
Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, đức vua Korabya đi đến nơi Sakka, vua của chư thiên; sau khi đến, vua nói với Sakka, vua của chư thiên rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài biết cho, vua cây đa Suppatiṭṭha không ra trái nữa’. Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, đã vận dụng thần thông theo cách mà một trận mưa bão lớn kéo đến làm cho vua cây đa Suppatiṭṭha ngã nhào và bật gốc. Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, vị thiên trú tại vua cây đa Suppatiṭṭha, đau khổ, buồn rầu, mặt đẫm lệ, khóc lóc, đứng sang một bên.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo yena suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthā devatā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthaṁ devataṁ etadavoca: ‘kiṁ nu tvaṁ, devate, dukkhī dummanā assumukhī rudamānā ekamantaṁ ṭhitā’ti?
‘Tathā hi pana me, mārisa, bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti.
‘Api nu tvaṁ, devate, rukkhadhamme ṭhitāya bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti?
‘Kathaṁ pana, mārisa, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti?
‘Idha, devate, rukkhassa mūlaṁ mūlatthikā haranti, tacaṁ tacatthikā haranti, pattaṁ pattatthikā haranti, pupphaṁ pupphatthikā haranti, phalaṁ phalatthikā haranti. Na ca tena devatāya anattamanatā vā anabhinandi vā karaṇīyā. Evaṁ kho, devate, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti.
‘Aṭṭhitāyeva kho me, mārisa, rukkhadhamme bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti.
‘Sace kho tvaṁ, devate, rukkhadhamme tiṭṭheyyāsi, siyā te bhavanaṁ yathāpure’ti.
‘Ṭhassāmahaṁ, mārisa, rukkhadhamme, hotu me bhavanaṁ yathāpure’ti.
Then Sakka went up to that deity, and said, ‘Why, god, are you standing to one side, miserable and sad, weeping, with a tearful face?’
‘Because, my good fellow, a violent storm came and felled and uprooted my home.’
‘Well, did you stand by your tree’s duty when the storm came?’
‘But my good fellow, how does a tree stand by its duty?’
‘It’s when those who need the tree’s roots, bark, leaves, flowers, or fruit take what they need. Yet the deity is not displeased or upset because of this. This is how a tree stands by its duty.’
‘I was not standing by a tree’s duty when the storm came and felled and uprooted my home.’
‘God, if you were to stand by a tree’s duty, your home may be as it was before.’
‘I will stand by a tree’s duty! May my home be as it was before!’
Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, đi đến nơi vị thiên trú tại vua cây đa Suppatiṭṭha; sau khi đến, ngài nói với vị thiên trú tại vua cây đa Suppatiṭṭha rằng: ‘Này vị thiên, tại sao ngươi lại đau khổ, buồn rầu, mặt đẫm lệ, khóc lóc, đứng sang một bên?’ ‘Thưa ngài, vì một trận mưa bão lớn đã kéo đến làm cho trú xứ của tôi ngã nhào và bật gốc.’ ‘Này vị thiên, có phải khi ngươi đang an trú trong pháp của loài cây (rukkhadhamma) mà trận mưa bão lớn đã kéo đến làm cho trú xứ của ngươi ngã nhào và bật gốc không?’ ‘Thưa ngài, thế nào là một cái cây an trú trong pháp của loài cây?’ ‘Này vị thiên, ở đây, rễ của cây được những người cần rễ lấy đi, vỏ cây được những người cần vỏ lấy đi, lá cây được những người cần lá lấy đi, hoa được những người cần hoa lấy đi, trái được những người cần trái lấy đi. Vị thiên không nên vì thế mà bất mãn hay không hoan hỷ. Này vị thiên, như vậy là một cái cây an trú trong pháp của loài cây.’ ‘Thưa ngài, chính vì tôi đã không an trú trong pháp của loài cây mà trận mưa bão lớn đã kéo đến làm cho trú xứ của tôi ngã nhào và bật gốc.’ ‘Này vị thiên, nếu ngươi an trú trong pháp của loài cây, trú xứ của ngươi sẽ trở lại như xưa.’ ‘Thưa ngài, tôi sẽ an trú trong pháp của loài cây, mong rằng trú xứ của tôi sẽ trở lại như xưa.’
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā bhusā vātavuṭṭhi āgantvā suppatiṭṭhaṁ nigrodharājaṁ ussāpesi, sacchavīni mūlāni ahesuṁ.
Evamevaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, api nu taṁ samaṇadhamme ṭhitaṁ jātibhūmakā upāsakā pabbājesuṁ sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti?
“Kathaṁ pana, bhante, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa dhammika, samaṇo akkosantaṁ na paccakkosati, rosantaṁ na paṭirosati, bhaṇḍantaṁ na paṭibhaṇḍati. Evaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti.
“Aṭṭhitaṁyeva maṁ, bhante, samaṇadhamme jātibhūmakā upāsakā pabbājesuṁ sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Then Sakka used his psychic power to will that a violent storm come. And it raised up that mighty banyan tree and the bark of the roots was healed.
In the same way, Brahmin Dhammika, were you standing by an ascetic’s duty when the local lay followers banished you from all seven of the monasteries in your native land?”
“But sir, how do I stand by an ascetic’s duty?”
“When someone abuses, annoys, or argues with an ascetic, the ascetic doesn’t abuse, annoy, or argue back at them. That’s how an ascetic stands by an ascetic’s duty.”
“I was not standing by an ascetic’s duty when the local lay followers banished me from all seven of the monasteries in my native land.”
Này Bà la môn Dhammika, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, đã vận dụng thần thông theo cách mà một trận mưa bão lớn kéo đến dựng vua cây đa Suppatiṭṭha đứng thẳng dậy, và các rễ cây đã liền da trở lại. Cũng vậy, này Bà la môn Dhammika, có phải khi ngươi đang an trú trong pháp của Sa-môn (samaṇadhamma) mà các vị cư sĩ đồng hương đã trục xuất ngươi ra khỏi tất cả bảy trú xứ ở quê nhà không?’ ‘Bạch Thế Tôn, thế nào là một vị Sa-môn an trú trong pháp của Sa-môn?’ ‘Này Bà la môn Dhammika, ở đây, vị Sa-môn không mắng lại người mắng mình, không nổi giận lại với người nổi giận với mình, không tranh cãi lại với người tranh cãi với mình. Này Bà la môn Dhammika, như vậy là một vị Sa-môn an trú trong pháp của Sa-môn.’ ‘Bạch Thế Tôn, chính vì con đã không an trú trong pháp của Sa-môn mà các vị cư sĩ đồng hương đã trục xuất con ra khỏi tất cả bảy trú xứ ở quê nhà.’
“Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo. Sunettassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ. Sunetto satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi. Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni na pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu. Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
“Once upon a time, there was a teacher named Sunetta. He was a religious founder and was free of desire for sensual pleasures. He had many hundreds of disciples. He taught them a Dhamma for rebirth in the company of Divinity. Those lacking confidence in Sunetta were—when their body broke up, after death—reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Those full of confidence in Sunetta were—when their body broke up, after death—reborn in a good place, a heavenly realm.
“Này Bà-la-môn Dhammika, thuở quá khứ, đã có một vị đạo sư tên là Sunetta, người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục. Này Bà-la-môn Dhammika, vị đạo sư Sunetta có nhiều trăm đệ tử. Vị đạo sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử để được cộng trú với Phạm thiên. Này Bà-la-môn Dhammika, những ai trong khi vị đạo sư Sunetta thuyết pháp để được cộng trú với Phạm thiên, tâm không hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những ai trong khi vị đạo sư Sunetta thuyết pháp để được cộng trú với Phạm thiên, tâm hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.”
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, mūgapakkho nāma satthā ahosi …pe… Aranemi nāma satthā ahosi … … Kuddālako nāma satthā ahosi … … Hatthipālo nāma satthā ahosi … … Jotipālo nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo. Jotipālassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ. Jotipālo satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi. Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, jotipālassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni na pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu. Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, jotipālassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
Once upon a time, there was a teacher named Mūgapakkha … Aranemi … Kuddālaka … Hatthipāla … Jotipāla. He was a religious founder and was free of desire for sensual pleasures. He had many hundreds of disciples. He taught them a Dhamma for rebirth in the company of Divinity. Those lacking confidence in Jotipāla were—when their body broke up, after death—reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Those full of confidence in Jotipāla were—when their body broke up, after death—reborn in a good place, a heavenly realm.
