- Aṅguttara Nikāya 5.58
- 6. Nīvaraṇavagga
Bản dịch
AN 5.58 — Thanh Niên Licchavi
Licchavikumārakasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài đi sâu vào Ðại lâm, và ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Lúc bấy giờ, một số đông thanh niên Licchavi cầm các cung được chuẩn bị sẵn sàng với đàn chó bao vây xung quanh, đang đi qua đi lại ở Ðại Lâm, thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây. Thấy vậy họ liền bỏ các cung được chuẩn bị sẵn sàng xuống, kéo đàn chó về một phía và đi đến Thế Tôn. Sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu Thế Tôn. Lúc bấy giờ, Mahànàma người Licchavi bộ hành đi qua đi lại trong rừng Ðại Lâm, thấy các thanh niên Licchavi đang yên lặng, yên lặng chắp tay đứng hầu Thế Tôn. Thấy vậy, ông đi đến gần Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahànàma người Licchavi nói lên lời cảm hứng ngữ:
—Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji!
—Này Mahànàma, sao Ông lại nói như vậy: “Họ sẽ trở thành người Vajji! Họ sẽ trở thành người Vajji”?
—Bạch Thế Tôn, những thanh niên Licchavi này là hung bạo, thô ác, ngạo mạn. Các đồ vật được các gia đình gửi đi như mía, trái táo, bánh ngọt, kẹo đường, họ cướp giật và ăn; họ đánh sau hông các nữ nhân, thiếu nữ các gia đình; nhưng nay họ đứng yên lặng, yên lặng chắp tay hầu hạ Thế Tôn.
—Ðối với thiện nam tử nào, này Mahànàma, năm pháp này được tìm thấy, dầu là vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất trại của người cha, hay là vị tướng trong quân đội hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này Mahànàma, thiện nam tử, với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cách tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: “Mong rằng (con ta) được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!” Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.
TTC 3Lại nữa, này Mahànàma, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn… đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ người làm công. Vợ con, người phục vụ, người làm công và vợ con người phục vụ, người làm công và được người ấy cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương tưởng người ấy: “Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!” Và này Mahànàma, một thiện nam tử được vợ con, người phục vụ, người làm công thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là giảm thiểu.
TTC 4Lại nữa, này Mahànama, vị thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các người làm ruộng các chức sắc ở biên cương. Những người làm ruộng các chức sắc ở biên cương được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường… chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.
TTC 5Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn… đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường chư thiên nhận lãnh các vật cúng tế. Chư Thiên nhận lãnh các vật cúng tế được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường… chờ đợi là sự tăng trưởng, không có giảm thiểu.
TTC 6Lại nữa, này Mahànama, thiện nam tử với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên trong lòng thương tưởng người ấy: “Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài.” Và này Mahànama, với một thiện nam tử được các Sa-môn, Bà-la-môn thương tưởng, được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.
Ðối với vị thiện nam tử nào, này Mahànama, năm pháp này được tìm thấy, dầu là Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay là người thôn quê sống trên đất của người cha, hay là vị tướng trong quân đội, hay là vị thôn trưởng ở làng, hay là vị tổ trưởng các tổ hợp, hay là những vị có quyền thế trong gia tộc, thời được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu.
Mẹ cha lo phục vụ,
Vợ con thường thương tưởng,
Vì hạnh phúc nội nhân,
Cùng với kẻ tùng sự,
Vì hạnh phúc cả hai,
Lời hòa nhã, giữ giới,
Vì hạnh phúc bà con,
Vì hương linh đi trước,
Vì mạng sống hiện tại,
Vì Sa-môn, Phạm chí,
Vì chư Thiên bậc trí
Thành người ban hạnh phúc.
Sống gia đình, đúng pháp,
Vị ấy làm thiện sự,
Ðược cúng dường tán thán,
Ðời này họ được khen,
Ðời sau sống hoan hỷ,
Trong cảnh giới chư Thiên.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.58
- 6. Hindrances
The Licchavi Youths
8. Kinh Các Thanh Niên Licchavi
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi. Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto mahāvanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms. Then after the meal, on his return from almsround, he plunged deep into the Great Wood and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
58. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm (Mahāvana), trong Trùng Các Giảng Đường (Kūṭāgārasālā). Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, Ngài đi vào Đại Lâm và ngồi xuống nghỉ ban ngày dưới một gốc cây.
Tena kho pana samayena sambahulā licchavikumārakā sajjāni dhanūni ādāya kukkurasaṅghaparivutā mahāvane anucaṅkamamānā anuvicaramānā addasu bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ; disvāna sajjāni dhanūni nikkhipitvā kukkurasaṅghaṁ ekamantaṁ uyyojetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā tuṇhībhūtā tuṇhībhūtā pañjalikā bhagavantaṁ payirupāsanti.
