- Aṅguttara Nikāya 4.200
- 20. Mahāvagga
Pemasutta
“Cattārimāni, bhikkhave, pemāni jāyanti. Katamāni cattāri?
- Pemā pemaṁ jāyati,
- pemā doso jāyati,
- dosā pemaṁ jāyati,
- dosā doso jāyati.
Bản dịch
Pemasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn sự được sanh khởi này. Thế nào là bốn?
Luyến ái sanh từ luyến ái, sân sanh từ luyến ái, luyến ái sanh từ sân, sân sanh từ sân.
TTC 2—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là luyến ái sanh từ luyến ái?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta, lại được các người khác đối xử khả lạc, khả hỷ, khả ý”. Do đó người ấy khởi lên luyến ái đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là luyến ái sanh khởi từ luyến ái.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sân được sanh khởi từ luyến ái?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta, nhưng không được các người khác đối xử khả lạc, khả hỷ, khả ý”. Do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sân được sanh khởi từ luyến ái.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là luyến ái được sanh khởi từ sân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này không khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với ta. Và các người khác đối xử với người ấy không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý”. Do đó người ấy khởi lên luyến ái đối với các người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là luyến ái được sanh khởi từ sân.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là lòng sân được sanh khởi từ lòng sân?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không là khả lạc, khả hỷ, khả ý đối với một người. Rồi các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý. Người kia suy nghĩ như sau: “Người này không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý đối với ta. Và các người khác đối xử với người ấy khả lạc, khả hỷ, khả ý”. Do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sân được sanh khởi từ lòng sân.
Này các Tỷ-kheo, có bốn luyến ái này sanh ra.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo ly các dục, ly các pháp bất thiện … chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ luyến ái, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt. Luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ sân, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ các tầm và tứ … chứng đạt và an trú Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … Thiền thứ tư. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh khởi từ luyến ái, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt. Luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy trong thời gian ấy không có mặt. Sân sanh ra từ sân, sân ấy trong thời gian ấy không có mặt.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, trong thời gian Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Luyến ái sanh ra từ luyến ái, luyến ái ấy đã được đoạn tận, đã được cắt đứt từ gốc rễ, đã được làm như thân cây tala, đã được làm không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Sân sanh ra từ luyến ái, sân ấy đã được đoạn tận … không thể sanh khởi trong tương lai; luyến ái sanh ra từ sân, luyến ái ấy đã được đoạn tận, đã được cắt đứt từ gốc rễ, đã được làm như thân cây tala, đã được làm không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Sân sanh ra từ sân, sân ấy đã được đoạn tận, đã được cắt đứt từ gốc rễ, đã được làm như thân cây tala, đã được làm không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không lôi cuốn, không phản ứng, không un khói, không bốc cháy, không sửng sờ.
TTC 9Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo lôi cuốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sắc từ tự ngã, hay quán tự ngã có sắc, hay quán sắc trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc; quán thọ từ tự ngã, hay quán tự ngã có thọ, hay quán thọ trong tự ngã, hay quán tự ngã trong thọ; quán tưởng từ tự ngã, hay quán tự ngã có tưởng, hay quán tưởng trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong tưởng; quán các hành từ tự ngã, hay quán tự ngã có các hành, hay quán các hành trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong các hành; quán thức từ tự ngã, hay quán tự ngã có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo lôi cuốn.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không lôi cuốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không quán sắc từ tự ngã, hay không quán tự ngã có sắc, hay không quán sắc trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức từ tự ngã, hay không quán tự ngã có thức, hay không quán thức trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không lôi cuốn.
TTC 11Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo phản ứng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo mắng chưởi lại những ai mắng chưởi, nổi sân lại những ai nổi sân, gây hấn lại những ai gây hấn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo phản ứng.
TTC 12Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không phản ứng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không mắng chưởi lại những ai mắng chưởi, không nổi sân lại những ai nổi sân, không gây hấn lại những ai gây hấn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không phản ứng.
