- Aṅguttara Nikāya 5.144
- 15. Tikaṇḍakīvagga
Bản dịch
AN 5.144 — Tại Rừng Tikandaki
Tikaṇḍakīsutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Tikandaki. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo!
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm và ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với các vật ghê tởm và không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác! Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích gì, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể trú với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm?
TTC 3“Mong rằng, đối với các pháp khả ái, tham chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm?
TTC 4“Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta” Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm, và ghê tởm?
TTC 5“Mong rằng đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta. Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm và ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm?
TTC 6“Mong rằng đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác?
TTC 7“Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào là như thế nào, đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp có thể làm cho si mê, lòng si không khởi lên nơi ta!” do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.144
- 15. At Tikaṇḍakī
At Tikaṇḍakī
4. Kinh Tikaṇḍakī
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati tikaṇḍakīvane. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Sāketa in Tikaṇḍakī Wood. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
144. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāketa, tại khu rừng Tikaṇḍakī. Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu'. 'Bạch Thế Tôn', các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
- “Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya.
- Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya.
- Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya.
- Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya.
- Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya sato sampajāno.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya? ‘Mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādī’ti—
- “Mendicants, a mendicant would do well to meditate from time to time perceiving the following: the repulsive in the unrepulsive,
- the unrepulsive in the repulsive,
- the repulsive in both the unrepulsive and the repulsive, and
- the unrepulsive in both the repulsive and the unrepulsive.
- A mendicant would do well to meditate from time to time staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive.
For what reason should a mendicant meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive? ‘May greed not arise in me for things that arouse greed.’
Này các tỳ khưu, lành thay, tỳ khưu thỉnh thoảng nên trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng không ghê tởm. Lành thay, này các tỳ khưu, tỳ khưu thỉnh thoảng nên trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ghê tởm. Lành thay, này các tỳ khưu, tỳ khưu thỉnh thoảng nên trú với tưởng ghê tởm trong cả đối tượng không ghê tởm và đối tượng ghê tởm. Lành thay, này các tỳ khưu, tỳ khưu thỉnh thoảng nên trú với tưởng không ghê tởm trong cả đối tượng ghê tởm và đối tượng không ghê tởm. Lành thay, này các tỳ khưu, tỳ khưu thỉnh thoảng, sau khi đã tránh xa cả hai điều ấy là đối tượng ghê tởm và đối tượng không ghê tởm, nên trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya? ‘Mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādī’ti—idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya.
For what reason should a mendicant meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive? ‘May hate not arise in me for things that provoke hate.’ …
Này các tỳ khưu, và vì mục đích lợi ích nào mà tỳ khưu nên trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ghê tởm? 'Mong rằng sân hận không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng sân hận'. Này các tỳ khưu, chính vì mục đích lợi ích này mà tỳ khưu nên trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ghê tởm.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya? ‘Mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādi, mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādī’ti—idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya.
For what reason should a mendicant meditate perceiving the repulsive in both the unrepulsive and the repulsive? ‘May greed not arise in me for things that arouse greed. May hate not arise in me for things that provoke hate.’ …
Này các tỳ khưu, và vì mục đích lợi ích nào mà tỳ khưu nên trú với tưởng ghê tởm trong cả đối tượng không ghê tởm và đối tượng ghê tởm? 'Mong rằng tham ái không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng tham ái, mong rằng sân hận không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng sân hận'. Này các tỳ khưu, chính vì mục đích lợi ích này mà tỳ khưu nên trú với tưởng ghê tởm trong cả đối tượng không ghê tởm và đối tượng ghê tởm.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya? ‘Mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādi, mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādī’ti—idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya.
For what reason should a mendicant meditate perceiving the unrepulsive in both the repulsive and the unrepulsive? ‘May hate not arise in me for things that provoke hate. May greed not arise in me for things that arouse greed.’ …
Này các tỳ khưu, và vì mục đích lợi ích nào mà tỳ khưu nên trú với tưởng không ghê tởm trong cả đối tượng ghê tởm và đối tượng không ghê tởm? 'Mong rằng sân hận không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng sân hận, mong rằng tham ái không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng tham ái'. Này các tỳ khưu, chính vì mục đích lợi ích này mà tỳ khưu nên trú với tưởng không ghê tởm trong cả đối tượng ghê tởm và đối tượng không ghê tởm.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya? ‘Sato sampajāno mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ rajanīyesu dhammesu rāgo udapādi, mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ dosanīyesu dhammesu doso udapādi, mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ mohanīyesu dhammesu moho udapādī’ti—idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya sato sampajāno”ti.
Catutthaṁ.
For what reason should a mendicant meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive? ‘May no greed for things that arouse greed, hate for things that provoke hate, or delusion for things that promote delusion arise in me in any way at all.’ For this reason a mendicant should meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive.”
Này các tỳ khưu, và vì mục đích lợi ích nào mà tỳ khưu, sau khi đã tránh xa cả hai điều ấy là đối tượng ghê tởm và đối tượng không ghê tởm, nên trú với tâm xả? 'Chánh niệm, tỉnh giác, mong rằng ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào, dù chỉ một chút, tham ái không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng tham ái; mong rằng ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào, dù chỉ một chút, sân hận không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng sân hận; mong rằng ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào, dù chỉ một chút, si mê không khởi lên trong ta đối với các pháp đáng si mê'. Này các tỳ khưu, chính vì mục đích lợi ích này mà tỳ khưu, sau khi đã tránh xa cả hai điều ấy là đối tượng ghê tởm và đối tượng không ghê tởm, nên trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác. Hết phẩm thứ tư.