Now at that time several Licchavi youths took strung bows and, escorted by a pack of hounds, were going for a walk in the Great Wood when they saw the Buddha seated at the root of a tree. When they saw him, they put down their strung bows, dispatched their hounds to one side, and went up to him. They bowed and silently paid homage to the Buddha with cupped palms.
Lúc bấy giờ, nhiều thanh niên Licchavi, mang theo cung đã giương sẵn, có một bầy chó săn vây quanh, đang đi kinh hành và dạo chơi trong Đại Lâm, họ đã thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Thấy vậy, họ đặt cung đã giương sẵn xuống, xua bầy chó săn sang một bên, rồi đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn, rồi im lặng, im lặng, chắp tay cung kính ngồi hầu cận Thế Tôn.
Tena kho pana samayena mahānāmo licchavi mahāvane jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno addasa te licchavikumārake tuṇhībhūte tuṇhībhūte pañjalike bhagavantaṁ payirupāsante; disvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo licchavi udānaṁ udānesi: “bhavissanti vajjī, bhavissanti vajjī”ti.
Now at that time Mahānāma the Licchavi was going for a walk in the Great Wood when he saw those Licchavi youths silently paying homage to the Buddha with cupped palms. Seeing this, he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and expressed this heartfelt sentiment, “They will become Vajjis! They will become Vajjis!”
Lúc bấy giờ, Mahānāma người Licchavi đang đi dạo trong Đại Lâm để dãn gân cốt. Ông thấy các thanh niên Licchavi ấy đang im lặng, im lặng, chắp tay cung kính ngồi hầu cận Thế Tôn. Thấy vậy, ông đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Mahānāma người Licchavi thốt lên lời cảm hứng: ‘Người Vajjī sẽ thịnh vượng, người Vajjī sẽ thịnh vượng!’
“Kiṁ pana tvaṁ, mahānāma, evaṁ vadesi: ‘bhavissanti vajjī, bhavissanti vajjī’”ti?
“Ime, bhante, licchavikumārakā caṇḍā pharusā apānubhā. Yānipi tāni kulesu paheṇakāni pahīyanti, ucchūti vā badarāti vā pūvāti vā modakāti vā saṅkulikāti vā, tāni vilumpitvā vilumpitvā khādanti; kulitthīnampi kulakumārīnampi pacchāliyaṁ khipanti. Te dānime tuṇhībhūtā tuṇhībhūtā pañjalikā bhagavantaṁ payirupāsantī”ti.
“But Mahānāma, why do you say that they will become Vajjis?”
“Sir, these Licchavi youths are violent, harsh, and brash. Whenever sweets are left out for families—sugarcane, jujube fruits, pancakes, pies, or fritters—they filch them and eat them up. And they hit women and girls of good families on their backs. But now they’re silently paying homage to the Buddha with cupped palms.”
“Này Mahānāma, tại sao ông lại nói như vậy: ‘Người Vajjī sẽ thịnh vượng, người Vajjī sẽ thịnh vượng!’?” “Bạch Thế Tôn, các thanh niên Licchavi này hung hăng, thô bạo, ngỗ ngược. Bất cứ quà tặng nào được gửi đến các gia đình, như mía, hay táo, hay bánh ngọt, hay bánh kẹo, hay bánh mè, chúng đều cướp giật và ăn sạch. Chúng còn đá vào lưng các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia đình. Nay chúng đang im lặng, im lặng, chắp tay cung kính ngồi hầu cận Thế Tôn.”
“Yassa kassaci, mahānāma, kulaputtassa pañca dhammā saṁvijjanti—yadi vā rañño khattiyassa muddhāvasittassa, yadi vā raṭṭhikassa pettanikassa, yadi vā senāya senāpatikassa, yadi vā gāmagāmaṇikassa, yadi vā pūgagāmaṇikassa, ye vā pana kulesu paccekādhipaccaṁ kārenti, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Katame pañca?
“Mahānāma, you can expect only growth, not decline, when you find five qualities in any gentleman—whether he’s an anointed aristocratic king, an appointed or hereditary official, an army general, a village chief, a guild chief, or a ruler of his own clan.
What five?
“Này Mahānāma, bất cứ thiện nam tử nào, dù là vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay là người đứng đầu một tỉnh được thừa hưởng từ cha, hay là tướng quân của một đạo quân, hay là trưởng làng, hay là người đứng đầu một phường hội, hay bất cứ ai nắm quyền cai trị riêng trong các gia đình, nếu có được năm pháp này, thì chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi, không có sự suy tàn.”