TTC 13Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo un khói?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào có ý nghĩ: “Ta có mặt”, thời có những ý nghĩ: “Ta có mặt trong đời này”; “Ta có mặt như vậy”; “Ta có mặt khác như vậy”; “Ta không phải thường hằng”; “Ta là thường hằng”; “Ta phải có mặt hay không?”; “Ta phải có mặt trong đời này?”; “Ta phải có mặt như vậy”; “Ta phải có mặt khác như vậy”; “Mong rằng ta có mặt”; “Mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Mong rằng ta có mặt khác như vậy!”; “Ta sẽ có mặt”; “Ta sẽ có mặt trong đời này”; “Ta sẽ có mặt như vậy”; “Ta sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo un khói.
TTC 14Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không un khói?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào không có ý nghĩ: “Ta có mặt”, thời cũng không có những ý nghĩ: “Ta có mặt trong đời này”; “Ta có mặt như vậy”; “Ta có mặt khác như vậy”; “Ta không phải thường hằng”; “Ta là thường hằng”; “Ta phải có mặt hay không?”; “Ta phải có mặt trong đời này?”; “Ta phài có mặt như vậy”; “Ta phải có mặt khác như vậy”; “Mong rằng ta có mặt”; “Mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Mong rằng ta có mặt khác như vậy!”; “Ta sẽ có mặt”; “Ta sẽ có mặt trong đời này”; “Ta sẽ có mặt như vậy”; “Ta sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không un khói.
TTC 15Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bốc cháy?
Khi nào có tư tưởng: “Với cái này, Ta có mặt”, thời có những tư tưởng sau: “Với cái này, Ta có mặt trong đời này”; “Với cái này, Ta có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta có mặt khác như vậy”; “Với cái này, Ta không phải thường hằng”; “Với cái này, Ta là thường hằng”; “Với cái này, Ta phải có mặt hay không?”; “Với cái này, Ta phải có mặt trong đời này?”; “Với cái này, Ta phải có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta phải có mặt khác như vậy”; “Với cái này, mong rằng ta sẽ có mặt”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt trong đời này”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt như vậy!”; “Với cái này, mong rằng ta có mặt khác như vậy!” Với cái này, ta sẽ có mặt”; “Với cái này, ta sẽ có mặt trong đời này”;” Với cái này, ta sẽ có mặt như vậy”;” Với cái này, ta sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bốc cháy.
TTC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không bốc cháy?
Khi nào không có tư tưởng: “Với cái này, Ta có mặt”, thời có những tư tưởng sau: “Với cái này, Ta không có mặt trong đời này”; “Với cái này, Ta không có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta không có mặt khác như vậy”; “Với cái này, Ta không phải không thường hằng”; “Với cái này, Ta không phải thường hằng”; “Với cái này, Ta không phải có mặt ?”; “Với cái này, Ta không phải có mặt trong đời này?”; “Với cái này, Ta không phải có mặt như vậy”; “Với cái này, Ta không phải có mặt khác đi”; “Với cái này, mong rằng ta không có mặt”; “Với cái này, mong rằng ta không có mặt trong đời này”; “Với cái này, mong rằng ta không có mặt như vậy!”;” Với cái này, ta sẽ không có mặt khác đi”; “Với cái này, tôi sẽ có mặt”, “Với cái này tôi sẽ có mặt trong đời này”;” Với cái này, tôi sẽ có mặt như vậy”;” Với cái này, tôi sẽ có mặt khác như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không bốc cháy.
TTC 17Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không có sửng sờ?
Ở đây, sự kiêu mạn: “Tôi là” của vị Tỷ-kheo được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không có sửng sờ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Cattārimāni, bhikkhave, pemāni jāyanti. Katamāni cattāri?
“Mendicants, these four things are born. What four?
200. Này các Tỳ khưu, có bốn (tình yêu) này sanh khởi. Thế nào là bốn? Từ tình yêu, tình yêu sanh khởi; từ tình yêu, sân hận sanh khởi; từ sân hận, tình yêu sanh khởi; từ sân hận, sân hận sanh khởi.
