- Aṅguttara Nikāya 5.52
- 6. Nīvaraṇavagga
Bản dịch
AN 5.52 — Ðống
Akusalarāsisutta
TTC 1—Nói đến một đống bất thiện, này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, toàn bộ đống bất thiện tức là năm triền cái. Thế nào là năm?
TTC 2Dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái.
Nói đến một đống bất thiện, này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỷ-kheo, toàn bộ đống bất tiện này, này các Tỷ-kheo, tức là năm triền cái.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.52
- 6. Hindrances
A Heap of the Unskillful
2. Kinh Tích Tập Bất Thiện
“Akusalarāsīti, bhikkhave, vadamāno pañca nīvaraṇe sammā vadamāno vadeyya. Kevalo hāyaṁ, bhikkhave, akusalarāsi yadidaṁ pañca nīvaraṇā. Katame pañca? Kāmacchandanīvaraṇaṁ, byāpādanīvaraṇaṁ, thinamiddhanīvaraṇaṁ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ, vicikicchānīvaraṇaṁ. Akusalarāsīti, bhikkhave, vadamāno ime pañca nīvaraṇe sammā vadamāno vadeyya. Kevalo hāyaṁ, bhikkhave, akusalarāsi yadidaṁ pañca nīvaraṇā”ti.
Dutiyaṁ.
“Mendicants, rightly speaking, you’d call the five hindrances a ‘heap of the unskillful’. For these five hindrances are entirely a heap of the unskillful. What five? The hindrances of sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. Rightly speaking, you’d call these five hindrances a ‘heap of the unskillful’. For these five hindrances are entirely a heap of the unskillful.”
52. “Này các Tỳ khưu, người nào nói: ‘khối bất thiện pháp,’ là người ấy nói một cách đúng đắn về năm triền cái. Này các Tỳ khưu, toàn bộ khối bất thiện pháp này chính là năm triền cái. Năm loại nào? Triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo cử hối quá, triền cái hoài nghi. Này các Tỳ khưu, người nào nói: ‘khối bất thiện pháp,’ là người ấy nói một cách đúng đắn về năm triền cái này. Này các Tỳ khưu, toàn bộ khối bất thiện pháp này chính là năm triền cái.” Kinh thứ hai.