- Aṅguttara Nikāya 5.72
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.72 — Tâm Giải Thoát Quả (2)
Dutiyacetovimuttiphalasutta
TTC 1—Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến tâm giải thoát quả, tâm giải thoát lợi ích, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát lợi ích. Thế nào là năm?
TTC 2Tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham.
Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến tâm giải thoát quả, tâm giải thoát lợi ích, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát lợi ích.
TTC 3Khi nào vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có tâm giải thoát và tuệ giải thoát, này các Tỷ-kheo vị ấy được gọi là Tỷ-kheo đã cất đi các vật chướng ngại, đã lấp các thông hào, đã nhổ lên cột trụ, đã mở tung các ổ khóa, là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
Và thế nào là Tỷ-kheo đã cất đi các vật chướng ngại?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ vô minh, đã cắt đứt tận gốc rễ, đã làm cho như thân cây tàla, đã làm cho không thể hiện hữu, không thể tái sanh trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã cất đi các vật chướng ngại.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã lấp các thông hào?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử, đã cắt đứt tận gốc rễ, đã làm cho như thân cây tàla, đã làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo dã lấp các thông hào.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ tham ái, đã cắt đứt tận gốc rễ, đã làm cho như thân cây tàla, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã mở tung các ổ khóa?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã cắt đứt tận gốc rễ, đã làm cho như thân cây tàla, đã làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã mở tung các ổ khóa.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi Tỷ-kheo là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ ngã mạn, đã cắt đứt tận gốc rễ, đã làm cho như thân cây tàla, đã làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.72
- 8. Warriors
Freedom of Heart is the Fruit (2nd)
2. Kinh Quả Của Tâm Giải Thoát, kinh thứ hai
“Pañcime, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā cetovimuttiphalā ca honti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca honti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca. Katame pañca?
Aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā—
ime kho, bhikkhave, pañca dhammā bhāvitā bahulīkatā cetovimuttiphalā ca honti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca honti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu cetovimutto ca hoti paññāvimutto ca—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ukkhittapaligho itipi, saṅkiṇṇaparikho itipi, abbūḷhesiko itipi, niraggaḷo itipi, ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto itipi’”.
“Mendicants, these five things, when developed and cultivated, have freedom of heart and freedom by wisdom as their fruit and benefit. What five?
The perception of impermanence, the perception of suffering in impermanence, the perception of not-self in suffering, the perception of giving up, and the perception of fading away.
These five things, when developed and cultivated, have freedom of heart and freedom by wisdom as their fruit and benefit.
When a mendicant has freedom of heart and freedom by wisdom, such a mendicant is one who is called ‘one who has lifted the cross-bar’, ‘one who has filled in the moat’, ‘one who has pulled up the pillar’, ‘one who is unimpeded’, and also ‘a noble one with banner lowered and burden dropped, detached’. …”
72. Này các Tỳ khưu, năm pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả là tâm giải thoát và có lợi ích là tâm giải thoát, có quả là tuệ giải thoát và có lợi ích là tuệ giải thoát. Thế nào là năm? Tưởng vô thường, tưởng khổ trong cái vô thường, tưởng vô ngã trong cái khổ, tưởng về sự đoạn tận, tưởng về sự ly tham. Này các Tỳ khưu, chính năm pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả là tâm giải thoát và có lợi ích là tâm giải thoát, có quả là tuệ giải thoát và có lợi ích là tuệ giải thoát. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu có tâm giải thoát và có tuệ giải thoát, vị Tỳ khưu này, này các Tỳ khưu, được gọi là ‘người đã nhấc then cài lên,’ ‘người đã lấp hào,’ ‘người đã nhổ cột trụ,’ ‘người không có thanh chắn,’ ‘bậc Thánh đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã thoát ly.’
“Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã nhấc then cài lên? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận vô minh, đã cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không có tính chất sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã nhấc then cài lên.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno ponobhaviko jātisaṁsāro pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikho hoti.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã lấp hào? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận sự tái sanh trong các cõi, sự luân hồi sinh tử, đã cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không có tính chất sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã lấp hào.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu đã nhổ cột trụ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận ái dục, đã cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không có tính chất sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu đã nhổ cột trụ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni honti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không còn then cài? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu không còn then cài.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hotī”ti.
Dutiyaṁ.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu bậc Thánh, đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát khỏi các ràng buộc? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn tận ngã mạn, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu bậc Thánh, đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát khỏi các ràng buộc. (Kinh) thứ hai.