Kathañca, bhikkhave, pemā pemaṁ jāyati? Idha, bhikkhave, puggalo puggalassa iṭṭho hoti kanto manāpo. Taṁ pare iṭṭhena kantena manāpena samudācaranti. Tassa evaṁ hoti: ‘yo kho myāyaṁ puggalo iṭṭho kanto manāpo, taṁ pare iṭṭhena kantena manāpena samudācarantī’ti. So tesu pemaṁ janeti. Evaṁ kho, bhikkhave, pemā pemaṁ jāyati.
And how is fondness born of fondness? It’s when someone likes, loves, and cares for an individual. Others treat them with liking, love, and care. They think: ‘These others like the individual I like.’ And so fondness for them springs up. That’s how fondness is born of fondness.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là tình yêu sanh khởi từ tình yêu? Này các Tỳ khưu, ở đây, một người là người được ưa thích, quý mến, hài lòng đối với một người khác. Những người khác đối xử với người ấy một cách ưa thích, quý mến, hài lòng. Người kia suy nghĩ như sau: ‘Người mà ta ưa thích, quý mến, hài lòng, lại được những người khác đối xử một cách ưa thích, quý mến, hài lòng.’ Vị ấy sanh tâm yêu mến đối với họ. Này các Tỳ khưu, như vậy là tình yêu sanh khởi từ tình yêu.
Kathañca, bhikkhave, pemā doso jāyati? Idha, bhikkhave, puggalo puggalassa iṭṭho hoti kanto manāpo. Taṁ pare aniṭṭhena akantena amanāpena samudācaranti. Tassa evaṁ hoti: ‘yo kho myāyaṁ puggalo iṭṭho kanto manāpo, taṁ pare aniṭṭhena akantena amanāpena samudācarantī’ti. So tesu dosaṁ janeti. Evaṁ kho, bhikkhave, pemā doso jāyati.
And how is hate born of fondness? It’s when someone likes, loves, and cares for an individual. Others treat them with disliking, loathing, and detestation. They think: ‘These others dislike the individual I like.’ And so hate for them springs up. That’s how hate is born of fondness.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là sân hận sanh khởi từ tình yêu? Này các Tỳ khưu, ở đây, một người là người được ưa thích, quý mến, hài lòng đối với một người khác. Những người khác đối xử với người ấy một cách không ưa thích, không quý mến, không hài lòng. Người kia suy nghĩ như sau: ‘Người mà ta ưa thích, quý mến, hài lòng, lại bị những người khác đối xử một cách không ưa thích, không quý mến, không hài lòng.’ Vị ấy sanh tâm sân hận đối với họ. Này các Tỳ khưu, như vậy là sân hận sanh khởi từ tình yêu.
Kathañca, bhikkhave, dosā pemaṁ jāyati? Idha, bhikkhave, puggalo puggalassa aniṭṭho hoti akanto amanāpo. Taṁ pare aniṭṭhena akantena amanāpena samudācaranti. Tassa evaṁ hoti: ‘yo kho myāyaṁ puggalo aniṭṭho akanto amanāpo, taṁ pare aniṭṭhena akantena amanāpena samudācarantī’ti. So tesu pemaṁ janeti. Evaṁ kho, bhikkhave, dosā pemaṁ jāyati.
And how is fondness born of hate? It’s when someone dislikes, loathes, and detests an individual. Others treat them with disliking, loathing, and detestation. They think: ‘These others dislike the individual I dislike.’ And so fondness for them springs up. That’s how fondness is born of hate.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là tình yêu sanh khởi từ sân hận? Này các Tỳ khưu, ở đây, một người là người không được ưa thích, không quý mến, không hài lòng đối với một người khác. Những người khác đối xử với người ấy một cách không ưa thích, không quý mến, không hài lòng. Người kia suy nghĩ như sau: ‘Người mà ta không ưa thích, không quý mến, không hài lòng, lại bị những người khác đối xử một cách không ưa thích, không quý mến, không hài lòng.’ Vị ấy sanh tâm yêu mến đối với họ. Này các Tỳ khưu, như vậy là tình yêu sanh khởi từ sân hận.
