- Aṅguttara Nikāya 4.193
- 20. Mahāvagga
Bản dịch
AN 4.193 — Bhaddiya
Bhaddiyasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli tại Mahàvana trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavii Bhaddiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavii Bhaddiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Là một nhà huyễn thuật, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: “Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo”, những người ấy, bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải họ trả lời về pháp hợp với chánh pháp? Và ai là vị đồng pháp, theo đồng môt quan điểm, không có lý do để chỉ trích? Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn”.
TTC 2—Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau”, thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!
TTC 3Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Lòng tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có tham, này Bhaddiya, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 4—Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, lòng sân … lòng si … lòng hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có lòng hung bạo, này Bhaddiya, bị hung bạo chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 5—Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là bất thiện, bạch Thế Tôn.
—Có tội hay không có tội?
—Có tội, bạch Thế Tôn.
—Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?
—Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.
—Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không, hay ở đây là thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp nhận, chúng đem lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.
TTC 6—Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt với những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau”, thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!”. Như vậy, đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.
TTC 7Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào ông tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này là không bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt và an trú.
TTC 8Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Không tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không tham, này Bhaddiya, không bị tham chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 9—Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, không sân … không si … không hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không có lòng hung bạo, này Bhaddiya, không bị hung bạo chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 10—Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là thiện, bạch Thế Tôn.
—Có tội hay không có tội?
—Không có tội, bạch Thế Tôn.
—Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?
—Ðược người có trí tán thán, bạch Thế Tôn.
—Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đem lại hạnh phúc an lạc không, hay ở đây là thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp nhận, Bạch Thế Tôn. chúng đem lại hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.
TTC 11—Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này được người có trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc và an lạc”, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt và an trú”. Ðiều này đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.
TTC 12Này Bhaddiya, tất cả những bậc Chân nhân tịch tịnh ở đời, khích lệ đệ tử như sau: “Hãy đến, này bạn! hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, bạn sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!”.
TTC 13Khi được nói như vậy, Bhaddiya người Licchavi bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
—Này Bhaddiya, Ta có nói với Ông như sau: “Hãy đến, này Bhaddiya; hãy đến làm đệ tử của Ta, này Bhaddiya! Ta sẽ là Ðạo sư (của Ông)” không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Như vậy, này Bhaddiya, những Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau, tuyên bố như sau, những vị ấy là không thiện, trống không, nói láo, xuyên tạc với điều không thật: “Là một huyễn thuật sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo!”.
—Bạch Thế Tôn, hiền thiện là huyễn thuật dụ dỗ này. Bạch Thế Tôn, hiền lành là huyễn thuật dụ dỗ này. Con mong rằng, bạch Thế Tôn, các bà con huyết thống thân ái của con được huyễn thuật dụ dỗ này dụ dỗ. Như vậy, những bà con huyết thống của con tất cả được hạnh phúc an lạc lâu dài! Bạch Thế Tôn, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Bạch Thế Tôn, nên tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả Thủ đà được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Thủ đà ấy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!
—Như vậy là phải, này Bhaddiya! Như vậy là phải, này Bhaddiya! Này Bhadiya, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được cám dỗ (với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Này Bhàddiya, nếu tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả mọi người Thủ đà được cám dỗ (với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Thủ đà được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!
Này Bhaddiya, nếu thế giới cùng với chư Thiên, Màra, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy chúng được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!
Này Bhaddiya, nếu các cây sala to lớn này được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả cây sala to lớn này được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài nếu chúng có thể suy nghĩ được, còn nói gì với con người!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.193
- 20. The Great Chapter
With Bhaddiya
3. Kinh Bhaddiya
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Atha kho bhaddiyo licchavi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bhaddiyo licchavi bhagavantaṁ etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then Bhaddiya the Licchavi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
193. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, Bhaddiya người Licchavi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bhaddiya người Licchavi bạch với Thế Tôn rằng:
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘māyāvī samaṇo gotamo āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī’ti. Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘māyāvī samaṇo gotamo āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī’ti, kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa ca anudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchati, anabbhakkhātukāmā hi mayaṁ, bhante, bhagavantan”ti?
“Sir, I have heard this: ‘The ascetic Gotama is deceitful. He knows a conversion trick, and uses it to convert the disciples of those of other religions.’ I trust those who say this repeat what the Buddha has said, and do not misrepresent him with an untruth? Is their explanation in line with the teaching? Are there any legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
‘Bạch Thế Tôn, con có nghe rằng: ‘Sa-môn Gotama là người có ma thuật, biết ma thuật quyến rũ, dùng ma thuật ấy để quyến rũ các đệ tử của các ngoại đạo.’ Bạch Thế Tôn, những người nói như vậy: ‘Sa-môn Gotama là người có ma thuật, biết ma thuật quyến rũ, dùng ma thuật ấy để quyến rũ các đệ tử của các ngoại đạo,’ có phải họ nói lên lời của Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, có giải thích pháp đúng với chánh pháp, và không có một luận điểm hợp pháp nào có thể bị chỉ trích không? Bạch Thế Tôn, vì chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn.
