- Aṅguttara Nikāya 5
- 29. Rāgapeyyāla
~
“Rāgassa, bhikkhave, abhiññāya pañca dhammā bhāvetabbā. Katame pañca? Saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ—rāgassa, bhikkhave, abhiññāya ime pañca dhammā bhāvetabbā”ti.
Bản dịch
~
TTC 1—Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không nên lựa chọn là người chỉ định phân phối sàng tọa, nên lựa chọn là người phân phối sàng tọa… không biết phân phối và không phân phối… biết phân phối và không phân phối… không nên lựa chọn là người giữ kho… nên lựa chọn là người giữ kho… không biết bảo vệ và không bảo vệ… biết bảo vệ và không bảo vệ… không nên lựa chọn là người nhận y… nên lựa chọn là người nhận y… không biết lấy và không lấy… biết lấy và không lấy… không nên lựa chọn là người chia y… nên lựa chọn là người chia y… không nên lựa chọn là người chia cháo… nên lựa chọn là người chia cháo… không nên lựa chọn là người chia trái… nên lựa chọn là người chia trái… không nên lựa chọn là người chia bánh… nên lựa chọn là người chia bánh… không biết chia và không chia… biết chia và không chia… không nên lựa chọn là người phân phát các vật dụng nhỏ nhặt… nên lựa chọn là người phân phát các vật dụng nhỏ nhặt… không biết phân phát và không phân phát… biết phân phát và không phân phát… không nên lựa chọn là người lãnh thọ nội y… nên lựa chọn là người lãnh thọ nội y… không nên lựa chọn là người nhận lấy bình bát… nên lựa chọn là người nhận lấy bình bát… không biết nhận lấy và không nhận lấy… biết nhận lấy và không nhận lấy… không nên lựa chọn là người quản đốc người làm vườn… nên lựa chọn là người quản đốc người làm vườn… không nên lựa chọn là người giám sát Sa-di… nên lựa chọn là người giám sát Sa-di… được lựa chọn không nên gửi đi… được lựa chọn nên gửi đi… cần phải biết là một người ngu… cần phải biết là một người Hiền trí… tự xử sự như kẻ bị mất gốc, bị thương tích… tự xử sự như không bị mất gốc, không bị thương tích… như vậy tương xứng rơi vào địa ngục… như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới… Thế nào là năm?
TTC 2Không đi đến dục, không đi đến sân, không đi đến si, không đi đến sợ hãi, biết gửi đi và không gửi đi.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, người giám sát Sa-di như vậy tương xứng được sanh lên Thiên giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Rāgassa, bhikkhave, abhiññāya pañca dhammā bhāvetabbā. Katame pañca? Saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ—rāgassa, bhikkhave, abhiññāya ime pañca dhammā bhāvetabbā”ti.
“For insight into greed, five things should be developed. What five? The faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. For insight into greed, these five things should be developed.”
306. “Này các Tỳ khưu, để thắng tri tham ái, năm pháp cần phải được tu tập. Năm pháp nào? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các Tỳ khưu, để thắng tri tham ái, năm pháp này cần phải được tu tập.”