Kathañca, bhikkhave, dosā doso jāyati? Idha, bhikkhave, puggalo puggalassa aniṭṭho hoti akanto amanāpo. Taṁ pare iṭṭhena kantena manāpena samudācaranti. Tassa evaṁ hoti: ‘yo kho myāyaṁ puggalo aniṭṭho akanto amanāpo, taṁ pare iṭṭhena kantena manāpena samudācarantī’ti. So tesu dosaṁ janeti. Evaṁ kho, bhikkhave, dosā doso jāyati.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri pemāni jāyanti.
And how is hate born of hate? It’s when someone dislikes, loathes, and detests an individual. Others treat them with liking, love, and care. They think: ‘These others like the individual I dislike.’ And so hate for them springs up. That’s how hate is born of hate.
These are the four things that are born.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là sân hận sanh khởi từ sân hận? Này các Tỳ khưu, ở đây, một người là người không được ưa thích, không quý mến, không hài lòng đối với một người khác. Những người khác đối xử với người ấy một cách ưa thích, quý mến, hài lòng. Người kia suy nghĩ như sau: ‘Người mà ta không ưa thích, không quý mến, không hài lòng, lại được những người khác đối xử một cách ưa thích, quý mến, hài lòng.’ Vị ấy sanh tâm sân hận đối với họ. Này các Tỳ khưu, như vậy là sân hận sanh khởi từ sân hận. Này các Tỳ khưu, đây là bốn tình yêu sanh khởi.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, yampissa pemā pemaṁ jāyati tampissa tasmiṁ samaye na hoti, yopissa pemā doso jāyati sopissa tasmiṁ samaye na hoti, yampissa dosā pemaṁ jāyati tampissa tasmiṁ samaye na hoti, yopissa dosā doso jāyati sopissa tasmiṁ samaye na hoti.
A time comes when a mendicant … enters and remains in the first absorption. At that time they have no fondness born of fondness, hate born of fondness, fondness born of hate, or hate born of hate.
Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Tỳ khưu ly dục... cho đến... chứng và trú thiền thứ nhất, tình yêu nào sanh khởi từ tình yêu đối với vị ấy, điều ấy không có nơi vị ấy vào lúc bấy giờ; sân hận nào sanh khởi từ tình yêu đối với vị ấy, điều ấy cũng không có nơi vị ấy vào lúc bấy giờ; tình yêu nào sanh khởi từ sân hận đối với vị ấy, điều ấy không có nơi vị ấy vào lúc bấy giờ; sân hận nào sanh khởi từ sân hận đối với vị ấy, điều ấy cũng không có nơi vị ấy vào lúc bấy giờ.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, yampissa pemā pemaṁ jāyati tampissa tasmiṁ samaye na hoti, yopissa pemā doso jāyati sopissa tasmiṁ samaye na hoti, yampissa dosā pemaṁ jāyati tampissa tasmiṁ samaye na hoti, yopissa dosā doso jāyati sopissa tasmiṁ samaye na hoti.
A time comes when a mendicant … enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption. At that time they have no fondness born of fondness, hate born of fondness, fondness born of hate, or hate born of hate.
