- Aṅguttara Nikāya 6.36
- 4. Devatāvagga
Bản dịch
AN 6.36 — Gốc Rễ Của Ðấu Tranh
Vivādamūlasutta
TTC 1—Có sáu gốc rễ đấu tranh này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là sáu?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo phẫn nộ và hiềm hận.
Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo phẫn nộ, hiềm hận. Này các Tỷ-kheo, ai phẫn nộ, hiềm hận, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, sống không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến nhiều người không hạnh phúc, khiến nhiều người không an lạc, khiến nhiều người không lợi ích, khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc và đau khổ. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy thấy ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, này các Tỷ-kheo, các Thầy phải cố gắng đoạn trừ ác tranh căn ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy không thấy ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thấy, này các Tỷ kheo, các Thầy hãy tác động đừng cho ác tranh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là đoạn tận ác tranh căn ấy. Như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, lại nữa, vị Tỷ-kheo giả dối và não hại… tật đố và xan tham… lừa đảo và man trá… ác dục và tà kiến… chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ. Này các Hiền giả, Tỷ-kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc đạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các Học pháp. Này các Hiền giả, Tỷ-kheo không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư… Pháp… Tăng… không thành tựu đầy đủ các Học pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến nhiều người không hạnh phúc, khiến nhiều người không an lạc, khiến nhiều người không ích lợi, khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc và đau khổ. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy thấy được ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, các Thầy phải cố gắng đoạn trừ ác tranh căn ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy không thấy ác tranh căn ấy giữa các Thầy hay ngoài các Thầy, các Thầy hãy gìn giữ đừng cho ác tranh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn tận ác tránh căn ấy. Như vậy là ngăn chặn nguy hại ác tranh căn ấy trong tương lai.
Này các Tỷ-kheo, đây là sáu tranh căn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.36
- 4. Deities
Roots of Dispute
6. Kinh Về Cội Rễ Của Tranh Chấp
“Chayimāni, bhikkhave, vivādamūlāni. Katamāni cha? Idha, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti upanāhī. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti upanāhī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme agāravo viharati appatisso, saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī so saṅghe vivādaṁ janeti, yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. Tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
“Mendicants, there are these six roots of dispute. What six? Firstly, a mendicant is irritable and acrimonious. Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training. They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing. If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future. That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future.
36. “Này các Tỳ khưu, có sáu cội rễ của tranh chấp này. Thế nào là sáu? Này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Tỳ khưu hay phẫn nộ, hay ôm hận. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào hay phẫn nộ, hay ôm hận, vị ấy sống không kính trọng, không vâng lời Bậc Đạo Sư; sống không kính trọng, không vâng lời Chánh Pháp; sống không kính trọng, không vâng lời Tăng chúng; và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào sống không kính trọng, không vâng lời Bậc Đạo Sư; sống không kính trọng, không vâng lời Chánh Pháp; sống không kính trọng, không vâng lời Tăng chúng; và không phải là người thực hành đầy đủ học giới, vị ấy tạo ra sự tranh chấp trong Tăng chúng. Sự tranh chấp ấy không đem lại lợi ích cho nhiều người, không đem lại hạnh phúc cho nhiều người, mà đem lại sự bất lợi, bất hạnh, đau khổ cho chư thiên và loài người. Này các Tỳ khưu, nếu các thầy thấy một cội rễ tranh chấp như vậy ở nội tâm hay ngoại cảnh, thì này các Tỳ khưu, các thầy hãy nỗ lực để đoạn trừ cội rễ tranh chấp xấu ác ấy. Này các Tỳ khưu, nếu các thầy không thấy một cội rễ tranh chấp như vậy ở nội tâm hay ngoại cảnh, thì này các Tỳ khưu, các thầy hãy thực hành để cội rễ tranh chấp xấu ác ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ cội rễ tranh chấp xấu ác này. Như vậy là cội rễ tranh chấp xấu ác này không phát sinh trong tương lai.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe… issukī hoti maccharī … saṭho hoti māyāvī … pāpiccho hoti micchādiṭṭhi … sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme … saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṁ janeti, yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. Tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. Tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti. Imāni kho, bhikkhave, cha vivādamūlānī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Furthermore, a mendicant is offensive and contemptuous … They’re jealous and stingy … They’re devious and deceitful … They have corrupt wishes and wrong view … They’re attached to their own views, holding them tight, and refusing to let go. Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training. They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing. If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future. That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future. These are the six roots of dispute.”
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu hay phủ nhận công ơn, hay cạnh tranh... ganh tỵ, keo kiệt... xảo trá, gian dối... có ác dục, có tà kiến... là người chấp thủ vào tà kiến của mình, nắm giữ kiên cố, khó từ bỏ. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào là người chấp thủ vào tà kiến của mình, nắm giữ kiên cố, khó từ bỏ, vị ấy sống không tôn kính, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư, sống không tôn kính, không vâng lời đối với Pháp, sống không tôn kính, không vâng lời đối với chúng Tăng, và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư, ... đối với Pháp, ... sống không tôn kính, không vâng lời đối với chúng Tăng, không thực hành đầy đủ học giới, vị ấy tạo ra sự tranh cãi trong chúng Tăng. Sự tranh cãi ấy đưa đến bất hạnh cho đa số, bất an cho đa số, đưa đến sự bất lợi, bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và nhân loại. Này các Tỳ khưu, nếu các con nhận thấy một nguồn gốc tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này các Tỳ khưu, ở đó các con nên cố gắng để đoạn trừ chính nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy. Này các Tỳ khưu, nếu các con không nhận thấy một nguồn gốc tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này các Tỳ khưu, ở đó các con nên thực hành để nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy không tiếp tục phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy. Như vậy là sự không tiếp tục phát sinh trong tương lai của nguồn gốc tranh cãi xấu ác ấy. Này các Tỳ khưu, đây chính là sáu nguồn gốc tranh cãi.” (Kinh) thứ sáu.