- Aṅguttara Nikāya 4.68
- 7. Pattakammavagga
Bản dịch
AN 4.68 — Devadatta
Devadattasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta sau khi Devadatta bỏ đi không bao lâu. Tại đấy, Thế Tôn nhơn việc Devadatta bảo các Tỷ-kheo:
—Ðem đến hại mình, này các Tỷ-kheo, khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta; đem đến bất hạnh cho người, này các Tỷ-kheo, khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta! Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây chuối khi sanh ra trái, đem đến hại mình; khi sanh ra trái, đem đến bất hạnh cho người khi sanh ra trái. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta, đem đến bất hạnh cho người khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta. Ví như, này các Tỷ-kheo, cây tre đem đến hại mình khi sanh ra trái, đem đến bất hạnh cho người khi sanh ra trái. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta. Ví như, này các Tỷ-kheo, cây lau đem đến hại mình khi sanh ra trái, đem đến bất hạnh cho người khi sanh ra trái. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta, đem lại bất hạnh cho người khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ví như con la đem đến hại mình khi mang thai, đem đến bất hạnh cho người khi mang thai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đem đến hại mình khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta, đem đến bất hạnh cho người khi lợi dưỡng, cung kính, danh vọng khởi lên cho Devadatta.
Quả giết hại cây chuối,
Giết hại tre và lau,
Cung kính hại người ngu,
Thai tạng hại con la.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.68
- 7. Fitting Deeds
Devadatta
8. Kinh Devadatta
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte. Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
“attavadhāya, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi. Parābhavāya, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain, not long after Devadatta had left. There the Buddha spoke to the mendicants about Devadatta:
“Possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
68. Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa, không bao lâu sau khi Devadatta ra đi. Tại đấy, Thế Tôn nhân Devadatta mà gọi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta đã khởi lên để tự hủy hoại. Này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta đã khởi lên để suy vong.'
Seyyathāpi, bhikkhave, kadalī attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti; evamevaṁ kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
It’s like a banana plant …
Này các Tỳ khưu, ví như cây chuối ra quả để tự hủy hoại, ra quả để suy vong; cũng vậy, này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta đã khởi lên để tự hủy hoại, đã khởi lên để suy vong.
Này các Tỳ khưu, ví như cây tre ra quả để tự hủy hoại, ra quả để suy vong; cũng vậy, này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta đã khởi lên để tự hủy hoại, đã khởi lên để suy vong.
Này các Tỳ khưu, ví như cây sậy ra quả để tự hủy hoại, ra quả để suy vong; cũng vậy, này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta đã khởi lên để tự hủy hoại, đã khởi lên để suy vong.
Seyyathāpi, bhikkhave, assatarī attavadhāya gabbhaṁ gaṇhāti, parābhavāya gabbhaṁ gaṇhāti; evamevaṁ kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādīti.
It’s like a mule, which becomes pregnant to its own ruin and downfall. In the same way, possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
Này các Tỳ khưu, ví như con la cái mang thai để tự hủy hoại, mang thai để suy vong; cũng vậy, này các Tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta đã khởi lên để tự hủy hoại, đã khởi lên để suy vong.
Phalaṁ ve kadaliṁ hanti, phalaṁ veḷuṁ phalaṁ naḷaṁ; Sakkāro kāpurisaṁ hanti, gabbho assatariṁ yathā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
The banana plant is destroyed by its own fruit, as are the bamboo and the reed. Honor destroys a reprobate, as pregnancy destroys a mule.”
Quả thật giết cây chuối, quả giết cây tre, quả giết cây sậy; sự cung kính giết kẻ hạ tiện, như bào thai giết con la cái. (Kinh thứ tám)