Này các Tỳ-khưu, vào lúc vị Tỳ-khưu, do sự lắng dịu của tầm và tứ... (v.v)... đạt và an trú thiền thứ nhì... (v.v)... thiền thứ ba... (v.v)... thiền thứ tư, bất cứ sự yêu mến nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên yêu mến, sự yêu mến ấy không có nơi vị ấy vào lúc đó; bất cứ sự sân hận nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên yêu mến, sự sân hận ấy không có nơi vị ấy vào lúc đó; bất cứ sự yêu mến nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên sân hận, sự yêu mến ấy không có nơi vị ấy vào lúc đó; bất cứ sự sân hận nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên sân hận, sự sân hận ấy không có nơi vị ấy vào lúc đó.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, yampissa pemā pemaṁ jāyati tampissa pahīnaṁ hoti ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ, yopissa pemā doso jāyati sopissa pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo, yampissa dosā pemaṁ jāyati tampissa pahīnaṁ hoti ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ, yopissa dosā doso jāyati sopissa pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu neva usseneti na paṭiseneti na dhūpāyati na pajjalati na sampajjhāyati.
A time comes when a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. At that time any fondness born of fondness, hate born of fondness, fondness born of hate, or hate born of hate is given up, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. This is called a mendicant who doesn’t draw close or push back or fume or ignite or burn up.
Này các Tỳ-khưu, vào lúc vị Tỳ-khưu, do sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại, bất cứ sự yêu mến nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên yêu mến, sự yêu mến ấy đã được đoạn trừ, bị cắt đứt gốc rễ, được làm cho như thân cây thốt nốt, được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai; bất cứ sự sân hận nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên yêu mến, sự sân hận ấy đã được đoạn trừ, bị cắt đứt gốc rễ, được làm cho như thân cây thốt nốt, được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai; bất cứ sự yêu mến nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên sân hận, sự yêu mến ấy đã được đoạn trừ, bị cắt đứt gốc rễ, được làm cho như thân cây thốt nốt, được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai; bất cứ sự sân hận nào sanh khởi nơi vị ấy do nhân duyên sân hận, sự sân hận ấy đã được đoạn trừ, bị cắt đứt gốc rễ, được làm cho như thân cây thốt nốt, được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu này được gọi là người không tự đề cao, không chống đối, không bốc khói, không bốc cháy, không suy tư.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu usseneti? Idha, bhikkhave, bhikkhu rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ; vedanaṁ attato samanupassati, vedanāvantaṁ vā attānaṁ, attani vā vedanaṁ, vedanāya vā attānaṁ; saññaṁ attato samanupassati, saññāvantaṁ vā attānaṁ, attani vā saññaṁ, saññāya vā attānaṁ; saṅkhāre attato samanupassati, saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ, attani vā saṅkhāre, saṅkhāresu vā attānaṁ; viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu usseneti.
And how does a mendicant draw close? It’s when a mendicant regards form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how a mendicant draws close.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu tự đề cao? Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu quán thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; quán thấy thọ là tự ngã, hoặc tự ngã có thọ, hoặc thọ ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thọ; quán thấy tưởng là tự ngã, hoặc tự ngã có tưởng, hoặc tưởng ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong tưởng; quán thấy các hành là tự ngã, hoặc tự ngã có các hành, hoặc các hành ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong các hành; quán thấy thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Này các Tỳ-khưu, như vậy là vị Tỳ-khưu tự đề cao.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na usseneti? Idha, bhikkhave, bhikkhu na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ; na vedanaṁ attato samanupassati, na vedanāvantaṁ vā attānaṁ, na attani vā vedanaṁ, na vedanāya vā attānaṁ; na saññaṁ attato samanupassati, na saññāvantaṁ vā attānaṁ, na attani vā saññaṁ, na saññāya vā attānaṁ; na saṅkhāre attato samanupassati, na saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ, na attani vā saṅkhāre, na saṅkhāresu vā attānaṁ; na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ, na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na usseneti.