Idha, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi mātāpitaro sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ mātāpitaro sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: ‘ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī’ti. Mātāpitānukampitassa, mahānāma, kulaputtassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Firstly, a gentleman uses his legitimate wealth—earned by his efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow—to honor, respect, esteem, and venerate his mother and father. Honored in this way, his mother and father love him with a good heart, wishing: ‘Live long! Stay alive for a long time!’ When a gentleman is loved by his mother and father, you can expect only growth, not decline.
“Năm pháp ấy là gì? Này Mahānāma, ở đây, một thiện nam tử dùng của cải có được nhờ nỗ lực tinh tấn, thu hoạch bằng sức mạnh của cánh tay, kiếm được bằng mồ hôi nước mắt, hợp pháp và kiếm được một cách hợp pháp, để tôn trọng, kính trọng, quý mến, và cúng dường cha mẹ. Được con mình tôn trọng, kính trọng, quý mến, và cúng dường, cha mẹ có lòng thương mến với tâm thiện lành: ‘Mong con sống lâu, hãy giữ gìn tuổi thọ dài lâu!’. Này Mahānāma, đối với thiện nam tử được cha mẹ thương mến, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi, không có sự suy tàn.”
Puna caparaṁ, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi puttadāradāsakammakaraporise sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ puttadāradāsakammakaraporisā sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: ‘ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī’ti. Puttadāradāsakammakaraporisānukampitassa, mahānāma, kulaputtassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Furthermore, a gentleman uses his legitimate wealth to honor, respect, esteem, and venerate his wives and children, bondservants, workers, and staff. Honored in this way, his wives and children, bondservants, workers, and staff love him with a good heart, wishing: ‘Live long! Stay alive for a long time!’ When a gentleman is loved by his wives and children, bondservants, workers, and staff, you can expect only growth, not decline.
“Lại nữa, này Mahānāma, một thiện nam tử dùng của cải có được nhờ nỗ lực tinh tấn, thu hoạch bằng sức mạnh của cánh tay, kiếm được bằng mồ hôi nước mắt, hợp pháp và kiếm được một cách hợp pháp, để tôn trọng, kính trọng, quý mến, và cúng dường vợ con, người hầu, người làm công, và tôi tớ. Được chủ mình tôn trọng, kính trọng, quý mến, và cúng dường, vợ con, người hầu, người làm công, và tôi tớ có lòng thương mến với tâm thiện lành: ‘Mong chủ sống lâu, hãy giữ gìn tuổi thọ dài lâu!’. Này Mahānāma, đối với thiện nam tử được vợ con, người hầu, người làm công, và tôi tớ thương mến, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi, không có sự suy tàn.”
Puna caparaṁ, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi khettakammantasāmantasabyohāre sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ khettakammantasāmantasabyohārā sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: ‘ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī’ti. Khettakammantasāmantasabyohārānukampitassa, mahānāma, kulaputtassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Furthermore, a gentleman uses his legitimate wealth to honor, respect, esteem, and venerate those who work the neighboring fields, and those he does business with. Honored in this way, those who work the neighboring fields, and those he does business with love him with a good heart, wishing: ‘Live long! Stay alive for a long time!’ When a gentleman is loved by those who work the neighboring fields, and those he does business with, you can expect only growth, not decline.
Lại nữa, này Mahānāma, người thiện nam tử với những tài sản có được nhờ nỗ lực tinh tấn, do sức mạnh của cánh tay tạo ra, do mồ hôi đổ xuống, hợp pháp, kiếm được một cách hợp pháp, người ấy tôn trọng, kính trọng, quý mến, cúng dường những người láng giềng làm ruộng và các viên chức đo đạc. Những người láng giềng làm ruộng và các viên chức đo đạc ấy, khi được tôn trọng, kính trọng, quý mến, cúng dường, họ liền với thiện tâm mà thương tưởng người ấy rằng: ‘Mong cho được sống lâu, mong cho được bảo hộ mạng sống dài lâu’. Này Mahānāma, người thiện nam tử được những người láng giềng làm ruộng và các viên chức đo đạc thương tưởng, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Puna caparaṁ, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi yāvatā balipaṭiggāhikā devatā sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ balipaṭiggāhikā devatā sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: ‘ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī’ti. devatānukampitassa, mahānāma, kulaputtassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Furthermore, a gentleman uses his legitimate wealth to honor, respect, esteem, and venerate the deities who receive spirit-offerings. Honored in this way, the deities who receive spirit-offerings love him with a good heart, wishing: ‘Live long! Stay alive for a long time!’ When a gentleman is loved by the deities, you can expect only growth, not decline.
