- Aṅguttara Nikāya 6.44
- 5. Dhammikavagga
Bản dịch
AN 6.44 — Migasàlà
Migasālāsutta
TTC 1Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ tu sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với Tôn giả Ananda:
TTC 2—Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai? “ Puràna, thân phụ của con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu sanh với thân ở Tusità ( Ðâu-suất)”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?
—Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
TTC 3Tôn giả Ananda sau khi nhận đồ ăn khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với con: “Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”. Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? “Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà: “Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.
—Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là sáu?
TTC 4—Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 5Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, có chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi về thối đọa. Ở đây, này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy, những pháp ấy của vị kia là như vậy; làm sao trong những hạng người này, có người hạ liệt, có người là thắng diệu? Và do sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài. Ở đây, này Ananda, hạng người này, khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananada, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta.
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 7Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, có chứng được thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa…
TTC 8Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 9Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, Này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy; những pháp ấy của vị kia là như vậy. Làm sao trong những hạng người là hạ liệt, cò người là thắng diệu?” Và sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài.
Ở đây, này Ananda, hạng người này khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người này hay là người như Ta.
Và này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.44
- 5. About Dhammika
With Migasālā
2. Kinh Migasālā
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho migasālā upāsikā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho migasālā upāsikā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the laywoman Migasālā, where he sat down on the seat spread out.
Then the laywoman Migasālā went up to Ānanda, bowed, sat down to one side, and said to him,
44. Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, mang bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasālā; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, nữ cư sĩ Migasālā đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, bà đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, nữ cư sĩ Migasālā bạch với Tôn giả Ānanda rằng:
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā. So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Petteyyopi me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho. Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan”ti?
“Evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan”ti.
My father Purāṇa was chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. When he passed away the Buddha declared that, since he was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
But my uncle Isidatta was not chaste; he lived content with his wife. When he passed away the Buddha declared that, since he too was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
How on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life?”
“You’re right, sister, but that’s how the Buddha declared it.”
“Bạch Tôn giả Ānanda, làm thế nào để hiểu được giáo pháp này do Thế Tôn thuyết giảng, khi mà một người sống phạm hạnh và một người không sống phạm hạnh, cả hai lại có cùng một cảnh giới như nhau trong đời sau? Bạch Tôn giả, cha của con là Purāṇa đã sống đời phạm hạnh, xa lìa, từ bỏ hành vi dâm dục thấp kém của thế gian. Sau khi mệnh chung, ông được Thế Tôn tuyên bố là một vị Nhất lai, đã sanh lên cõi trời Đâu-suất. Còn người chú của con, Isidatta, không sống đời phạm hạnh, chỉ biết đủ với vợ mình. Sau khi mệnh chung, ông cũng được Thế Tôn tuyên bố là một vị Nhất lai, đã sanh lên cõi trời Đâu-suất. Bạch Tôn giả Ānanda, làm thế nào để hiểu được giáo pháp này do Thế Tôn thuyết giảng, khi mà một người sống phạm hạnh và một người không sống phạm hạnh, cả hai lại có cùng một cảnh giới như nhau trong đời sau?” “Này chị, quả thật Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.”
Atha kho āyasmā ānando migasālāya upāsikāya nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho āyasmā ānando pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Then Ānanda, after receiving almsfood at Migasālā’s home, rose from his seat and left. Then after the meal, on his return from almsround, Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi nhận vật thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasālā, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tôn giả Ānanda, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đã bạch với Thế Tôn điều này:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ. Atha kho, bhante, migasālā upāsikā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, migasālā upāsikā maṁ etadavoca: ‘kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ. Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā. So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti. Petteyyopi me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho. Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti. Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan’ti? Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, migasālaṁ upāsikaṁ etadavocaṁ: ‘evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan’”ti.
“Bạch Thế Tôn, hôm nay vào buổi sáng, con đã đắp y, mang bát và đi đến nhà của nữ cư sĩ Migasālā; sau khi đến, con đã ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasālā đã đi đến chỗ con; sau khi đến, đã đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, sau khi ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasālā đã nói với con điều này: ‘Bạch ngài Ānanda, làm thế nào, làm thế nào để có thể biết được giáo pháp này đã được Thế Tôn thuyết giảng, mà ở đó người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh, cả hai lại có cùng một cảnh giới như nhau ở đời sau? Bạch ngài, cha của con là Purāṇa đã sống phạm hạnh, đã sống xa lánh, đã từ bỏ việc dâm dục là pháp của dân làng. Ông ấy sau khi mệnh chung đã được Thế Tôn tuyên bố là đã chứng quả Nhất lai và đã sanh vào cõi trời Tusita. Bạch ngài, cả ông chú của con là Isidatta cũng không sống phạm hạnh, chỉ biết đủ với vợ mình. Ông ấy sau khi mệnh chung cũng được Thế Tôn tuyên bố là đã chứng quả Nhất lai và đã sanh vào cõi trời Tusita. Bạch ngài Ānanda, làm thế nào, làm thế nào để có thể biết được giáo pháp này đã được Thế Tôn thuyết giảng, mà ở đó người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh, cả hai lại có cùng một cảnh giới như nhau ở đời sau?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, con đã nói với nữ cư sĩ Migasālā điều này: ‘Này chị, việc này đã được Thế Tôn tuyên bố đúng là như vậy.’”
“Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariyañāṇe? Chayime, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cha?
“Ānanda, who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons? These six individuals are found in the world. What six?
“Này Ānanda, nữ cư sĩ Migasālā là gì chứ, một người ngu dốt, không thông thạo, là phụ nữ, có nhận thức của phụ nữ, và (cô ta) là gì so với trí tuệ biết được sự hơn kém về căn cơ của các hạng người nam? Này Ānanda, có sáu hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời.”
Idhānanda, ekacco puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena. Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Take a certain individual who is gentle and pleasant to be with. And spiritual companions enjoy living together with them. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
“Sáu hạng nào? Này Ānanda, ở đây có hạng người hiền hòa, dễ chung sống, các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ khi sống chung. Vị ấy không thực hành việc nghe (pháp), không thực hành việc đa văn, không thông đạt bằng tri kiến, cũng không đạt được sự giải thoát tạm thời. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng; chỉ đi đến suy thoái, không đi đến thù thắng.”
Idha panānanda, ekacco puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti no hānāya, visesagāmīyeva hoti no hānagāmī.
Take another individual who is gentle and pleasant to be with. And spiritual companions enjoy living together with them. And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người hiền hòa, dễ chung sống, các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ khi sống chung. Vị ấy có thực hành việc nghe (pháp), có thực hành việc đa văn, có thông đạt bằng tri kiến, cũng đạt được sự giải thoát tạm thời. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ thù thắng, không đi đến chỗ suy thoái; chỉ đi đến thù thắng, không đi đến suy thoái.”
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti: ‘imassapi teva dhammā aparassapi teva dhammā, kasmā tesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti. Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Judgmental people compare them, saying: ‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’ This will be for their lasting harm and suffering.
“Này Ānanda, ở đó những người hay đo lường sẽ đo lường rằng: ‘Vị này cũng có những pháp ấy, vị kia cũng có những pháp ấy. Tại sao trong hai vị ấy, một vị lại thấp kém, một vị lại cao thượng?’ Này Ānanda, chính điều đó sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ.”
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca. Taṁ kissa hetu? Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati, tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha; mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha. Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto. Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ, yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa lobhadhammā uppajjanti.
In this case, the individual who is gentle … and has listened, learned, penetrated theoretically, and found temporary freedom is better and finer than the other individual. Why is that? Because the stream of the teaching carries them along. But who knows the difference between them except a Realized One?
So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals. Don’t pass judgment on individuals. Those who pass judgment on individuals harm themselves. I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has greedy thoughts.
“Này Ānanda, trong hai hạng người đó, hạng người nào hiền hòa, dễ chung sống, các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ khi sống chung, có thực hành việc nghe (pháp), có thực hành việc đa văn, có thông đạt bằng tri kiến, cũng đạt được sự giải thoát tạm thời. Này Ānanda, hạng người này so với hạng người trước đó là tốt đẹp hơn và cao thượng hơn. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì dòng pháp đưa dắt hạng người này đi. Ngoài Như Lai ra, ai có thể biết được sự khác biệt đó! Vì vậy, này Ānanda, các ngươi chớ có trở thành người đo lường các hạng người; chớ có đo lường các hạng người. Này Ānanda, người đo lường các hạng người là tự làm hại mình. Này Ānanda, hoặc là Ta có thể đo lường các hạng người, hoặc là người nào giống như Ta.”
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người bị sân hận và kiêu mạn xâm chiếm, và thỉnh thoảng các pháp tham ái khởi lên nơi vị ấy. Vị ấy không thực hành việc nghe (pháp), không thực hành việc đa văn, không thông đạt bằng tri kiến, cũng không đạt được sự giải thoát tạm thời. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng; chỉ đi đến suy thoái, không đi đến thù thắng.”
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa lobhadhammā uppajjanti. Tassa savanenapi kataṁ hoti …pe… no hānagāmī.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has greedy thoughts. … Because the stream of the teaching carries them along. … When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người bị sân hận và kiêu mạn xâm chiếm, và thỉnh thoảng các pháp tham ái khởi lên nơi vị ấy. Vị ấy có thực hành việc nghe (pháp)... (v.v.)... không đi đến suy thoái.”
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
yo vā panassa mādiso.
Judgmental people compare them …
I, or someone like me, may pass judgment on people.