And how does a mendicant not draw close? It’s when a mendicant doesn’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling as self, self as having feeling, feeling in self, or self in feeling. They don’t regard perception as self, self as having perception, perception in self, or self in perception. They don’t regard choices as self, self as having choices, choices in self, or self in choices. They don’t regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how a mendicant doesn’t draw close.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu không tự đề cao? Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu không quán thấy sắc là tự ngã, không (quán thấy) tự ngã có sắc, không (quán thấy) sắc ở trong tự ngã, không (quán thấy) tự ngã ở trong sắc; không quán thấy thọ là tự ngã, không (quán thấy) tự ngã có thọ, không (quán thấy) thọ ở trong tự ngã, không (quán thấy) tự ngã ở trong thọ; không quán thấy tưởng là tự ngã, không (quán thấy) tự ngã có tưởng, không (quán thấy) tưởng ở trong tự ngã, không (quán thấy) tự ngã ở trong tưởng; không quán thấy các hành là tự ngã, không (quán thấy) tự ngã có các hành, không (quán thấy) các hành ở trong tự ngã, không (quán thấy) tự ngã ở trong các hành; không quán thấy thức là tự ngã, không (quán thấy) tự ngã có thức, không (quán thấy) thức ở trong tự ngã, không (quán thấy) tự ngã ở trong thức. Này các Tỳ-khưu, như vậy là vị Tỳ-khưu không tự đề cao.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu paṭiseneti? Idha, bhikkhave, bhikkhu akkosantaṁ paccakkosati, rosantaṁ paṭirosati, bhaṇḍantaṁ paṭibhaṇḍati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu paṭiseneti.
And how does a mendicant push back? It’s when someone abuses, annoys, or argues with a mendicant, and the mendicant abuses, annoys, or argues back at them. That’s how a mendicant pushes back.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu chống đối? Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu mắng lại người đang mắng mình, phẫn nộ lại người đang phẫn nộ với mình, gây gổ lại người đang gây gổ với mình. Này các Tỳ-khưu, như vậy là vị Tỳ-khưu chống đối.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na paṭiseneti? Idha, bhikkhave, bhikkhu akkosantaṁ na paccakkosati, rosantaṁ na paṭirosati, bhaṇḍantaṁ na paṭibhaṇḍati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na paṭiseneti.
And how does a mendicant not push back? It’s when someone abuses, annoys, or argues with a mendicant, and the mendicant doesn’t abuse, annoy, or argue back at them. That’s how a mendicant doesn’t push back.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu không chống đối? Này các Tỳ-khưu, ở đây, vị Tỳ-khưu không mắng lại người đang mắng mình, không phẫn nộ lại người đang phẫn nộ với mình, không gây gổ lại người đang gây gổ với mình. Này các Tỳ-khưu, như vậy là vị Tỳ-khưu không chống đối.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu dhūpāyati? Asmīti, bhikkhave, sati itthasmīti hoti, evaṁsmīti hoti, aññathāsmīti hoti, asasmīti hoti, satasmīti hoti, santi hoti, itthaṁ santi hoti, evaṁ santi hoti, aññathā santi hoti, apihaṁ santi hoti, apihaṁ itthaṁ santi hoti, apihaṁ evaṁ santi hoti, apihaṁ aññathā santi hoti, bhavissanti hoti, itthaṁ bhavissanti hoti, evaṁ bhavissanti hoti, aññathā bhavissanti hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu dhūpāyati.
