- Aṅguttara Nikāya 5.181
- 19. Araññavagga
Bản dịch
AN 5.181 — Rừng
Āraññikasutta
TTC 1—Có năm hạng người này sống ở rừng. Thế nào là năm?
TTC 2Hạng đần độn ngu si sống ở rừng; hạng ác dục, ác tánh sống ở rừng; hạng kiêu mạn loạn tâm sống ở rừng; hạng ở rừng vì được nghe Thế Tôn và các đệ tử Phật tán thán; hạng vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này sống ở rừng;
Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người này sống ở rừng.
TTC 3Trong năm hạng người này sống ở rừng, này các Tỷ-kheo, hạng sống ở rừng vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này sống ở rừng. Hạng người này trong năm hạng người ấy là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ, là tối thượng, là tối diệu.
Ví như này các Tỷ-kheo, từ con bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ. Ðây được gọi là đệ nhất. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong năm hạng người sống ở rừng, này các Tỷ-kheo, hạng sống ở rừng vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát. Hạng người này trong năm hạng người ấy là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ, là tối thượng, là tối diệu.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.181
- 19. Wilderness Dwellers
Wilderness Dwellers
1. Kinh Về Hạnh Rừng Núi
“Pañcime, bhikkhave, āraññikā. Katame pañca? Mandattā momūhattā āraññiko hoti, pāpiccho icchāpakato āraññiko hoti, ummādā cittakkhepā āraññiko hoti, vaṇṇitaṁ buddhehi buddhasāvakehīti āraññiko hoti, appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya āraññiko hoti. Ime kho, bhikkhave, pañca āraññikā. Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ āraññikānaṁ yvāyaṁ āraññiko appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya āraññiko hoti, ayaṁ imesaṁ pañcannaṁ āraññikānaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
“Mendicants, there are these five kinds of wilderness dwellers. What five? One may be a wilderness dweller because of stupidity and folly. Or because of corrupt wishes, being of wishful temperament. Or because of madness and mental disorder. Or because it is praised by the Buddhas and their disciples. Or for the sake of having few wishes, for the sake of contentment, self-effacement, seclusion, and simplicity. These are the five kinds of wilderness dwellers. But the one who dwells in the wilderness for the sake of having few wishes is the foremost, best, chief, highest, and finest of the five.
181. “Này các tỳ khưu, có năm hạng tỳ khưu sống ở rừng núi này. Năm hạng nào? Do đần độn, si mê mà sống ở rừng núi. Do có ác dục, bị ác dục chi phối mà sống ở rừng núi. Do điên cuồng, tâm tán loạn mà sống ở rừng núi. Do nghĩ rằng: ‘Hạnh này được các đức Phật và các đệ tử của Phật tán thán’ mà sống ở rừng núi. Do nương vào sự ít ham muốn, nương vào sự biết đủ, nương vào sự làm cho phiền não suy giảm, nương vào sự độc cư, nương vào sự có mục đích này mà sống ở rừng núi. Này các tỳ khưu, đây là năm hạng tỳ khưu sống ở rừng núi. Này các tỳ khưu, trong năm hạng tỳ khưu sống ở rừng núi này, vị tỳ khưu nào do nương vào sự ít ham muốn, nương vào sự biết đủ, nương vào sự làm cho phiền não suy giảm, nương vào sự độc cư, nương vào sự có mục đích này mà sống ở rừng núi, vị ấy là bậc nhất, là bậc tối thắng, là bậc đứng đầu, là bậc tối thượng, là bậc ưu việt trong năm hạng tỳ khưu sống ở rừng núi này.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo, sappimaṇḍo tattha aggamakkhāyati; evamevaṁ kho, bhikkhave, imesaṁ pañcannaṁ āraññikānaṁ yvāyaṁ āraññiko appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya āraññiko hoti, ayaṁ imesaṁ pañcannaṁ āraññikānaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro cā”ti.
Paṭhamaṁ.
From a cow comes milk, from milk comes curds, from curds come butter, from butter comes ghee, and from ghee comes cream of ghee. And the cream of ghee is said to be the best of these. In the same way, the one who dwells in the wilderness for the sake of having few wishes is the foremost, best, chief, highest, and finest of the five.”
“Này các tỳ khưu, ví như từ bò có sữa, từ sữa có sữa đông, từ sữa đông có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ lỏng, từ bơ lỏng có bơ tinh luyện, và trong số đó bơ tinh luyện được xem là tốt nhất. Cũng vậy, này các tỳ khưu, trong năm hạng tỳ khưu sống ở rừng núi này, vị tỳ khưu nào do nương vào sự ít ham muốn, nương vào sự biết đủ, nương vào sự làm cho phiền não suy giảm, nương vào sự độc cư, nương vào sự có mục đích này mà sống ở rừng núi, vị ấy là bậc nhất, là bậc tối thắng, là bậc đứng đầu, là bậc tối thượng, là bậc ưu việt.” Kinh thứ nhất.