“Này Ānanda, ở đó những người hay đo lường sẽ đo lường... (v.v.)... hoặc là người nào giống như Ta.”
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti. Tassa savanenapi akataṁ hoti …pe… sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has the impulse to speak inappropriately. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người bị sân hận và kiêu mạn xâm chiếm, và thỉnh thoảng các khẩu hành khởi lên nơi vị ấy. Vị ấy không thực hành việc nghe (pháp)... (v.v.)... cũng không đạt được sự giải thoát tạm thời. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng; chỉ đi đến suy thoái, không đi đến thù thắng.”
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti no hānāya, visesagāmīyeva hoti no hānagāmī.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has the impulse to speak inappropriately. But they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người bị sân hận và kiêu mạn xâm chiếm, và thỉnh thoảng các khẩu hành khởi lên nơi vị ấy. Vị ấy có thực hành việc nghe (pháp), có thực hành việc đa văn, có thông đạt bằng tri kiến, cũng đạt được sự giải thoát tạm thời. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ thù thắng, không đi đến chỗ suy thoái; chỉ đi đến thù thắng, không đi đến suy thoái.”
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti: ‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā tesaṁ eko hīno, eko paṇīto’ti? Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Judgmental people compare them, saying: ‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’ This will be for their lasting harm and suffering.
“Này Ānanda, ở đây, những người hay so sánh đã so sánh rằng: ‘Vị này cũng có những pháp ấy, vị kia cũng có những pháp ấy. Tại sao trong hai người họ, một người lại thấp kém, một người lại cao thượng?’ Này Ānanda, việc so sánh ấy của họ sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.”
Tatrānanda, yassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca. Taṁ kissa hetu? Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati. Tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha; mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha. Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto. Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ, yo vā panassa mādiso.
In this case, the individual who is angry and conceited, but has listened, learned, penetrated theoretically, and found temporary freedom is better and finer than the other individual. Why is that? Because the stream of the teaching carries them along. But who knows the difference between them except a Realized One?
So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals. Don’t pass judgment on individuals. Those who pass judgment on individuals harm themselves. I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
“Này Ānanda, ở đây, có người bị sân và mạn chi phối, thỉnh thoảng các khẩu hành của người ấy khởi lên, người ấy đã hoàn thành việc nghe, đã hoàn thành việc học rộng, đã thông suốt bằng tri kiến, và đạt được sự giải thoát tạm thời. Này Ānanda, người này ưu việt hơn và cao thượng hơn người trước kia. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì dòng pháp đưa người này đi. Ngoài Như Lai ra, ai có thể biết được sự khác biệt đó! Vì vậy, này Ānanda, chớ có so sánh các hạng người; chớ có đặt ra tiêu chuẩn đối với các hạng người. Này Ānanda, người đặt ra tiêu chuẩn đối với các hạng người là tự làm hại mình. Này Ānanda, chỉ có Như Lai, hoặc người giống như Như Lai, mới có thể đặt ra tiêu chuẩn đối với các hạng người.”
Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariyañāṇe. Ime kho, ānanda, cha puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons? These six individuals are found in the world.
“Này Ānanda, nữ cư sĩ Migasālā là ai mà lại ngu si, không thông minh, là phụ nữ, có tâm tưởng của phụ nữ, còn các bậc có trí tuệ biết rõ căn cơ cao thấp của các hạng người là ai! Này Ānanda, có sáu hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời.”
Yathārūpena, ānanda, sīlena purāṇo samannāgato ahosi, tathārūpena sīlena isidatto samannāgato abhavissa. Nayidha purāṇo isidattassa gatimpi aññassa. Yathārūpāya ca, ānanda, paññāya isidatto samannāgato ahosi, tathārūpāya paññāya purāṇo samannāgato abhavissa. Nayidha isidatto purāṇassa gatimpi aññassa. Iti kho, ānanda, ime puggalā ubho ekaṅgahīnā”ti.
Dutiyaṁ.
If Isidatta had achieved Purāṇa’s level of ethical conduct, Purāṇa could not have even known Isidatta’s destination. And if Purāṇa had achieved Isidatta’s level of wisdom, Isidatta could not have even known Purāṇa’s destination. So both individuals were lacking in one respect.”
“Này Ānanda, nếu Isidatta đã được trang bị giới hạnh giống như giới hạnh mà Purāṇa đã được trang bị, thì ở đây Purāṇa cũng không thể biết được cảnh giới của Isidatta. Và này Ānanda, nếu Purāṇa đã được trang bị trí tuệ giống như trí tuệ mà Isidatta đã được trang bị, thì ở đây Isidatta cũng không thể biết được cảnh giới của Purāṇa. Này Ānanda, như vậy, cả hai người này đều thiếu một chi phần.” Hết phẩm thứ hai.