And how does a mendicant fume? When there is the concept ‘I am’, there are the concepts ‘I am such’, ‘I am thus’, ‘I am otherwise’; ‘I am fleeting’, ‘I am lasting’; ‘mine’, ‘such is mine’, ‘thus is mine’, ‘otherwise is mine’; ‘also mine’, ‘such is also mine’, ‘thus is also mine’, ‘otherwise is also mine’; ‘I will be’, ‘I will be such’, ‘I will be thus’, ‘I will be otherwise’. That’s how a mendicant fumes.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu bốc khói? Này các Tỳ-khưu, khi có (quan niệm) 'tôi là', (quan niệm) 'tôi là thế này' khởi lên, (quan niệm) 'tôi là như vậy' khởi lên, (quan niệm) 'tôi là khác' khởi lên, (quan niệm) 'tôi không thường hằng' khởi lên, (quan niệm) 'tôi thường hằng' khởi lên; (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là' khởi lên, (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là thế này' khởi lên, (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là như vậy' khởi lên, (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là khác' khởi lên; (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là' khởi lên, (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là thế này' khởi lên, (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là như vậy' khởi lên, (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là khác' khởi lên; (quan niệm) 'tôi sẽ là' khởi lên, (quan niệm) 'tôi sẽ là thế này' khởi lên, (quan niệm) 'tôi sẽ là như vậy' khởi lên, (quan niệm) 'tôi sẽ là khác' khởi lên. Này các Tỳ-khưu, như vậy là vị Tỳ-khưu bốc khói.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na dhūpāyati? Asmīti, bhikkhave, asati itthasmīti na hoti, evaṁsmīti na hoti, aññathāsmīti na hoti, asasmīti na hoti, satasmīti na hoti, santi na hoti, itthaṁ santi na hoti, evaṁ santi na hoti, aññathā santi na hoti, apihaṁ santi na hoti, apihaṁ itthaṁ santi na hoti, apihaṁ evaṁ santi na hoti, apihaṁ aññathā santi na hoti, bhavissanti na hoti, itthaṁ bhavissanti na hoti, evaṁ bhavissanti na hoti, aññathā bhavissanti na hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na dhūpāyati.
And how does a mendicant not fume? When there is no concept ‘I am’, there are no concepts ‘I am such’, ‘I am thus’, ‘I am otherwise’; ‘I am fleeting’, ‘I am lasting’; ‘mine’, ‘such is mine’, ‘thus is mine’, ‘otherwise is mine’; ‘also mine’, ‘such is also mine’, ‘thus is also mine’, ‘otherwise is also mine’; ‘I will be’, ‘I will be such’, ‘I will be thus’, ‘I will be otherwise’. That’s how a mendicant doesn’t fume.
Này các Tỳ-khưu, thế nào là vị Tỳ-khưu không bốc khói? Này các Tỳ-khưu, khi không có (quan niệm) 'tôi là', (quan niệm) 'tôi là thế này' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi là như vậy' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi là khác' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi không thường hằng' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi thường hằng' không khởi lên; (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là' không khởi lên, (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là thế này' không khởi lên, (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là như vậy' không khởi lên, (quan niệm) 'mong rằng tôi sẽ là khác' không khởi lên; (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là' không khởi lên, (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là thế này' không khởi lên, (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là như vậy' không khởi lên, (quan niệm) 'mong sao tôi sẽ là khác' không khởi lên; (quan niệm) 'tôi sẽ là' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi sẽ là thế này' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi sẽ là như vậy' không khởi lên, (quan niệm) 'tôi sẽ là khác' không khởi lên. Này các Tỳ-khưu, như vậy là vị Tỳ-khưu không bốc khói.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu pajjalati? Iminā asmīti, bhikkhave, sati iminā itthasmīti hoti, iminā evaṁsmīti hoti, iminā aññathāsmīti hoti, iminā asasmīti hoti, iminā satasmīti hoti, iminā santi hoti, iminā itthaṁ santi hoti, iminā evaṁ santi hoti, iminā aññathā santi hoti, iminā apihaṁ santi hoti, iminā apihaṁ itthaṁ santi hoti, iminā apihaṁ evaṁ santi hoti, iminā apihaṁ aññathā santi hoti, iminā bhavissanti hoti, iminā itthaṁ bhavissanti hoti, iminā evaṁ bhavissanti hoti, iminā aññathā bhavissanti hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pajjalati.