Lại nữa, này Mahānāma, người thiện nam tử với những tài sản có được nhờ nỗ lực tinh tấn, do sức mạnh của cánh tay tạo ra, do mồ hôi đổ xuống, hợp pháp, kiếm được một cách hợp pháp, người ấy tôn trọng, kính trọng, quý mến, cúng dường các vị chư thiên nhận vật cúng tế. Các vị chư thiên nhận vật cúng tế ấy, khi được tôn trọng, kính trọng, quý mến, cúng dường, họ liền với thiện tâm mà thương tưởng người ấy rằng: ‘Mong cho được sống lâu, mong cho được bảo hộ mạng sống dài lâu’. Này Mahānāma, người thiện nam tử được chư thiên thương tưởng, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Puna caparaṁ, mahānāma, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi samaṇabrāhmaṇe sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti. Tamenaṁ samaṇabrāhmaṇā sakkatā garukatā mānitā pūjitā kalyāṇena manasā anukampanti: ‘ciraṁ jīva, dīghamāyuṁ pālehī’ti. Samaṇabrāhmaṇānukampitassa, mahānāma, kulaputtassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Furthermore, a gentleman uses his legitimate wealth to honor, respect, esteem, and venerate ascetics and brahmins. Honored in this way, ascetics and brahmins love him with a good heart, wishing: ‘Live long! Stay alive for a long time!’ When a gentleman is loved by ascetics and brahmins, you can expect only growth, not decline.
Lại nữa, này Mahānāma, người thiện nam tử với những tài sản có được nhờ nỗ lực tinh tấn, do sức mạnh của cánh tay tạo ra, do mồ hôi đổ xuống, hợp pháp, kiếm được một cách hợp pháp, người ấy tôn trọng, kính trọng, quý mến, cúng dường các vị Sa-môn, Bà-la-môn. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy, khi được tôn trọng, kính trọng, quý mến, cúng dường, họ liền với thiện tâm mà thương tưởng người ấy rằng: ‘Mong cho được sống lâu, mong cho được bảo hộ mạng sống dài lâu’. Này Mahānāma, người thiện nam tử được các vị Sa-môn, Bà-la-môn thương tưởng, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Yassa kassaci, mahānāma, kulaputtassa ime pañca dhammā saṁvijjanti—yadi vā rañño khattiyassa muddhābhisittassa, yadi vā raṭṭhikassa pettanikassa, yadi vā senāya senāpatikassa, yadi vā gāmagāmaṇikassa, yadi vā pūgagāmaṇikassa, ye vā pana kulesu paccekādhipaccaṁ kārenti, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihānīti.
You can expect only growth, not decline, when you find these five qualities in any gentleman—whether he’s an anointed aristocratic king, an appointed or hereditary official, an army general, a village chief, a guild chief, or a ruler of his own clan.
Này Mahānāma, bất cứ người thiện nam tử nào có được năm pháp này, dù là vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay người cai trị một xứ được thừa hưởng từ cha, hay vị tướng quân của quân đội, hay vị trưởng làng, hay người đứng đầu một hội đoàn, hay những ai có quyền cai trị riêng trong các gia tộc, người ấy chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Mātāpitukiccakaro, puttadārahito sadā; Antojanassa atthāya, ye cassa anujīvino.
He’s always dutiful to his mother and father, and for the good of his wives and children. He looks after those in his household, and those dependent on him for their livelihood.
Người làm phận sự với mẹ cha, luôn mưu cầu lợi ích cho vợ con; vì lợi ích của người trong nhà, và những ai sống nương tựa vào mình.
Ubhinnañceva atthāya, Vadaññū hoti sīlavā; Ñātīnaṁ pubbapetānaṁ, Diṭṭhe dhamme ca jīvataṁ.
A bountiful and ethical person looks after the welfare of relatives—both those who have passed away, and those alive at present.
Hành xử vì lợi ích của cả hai, (vị ấy) là người biết điều, có giới hạnh; (vì lợi ích) của các thân quyến đã quá vãng và những người đang sống trong hiện tại.
Samaṇānaṁ brāhmaṇānaṁ, devatānañca paṇḍito; Vittisañjanano hoti, dhammena gharamāvasaṁ.
While living at home, an astute person uses legitimate means to give rise to joy for ascetics, brahmins, and also the gods.
Bậc hiền trí sống tại gia một cách đúng pháp, làm khởi sinh niềm hoan hỷ cho các Sa-môn, Bà-la-môn và chư thiên.
So karitvāna kalyāṇaṁ, pujjo hoti pasaṁsiyo; Idheva naṁ pasaṁsanti, pecca sagge pamodatī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Having done good, he’s venerable and praiseworthy. They praise him in this life, and he departs to rejoice in heaven.”
Người ấy, sau khi làm điều thiện, trở thành người đáng được cúng dường, đáng được tán thán. Ngay trong đời này, người ta tán thán người ấy; sau khi qua đời, người ấy hoan hỷ ở cõi trời. (Kinh) thứ tám.