“Etha tumhe, bhaddiya, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā ‘samaṇo no garū’ti. Yadā tumhe, bhaddiya, attanāva jāneyyātha: ‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, bhaddiya, pajaheyyātha.
“Please, Bhaddiya, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think ‘The ascetic is our respected teacher.’ But when you know for yourselves: ‘These things are unskillful, blameworthy, criticized by sensible people, and when you undertake them, they lead to harm and suffering’, then you should give them up.
Này Bhaddiya, hãy đến đây. Chớ có tin vì nghe nói lại, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe đồn, chớ có tin vì được kinh điển truyền lại, chớ có tin vì do lý luận, chớ có tin vì do suy diễn, chớ có tin vì do xét đoán các khía cạnh, chớ có tin vì phù hợp với định kiến, chớ có tin vì thấy có vẻ hợp lý, chớ có tin vì nghĩ rằng ‘vị Sa-môn này là thầy của chúng ta.’ Này Bhaddiya, khi nào các ngươi tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê trách; các pháp này bị người trí chỉ trích; các pháp này khi được thực hành và chấp nhận, sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ,’ thì này Bhaddiya, các ngươi hãy từ bỏ chúng.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaddiya, lobho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Luddho panāyaṁ, bhaddiya, purisapuggalo lobhena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti yaṁsa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
What do you think, Bhaddiya? Does greed come up in a person for their welfare or harm?”
“Harm, sir.”
“A greedy individual, overcome by greed, kills living creatures, steals, commits adultery, lies, and encourages others to do the same. Is that for their lasting harm and suffering?”
“Yes, sir.”
Này Bhaddiya, ngươi nghĩ thế nào? Khi lòng tham khởi lên bên trong một người, nó khởi lên vì lợi ích hay bất hạnh? Bạch Thế Tôn, vì bất hạnh. Này Bhaddiya, một người tham lam, bị lòng tham chi phối, tâm bị chiếm đoạt, người ấy sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và còn khuyến khích người khác làm như vậy, điều đó sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho người ấy. Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaddiya, doso purisassa …pe… moho purisassa …pe… sārambho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Sāraddho panāyaṁ, bhaddiya, purisapuggalo sārambhena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti yaṁsa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“What do you think, Bhaddiya? Does hate … or delusion … or aggression come up in a person for their welfare or harm?”
“Harm, sir.”
“An aggressive individual kills living creatures, steals, commits adultery, lies, and encourages others to do the same. Is that for their lasting harm and suffering?”
“Yes, sir.”
Này Bhaddiya, ngươi nghĩ thế nào? Khi sân hận... si mê... sự tranh cạnh khởi lên bên trong một người, nó khởi lên vì lợi ích hay bất hạnh? Bạch Thế Tôn, vì bất hạnh. Này Bhaddiya, một người hay tranh cạnh, bị sự tranh cạnh chi phối, tâm bị chiếm đoạt, người ấy sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và còn khuyến khích người khác làm như vậy, điều đó sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho người ấy. Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaddiya, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Akusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Sāvajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññugarahitā, bhante”.
“Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti, no vā? Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti. Evaṁ no ettha hotī”ti.
“What do you think, Bhaddiya, are these things skillful or unskillful?”
“Unskillful, sir.”
“Blameworthy or blameless?”
“Blameworthy, sir.”
“Criticized or praised by sensible people?”
“Criticized by sensible people, sir.”
“When you undertake them, do they lead to harm and suffering, or not? Or how do you see this?”
“When you undertake them, they lead to harm and suffering. That’s how we see it.”
Này Bhaddiya, ngươi nghĩ thế nào? Các pháp này là thiện hay bất thiện? Bạch Thế Tôn, là bất thiện. Là đáng chê trách hay không đáng chê trách? Bạch Thế Tôn, là đáng chê trách. Bị người trí chỉ trích hay được người trí tán thán? Bạch Thế Tôn, bị người trí chỉ trích. Khi được thực hành và chấp nhận, chúng đưa đến bất hạnh và đau khổ, hay không? Ở đây, ý của các ngươi thế nào? Bạch Thế Tôn, khi được thực hành và chấp nhận, chúng đưa đến bất hạnh và đau khổ. Ở đây, ý của chúng con là như vậy.