And how is a mendicant ignited? When there is the concept ‘I am because of this’, there are the concepts ‘I am such because of this’, ‘I am thus because of this’, ‘I am otherwise because of this’; ‘I am fleeting because of this’, ‘I am lasting because of this’; ‘mine because of this’, ‘such is mine because of this’, ‘thus is mine because of this’, ‘otherwise is mine because of this’; ‘also mine because of this’, ‘such is also mine because of this’, ‘thus is also mine because of this’, ‘otherwise is also mine because of this’; ‘I will be because of this’, ‘I will be such because of this’, ‘I will be thus because of this’, ‘I will be otherwise because of this’. That’s how a mendicant is ignited.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu bị bốc cháy? Này các Tỳ khưu, khi có (sự vật này), liền có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là bởi cái này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là như thế này bởi cái này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là giống như thế này bởi cái này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là khác đi bởi cái này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là không thường hằng bởi cái này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là thường hằng bởi cái này'. Có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là', có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là như thế này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là giống như thế này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là khác đi'. Có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là', có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là như thế này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là giống như thế này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là khác đi'. Có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là như thế này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là giống như thế này', có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là khác đi'. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu bị bốc cháy.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na pajjalati? Iminā asmīti, bhikkhave, asati iminā itthasmīti na hoti, iminā evaṁsmīti na hoti, iminā aññathāsmīti na hoti, iminā asasmīti na hoti, iminā satasmīti na hoti, iminā santi na hoti, iminā itthaṁ santi na hoti, iminā evaṁ santi na hoti, iminā aññathā santi na hoti, iminā apihaṁ santi na hoti, iminā apihaṁ itthaṁ santi na hoti, iminā apihaṁ evaṁ santi na hoti, iminā apihaṁ aññathā santi na hoti, iminā bhavissanti na hoti, iminā itthaṁ bhavissanti na hoti, iminā evaṁ bhavissanti na hoti, iminā aññathā bhavissanti na hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na pajjalati.
And how is a mendicant not ignited? When there is no concept ‘I am because of this’, there are no concepts ‘I am such because of this’, ‘I am thus because of this’, ‘I am otherwise because of this’; ‘I am fleeting because of this’, ‘I am lasting because of this’; ‘mine because of this’, ‘such is mine because of this’, ‘thus is mine because of this’, ‘otherwise is mine because of this’; ‘also mine because of this’, ‘such is also mine because of this’, ‘thus is also mine because of this’, ‘otherwise is also mine because of this’; ‘I will be because of this’, ‘I will be such because of this’, ‘I will be thus because of this’, ‘I will be otherwise because of this’. That’s how a mendicant is not ignited.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không bị bốc cháy? Này các Tỳ khưu, khi không có (sự vật này), liền không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là bởi cái này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là như thế này bởi cái này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là giống như thế này bởi cái này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là khác đi bởi cái này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là không thường hằng bởi cái này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi là thường hằng bởi cái này'. Không có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là như thế này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là giống như thế này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Mong rằng tôi sẽ là khác đi'. Không có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là như thế này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là giống như thế này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Ước gì tôi sẽ là khác đi'. Không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là như thế này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là giống như thế này', không có (sự chấp thủ) rằng: 'Tôi sẽ là khác đi'. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu không bị bốc cháy.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajjhāyati? Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno na hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajjhāyati.
And how does a mendicant burn up? It’s when a mendicant hasn’t given up the conceit ‘I am’, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant is burned up.
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu bị chìm đắm? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu có ngã mạn chưa được đoạn trừ, chưa được cắt đứt tận gốc, chưa được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, chưa được làm cho không còn hiện hữu, không có pháp không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu bị chìm đắm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na sampajjhāyati? Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu na sampajjhāyatī”ti.
Dasamaṁ.
And how does a mendicant not burn up? It’s when a mendicant has given up the conceit ‘I am’, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s how a mendicant is not burned up.”
Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không bị chìm đắm? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu có ngã mạn đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu không bị chìm đắm. (Kinh) thứ mười.
Mahāvaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lớn, thứ năm.
Sotānugataṁ ṭhānaṁ, Bhaddiya sāmugiya vappa sāḷhā ca; Mallika attantāpo, Taṇhā pemena ca dasā teti.
Sotānugata, Ṭhāna, Bhaddiya, Sāmugiya, Vappa, và Sāḷha; Mallikā, Attantāpa, Taṇhā, và Pema, đó là mười (kinh).
Catuttho mahāpaṇṇāsako samatto.
Năm mươi kinh lớn thứ tư đã hoàn tất.