- Aṅguttara Nikāya 6.11
- 2. Sāraṇīyavagga
Bản dịch
AN 6.11 — Cần Phải Nhớ (1)
Paṭhamasāraṇīyasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp cần phải ghi nhớ này. Thế nào là sáu?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú thân làm từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú lời nói từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Giới Luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu Giới Luật trong các Giới Luật ấy đối với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Này các Tỷ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.11
- 2. Warm-hearted
Warm-hearted (1st)
1. Kinh Sāraṇīya Thứ Nhất
“Chayime, bhikkhave, dhammā sāraṇīyā. Katame cha?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
“Mendicants, there are these six warm-hearted qualities. What six?
Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private. This is a warm-hearted quality.
11. “Này các Tỳ khưu, có sáu pháp đáng ghi nhớ này. Sáu pháp nào? Ở đây, này các Tỳ khưu, thân nghiệp từ ái của vị Tỳ khưu được biểu hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness, both in public and in private. This too is a warm-hearted quality.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, khẩu nghiệp từ ái của vị Tỳ khưu được biểu hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ý nghiệp từ ái của vị Tỳ khưu được biểu hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions. This too is a warm-hearted quality.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với những lợi lộc đúng pháp, có được đúng pháp, cho đến chỉ là vật thực trong bát, vị ấy là người thọ dụng không phân chia, thọ dụng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpehi sīlehi sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This too is a warm-hearted quality.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với những giới nào không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị đốm, không bị vằn, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định; với những giới như vậy, vị ấy sống đồng đẳng về giới với các vị đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo.
Ime kho, bhikkhave, cha dhammā sāraṇīyā”ti.
Paṭhamaṁ.
Furthermore, a mendicant lives according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering. This too is a warm-hearted quality.
These are the six warm-hearted qualities.”
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đối với tri kiến nào là Thánh, có khả năng hướng thượng, đưa người thực hành đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh; với tri kiến như vậy, vị ấy sống đồng đẳng về tri kiến với các vị đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ. Này các Tỳ khưu, đây chính là sáu pháp đáng ghi nhớ.” Kinh thứ nhất.