- Aṅguttara Nikāya 5.200
- 20. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 5.200 — Xuất Ly
Nissāraṇīyasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi cái dục.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Và do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi sân.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi hại.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi sắc.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi có thân.
Ðối với vị ấy, dục hỷ không có tùy miên, sân hỷ không có tùy miên, hại hỷ không có tùy miên, sắc hỷ không có tùy miên, hữu thân hỷ không có tùy miên. Vị ấy không có tùy miên đối với dục hỷ, không có tùy miên đối với sân hỷ, không có tùy miên đối với hại hỷ, không có tùy miên đối với sắc hỷ, không có tùy miên đối với hữu thân hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh pháp nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.200
- 20. Brahmins
Elements of Escape
10. Kinh Xuất Ly
“Pañcimā, bhikkhave, nissāraṇīyā dhātuyo. Katamā pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno kāmaṁ manasikaroto kāmesu cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Nekkhammaṁ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ kāmehi;
“Mendicants, there are these five elements of escape. What five?
Take a case where a mendicant focuses on sensual pleasures, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. But when they focus on renunciation, on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. Their mind is in a good state, well developed, well risen, well freed, and well detached from sensual pleasures.
200. “Này các Tỳ khưu, có năm giới xuất ly này. Năm giới nào? Ở đây, này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu tác ý đến dục, tâm không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát trong các dục. Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự xuất gia, tâm hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát trong sự xuất gia. Tâm ấy của vị ấy đã đi đến nơi tốt đẹp, được tu tập tốt, được trỗi dậy tốt, được giải thoát tốt, được hoàn toàn tách rời khỏi các dục; và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên dục, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi các dục.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno byāpādaṁ manasikaroto byāpāde cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Abyāpādaṁ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ byāpādena; ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati. Idamakkhātaṁ byāpādassa nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on ill will, but their mind does not leap forth … But when they focus on good will, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from ill will. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of ill will, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from ill will is explained.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu tác ý đến sân, tâm không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát trong sân. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô sân, tâm hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát trong vô sân. Tâm ấy của vị ấy đã đi đến nơi tốt đẹp, được tu tập tốt, được trỗi dậy tốt, được giải thoát tốt, được hoàn toàn tách rời khỏi sân; và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên sân, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi sân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno vihesaṁ manasikaroto vihesāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Avihesaṁ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ vihesāya; ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati. Idamakkhātaṁ vihesāya nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on harming, but their mind does not leap forth … But when they focus on compassion, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from harming. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of harming, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from harming is explained.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu tác ý đến sự hãm hại, tâm không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát trong sự hãm hại. Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự vô hại, tâm hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát trong sự vô hại. Tâm ấy của vị ấy đã đi đến nơi tốt đẹp, được tu tập tốt, được trỗi dậy tốt, được giải thoát tốt, được hoàn toàn tách rời khỏi sự hãm hại; và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên hãm hại, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi sự hãm hại.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno rūpaṁ manasikaroto rūpe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Arūpaṁ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ rūpehi; ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati. Idamakkhātaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on form, but their mind does not leap forth … But when they focus on the formless, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from forms. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of form, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from forms is explained.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, khi một Tỳ khưu tác ý đến sắc, tâm không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát khỏi sắc. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô sắc, tâm hướng vào, tịnh tín, an trú, giải thoát khỏi vô sắc. Tâm ấy của vị ấy được khéo tu tập, khéo phát triển, khéo vượt thoát, khéo giải thoát, khéo ly hệ khỏi các sắc. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên sắc, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi các sắc.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyaṁ manasikaroto sakkāye cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Sakkāyanirodhaṁ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ sakkāyena; ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati. Idamakkhātaṁ sakkāyassa nissaraṇaṁ.
Take a case where a mendicant focuses on substantial reality, but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. But when they focus on the cessation of substantial reality, their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. Their mind is in a good state, well developed, well risen, well freed, and well detached from substantial reality. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of substantial reality, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from substantial reality is explained.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, khi một Tỳ khưu tác ý đến thân kiến, tâm không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát khỏi thân kiến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt thân kiến, tâm hướng vào, tịnh tín, an trú, giải thoát trong sự đoạn diệt thân kiến. Tâm ấy của vị ấy được khéo tu tập, khéo phát triển, khéo vượt thoát, khéo giải thoát, khéo ly hệ khỏi thân kiến. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên thân kiến, vị ấy được giải thoát khỏi chúng, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi thân kiến.
Tassa kāmanandīpi nānuseti, byāpādanandīpi nānuseti, vihesānandīpi nānuseti, rūpanandīpi nānuseti, sakkāyanandīpi nānuseti so kāmanandiyāpi ananusayā, byāpādanandiyāpi ananusayā, vihesānandiyāpi ananusayā, rūpanandiyāpi ananusayā, sakkāyanandiyāpi ananusayā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu niranusayo, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassa. Imā kho, bhikkhave, pañca nissāraṇīyā dhātuyo”ti.
Dasamaṁ.
Delight in sensual pleasures, ill will, harming, form, and substantial reality don’t linger within them. That’s why they’re called a mendicant who is without underlying tendencies, who has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering. These are the five elements of escape.”
Nơi vị ấy, hỷ trong dục không còn tiềm ẩn, hỷ trong sân không còn tiềm ẩn, hỷ trong hại không còn tiềm ẩn, hỷ trong sắc không còn tiềm ẩn, hỷ trong thân kiến không còn tiềm ẩn. Do không còn tùy miên hỷ trong dục, không còn tùy miên hỷ trong sân, không còn tùy miên hỷ trong hại, không còn tùy miên hỷ trong sắc, không còn tùy miên hỷ trong thân kiến. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là người không còn tùy miên, đã cắt đứt ái dục, đã tháo bỏ kiết sử, do chánh trí tuệ về ngã mạn đã chấm dứt khổ đau. Này các Tỳ khưu, đây là năm pháp xuất ly. Bài kinh thứ mười.
Brāhmaṇavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Bà La Môn, thứ năm.
Soṇo doṇo saṅgāravo, Kāraṇapālī ca piṅgiyānī; Supinā ca vassā vācā, Kulaṁ nissāraṇīyena cāti.
Catuttho paṇṇāsako samatto.
Soṇa, Doṇa, Saṅgārava, Kāraṇapālī và Piṅgiyāni; Supinā và Vassā, Vācā, Kulaṃ, và Nissāraṇīya.