“Này Bà-la-môn Dhammika, thuở quá khứ, đã có một vị đạo sư tên là Mūgapakkha... ... đã có một vị đạo sư tên là Aranemi... đã có một vị đạo sư tên là Kuddālaka... đã có một vị đạo sư tên là Hatthipāla... đã có một vị đạo sư tên là Jotipāla, người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục. Này Bà-la-môn Dhammika, vị đạo sư Jotipāla có nhiều trăm đệ tử. Vị đạo sư Jotipāla thuyết pháp cho các đệ tử để được cộng trú với Phạm thiên. Này Bà-la-môn Dhammika, những ai trong khi vị đạo sư Jotipāla thuyết pháp để được cộng trú với Phạm thiên, tâm không hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những ai trong khi vị đạo sư Jotipāla thuyết pháp để được cộng trú với Phạm thiên, tâm hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.”
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa dhammika, yo ime cha satthāre titthakare kāmesu vītarāge, anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yo kho, brāhmaṇa dhammika, ime cha satthāre titthakare kāmesu vītarāge anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyya. Yo ekaṁ diṭṭhisampannaṁ puggalaṁ paduṭṭhacitto akkosati paribhāsati, ayaṁ tato bahutaraṁ apuññaṁ pasavati. Taṁ kissa hetu? Nāhaṁ, brāhmaṇa dhammika, ito bahiddhā evarūpiṁ khantiṁ vadāmi, yathāmaṁ sabrahmacārīsu. Tasmātiha, brāhmaṇa dhammika, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na no samasabrahmacārīsu cittāni paduṭṭhāni bhavissantī’ti. Evañhi te, brāhmaṇa dhammika, sikkhitabbanti.
What do you think, Brahmin Dhammika? If someone with malicious intent were to abuse and insult these six teachers with their hundreds of followers, would they not brim with much wickedness?”
“Yes, sir.”
“They would indeed. But someone who abuses and insults a single individual accomplished in view with malicious intent brims even more with wickedness. Why is that? Brahmin Dhammika, I say that any injury done by those outside of the Buddhist community does not compare with what is done to one’s own spiritual companions. So you should train like this: ‘We will have no malicious intent for those who we want to have as our spiritual companions.’ That is how you should train.
“Này Bà-la-môn Dhammika, ông nghĩ thế nào về điều này: người nào với tâm ác ý mắng nhiếc, phỉ báng sáu vị đạo sư này, những người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục, có nhiều trăm tùy tùng, cùng với chúng đệ tử, người ấy có tạo ra nhiều ác nghiệp không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Này Bà-la-môn Dhammika, người nào với tâm ác ý mắng nhiếc, phỉ báng sáu vị đạo sư này, những người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục, có nhiều trăm tùy tùng, cùng với chúng đệ tử, người ấy tạo ra nhiều ác nghiệp. Người nào với tâm ác ý mắng nhiếc, phỉ báng một người đã đầy đủ chánh kiến, người này tạo ra ác nghiệp nhiều hơn người kia. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn Dhammika, Ta không nói rằng có sự kham nhẫn như vậy ở ngoài giáo pháp này, giống như ở giữa các vị đồng phạm hạnh. Do đó, này Bà-la-môn Dhammika, ở đây nên học tập như vầy: ‘Tâm của chúng ta sẽ không khởi lên ác ý đối với các vị đồng phạm hạnh’. Này Bà-la-môn Dhammika, ông nên học tập như vậy.”
Sunetto mūgapakkho ca, aranemi ca brāhmaṇo; Kuddālako ahu satthā, hatthipālo ca māṇavo.
Sunetta and Mūgapakkha, and Aranemi the brahmin, Hatthipāla the student, and Kuddālaka were Teachers.
“Sunetta và Mūgapakkha, và Bà-la-môn Aranemi; Kuddālaka đã là đạo sư, và thanh niên Hatthipāla.”
Jotipālo ca govindo, ahu sattapurohito; Ahiṁsakā atītaṁse, cha satthāro yasassino.
And Jotipāla Govinda was priest for seven kings. These six famous teachers, harmless ones of the past,
“Jotipāla và Govinda, đã là quốc sư của bảy vị vua; Sáu vị đạo sư lừng danh ấy, trong quá khứ, là những người không làm hại.”
Nirāmagandhā karuṇedhimuttā, Kāmasaṁyojanātigā; Kāmarāgaṁ virājetvā, Brahmalokūpagā ahuṁ.
were free of putrefaction, compassionate, gone beyond the fetter of sensuality. Detached from sensual desire, they were reborn in the realm of divinity.
