- Aṅguttara Nikāya 4.83
- 9. Macalavagga
Bản dịch
AN 4.83 — Tán Thán
Avaṇṇārahasutta
TTC 1—Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn?
Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không xứng đáng được tán thán; không suy tư, không thẩm sát, không tán thán người xứng đáng được tán thánh; không suy tư, không thẩm sat, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng; không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
TTC 2Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
Có suy tư, có thẩm sát, không tán thán người không xứng đáng được tán thán; có suy tư, có thẩm sát, tán thán người xứng đáng được tán thán; có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ không xứng đáng được tin tưởng; không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.83
- 9. Confirmed
Where Criticism Takes You
3. Kinh Avaṇṇāraha
“Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Katamehi catūhi? Ananuvicca apariyogāhetvā avaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati, ananuvicca apariyogāhetvā vaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati, ananuvicca apariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti, ananuvicca apariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti—imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
“Mendicants, someone with four qualities is placed in hell as if delivered there. What four? Without examining or scrutinizing, they praise those deserving of criticism, and they criticize those deserving of praise. They arouse faith in things that are dubious, and they don’t arouse faith in things that are inspiring. Someone with these four qualities is placed in hell as if delivered there.
83. “Này các Tỳ khưu, người thành tựu bốn pháp, như thể được mang đến và đặt vào, cũng vậy, (bị đặt) vào địa ngục. Bốn pháp ấy là gì? Không thẩm xét, không suy lường, lại tán thán người không đáng tán thán; không thẩm xét, không suy lường, lại chê bai người đáng tán thán; không thẩm xét, không suy lường, lại tỏ lòng tịnh tín ở nơi không đáng tịnh tín; không thẩm xét, không suy lường, lại tỏ lòng không tịnh tín ở nơi đáng tịnh tín. Này các Tỳ khưu, chính do bốn pháp này, người thành tựu chúng, như thể được mang đến và đặt vào, cũng vậy, (bị đặt) vào địa ngục.”
Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge. Katamehi catūhi? Anuvicca pariyogāhetvā avaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati, anuvicca pariyogāhetvā vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati, anuvicca pariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti anuvicca pariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti—imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
Tatiyaṁ.
Someone with four qualities is placed in heaven as if delivered there. What four? After examining and scrutinizing, they criticize those deserving of criticism, and they praise those deserving of praise. They don’t arouse faith in things that are dubious, and they do arouse faith in things that are inspiring. Someone with these four qualities is placed in heaven as if delivered there.”
“Này các Tỳ khưu, người thành tựu bốn pháp, như thể được mang đến và đặt vào, cũng vậy, (được đặt) vào cõi trời. Bốn pháp ấy là gì? Sau khi thẩm xét, sau khi suy lường, lại chê bai người không đáng tán thán; sau khi thẩm xét, sau khi suy lường, lại tán thán người đáng tán thán; sau khi thẩm xét, sau khi suy lường, lại tỏ lòng không tịnh tín ở nơi không đáng tịnh tín; sau khi thẩm xét, sau khi suy lường, lại tỏ lòng tịnh tín ở nơi đáng tịnh tín. Này các Tỳ khưu, chính do bốn pháp này, người thành tựu chúng, như thể được mang đến và đặt vào, cũng vậy, (được đặt) vào cõi trời.” (Kinh) thứ ba.