“Không còn mùi hôi tanh (của phiền não), hướng tâm đến lòng bi, vượt qua các kiết sử về dục; các vị ấy đã ly dục ái, sanh về cõi Phạm thiên.”
Ahesuṁ sāvakā tesaṁ, Anekāni satānipi; Nirāmagandhā karuṇedhimuttā, Kāmasaṁyojanātigā; Kāmarāgaṁ virājetvā, Brahmalokūpagā ahuṁ.
Many hundreds of their disciples were also free of putrefaction-stench, compassionate, gone beyond the fetter of sensuality. Detached from sensual desire, they were reborn in the realm of divinity.
“Các đệ tử của họ, cũng có nhiều trăm vị; Không còn mùi hôi tanh (của phiền não), hướng tâm đến lòng bi, vượt qua các kiết sử về dục; các vị ấy đã ly dục ái, sanh về cõi Phạm thiên.”
Yete isī bāhirake, vītarāge samāhite; Paduṭṭhamanasaṅkappo, yo naro paribhāsati; Bahuñca so pasavati, apuññaṁ tādiso naro.
One who insults with malicious intent these non-Buddhist seers, free of desire, immersed in samādhi; such a man brims with much wickedness.
“Người nào với tâm niệm ác ý, phỉ báng những vị ẩn sĩ ngoại đạo kia, những người đã ly tham, có tâm định tĩnh; người như vậy tạo ra nhiều ác nghiệp.”
Yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ, Bhikkhuṁ buddhassa sāvakaṁ; Paduṭṭhamanasaṅkappo, Yo naro paribhāsati; Ayaṁ tato bahutaraṁ, Apuññaṁ pasave naro.
But one who insults with malicious intent a single individual accomplished in view, a mendicant disciple of the Buddha; that man brims even more with wickedness.
“Còn người nào với tâm niệm ác ý, phỉ báng một vị Tỳ-khưu, đệ tử của Đức Phật, đã đầy đủ chánh kiến; người này tạo ra ác nghiệp nhiều hơn người kia.”
Na sādhurūpaṁ āsīde, diṭṭhiṭṭhānappahāyinaṁ; Sattamo puggalo eso, ariyasaṅghassa vuccati.
You shouldn’t attack a holy person, who has given up the grounds for views. This individual is called the seventh of the noble Saṅgha.
“Không nên xúc phạm người có thiện tánh, người đã từ bỏ các lập trường của tà kiến. Vị này được gọi là người thứ bảy của Thánh chúng.”
Avītarāgo kāmesu, yassa pañcindriyā mudū; Saddhā sati ca vīriyaṁ, samatho ca vipassanā.
They’re not free of desire for sensual pleasures, and their faculties are still immature: faith, mindfulness, and energy, serenity and discernment.
“(Vị ấy) chưa ly tham trong các dục, là người có năm căn mềm yếu: tín, niệm, tấn, định, và tuệ.”
Tādisaṁ bhikkhumāsajja, pubbeva upahaññati; Attānaṁ upahantvāna, pacchā aññaṁ vihiṁsati.
If you attack such a mendicant, you first hurt yourself. Having hurt yourself, you harm the other.
“Khi xúc phạm một vị Tỳ-khưu như vậy, trước tiên (người ấy) tự làm hại mình. Sau khi đã làm hại mình, sau đó mới làm hại người khác.”
Yo ca rakkhati attānaṁ, rakkhito tassa bāhiro; Tasmā rakkheyya attānaṁ, akkhato paṇḍito sadā”ti.
Dvādasamaṁ.
But if you protect yourself, the other is also protected. So you should protect yourself. An astute person is always uninjured.”
“Người nào bảo vệ mình, thì người bên ngoài cũng được bảo vệ. Do đó, người trí nên luôn luôn bảo vệ mình không bị tổn thương.” Kinh thứ mười hai.
Dhammikavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Dhammika, thứ năm.
Nāgamigasālā iṇaṁ, Cundaṁ dve sandiṭṭhikā duve; Khemaindriya ānanda, Khattiyā appamādena dhammikoti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.
Nāga, Migasālā, Iṇa, Cunda, hai kinh Sandiṭṭhika; Khema, Indriya, Ānanda, Khattiya, Appamāda, và Dhammika.