“Iti kho, bhaddiya, yaṁ taṁ te avocumhā—etha tumhe, bhaddiya, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā ‘samaṇo no garū’ti. Yadā tumhe, bhaddiya, attanāva jāneyyātha: ‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti, atha tumhe, bhaddiya, pajaheyyāthā’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
“So, Bhaddiya, when we said: ‘Please, Bhaddiya, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think “The ascetic is our respected teacher.” But when you know for yourselves: “These things are unskillful, blameworthy, criticized by sensible people, and when you undertake them, they lead to harm and suffering”, then you should give them up.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này Bhaddiya, như vậy, lời mà chúng ta đã nói với các ông rằng: 'Này Bhaddiya, các ông hãy đến đây, chớ vội tin vì nghe nói lại, chớ vội tin vì theo truyền thống, chớ vội tin vì nghe đồn, chớ vội tin vì phù hợp kinh điển, chớ vội tin vì lý luận suông, chớ vội tin vì suy diễn, chớ vội tin vì cân nhắc các lý do, chớ vội tin vì phù hợp với định kiến đã được nghiền ngẫm, chớ vội tin vì người nói có vẻ đáng tin, chớ vội tin vì nghĩ rằng: 'Vị Sa-môn này là thầy của chúng ta'. Này Bhaddiya, khi nào các ông tự mình biết rõ: 'Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội lỗi, các pháp này bị người trí chê trách, các pháp này khi được thực hành và chấp nhận sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ', thì này Bhaddiya, các ông hãy từ bỏ chúng.' Lời đã được nói ra đó là do duyên vào điều này mà được nói.
Etha tumhe, bhaddiya, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā ‘samaṇo no garū’ti. Yadā tumhe, bhaddiya, attanāva jāneyyātha: ‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, bhaddiya, upasampajja vihareyyāthāti.
Please, Bhaddiya, don’t rely on oral transmission … But when you know for yourselves: ‘These things are skillful, blameless, praised by sensible people, and when you undertake them, they lead to welfare and happiness’, then you should acquire them and keep them.
Này Bhaddiya, các ông hãy đến đây, chớ vội tin vì nghe nói lại, chớ vội tin vì theo truyền thống, chớ vội tin vì nghe đồn, chớ vội tin vì phù hợp kinh điển, chớ vội tin vì lý luận suông, chớ vội tin vì suy diễn, chớ vội tin vì cân nhắc các lý do, chớ vội tin vì phù hợp với định kiến đã được nghiền ngẫm, chớ vội tin vì người nói có vẻ đáng tin, chớ vội tin vì nghĩ rằng: 'Vị Sa-môn này là thầy của chúng ta'. Này Bhaddiya, khi nào các ông tự mình biết rõ: 'Các pháp này là thiện, các pháp này là không có tội lỗi, các pháp này được người trí tán thán, các pháp này khi được thực hành và chấp nhận sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc', thì này Bhaddiya, các ông hãy thành tựu và an trú trong chúng.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaddiya, alobho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Hitāya, bhante”. “Aluddho panāyaṁ, bhaddiya, purisapuggalo lobhena anabhibhūto apariyādinnacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi tathattāya na samādapeti yaṁsa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. “Evaṁ, bhante”.
What do you think, Bhaddiya? Does contentment … love … understanding … benevolence come up in a person for their welfare or harm?”
Này Bhaddiya, các ông nghĩ thế nào về điều này? Vô tham, khi sanh khởi bên trong một người, sanh khởi vì hạnh phúc hay bất hạnh? – Bạch Thế Tôn, vì hạnh phúc. – Này Bhaddiya, người không tham lam này, với tâm không bị tham lam áp đảo, không bị chiếm đoạt, không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và cũng không khuyến khích người khác làm như vậy, điều đó có đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho người ấy không? – Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaddiya, adoso purisassa …pe… amoho purisassa …pe… asārambho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Hitāya, bhante”.
“Asāraddho panāyaṁ, bhaddiya, purisapuggalo sārambhena anabhibhūto apariyādinnacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi tathattāya na samādapeti yaṁsa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Welfare, sir.”
“An individual who is benevolent—not overcome by aggression—doesn’t kill living creatures, steal, commit adultery, lie, or encourage others to do the same. Is that for their lasting welfare and happiness?”
“Yes, sir.”
Này Bhaddiya, các ông nghĩ thế nào về điều này? Vô sân của một người… (vân vân)… vô si của một người… (vân vân)… không hung hăng của một người, khi sanh khởi bên trong, sanh khởi vì hạnh phúc hay bất hạnh? – Bạch Thế Tôn, vì hạnh phúc. – Này Bhaddiya, người không hung hăng này, với tâm không bị sự hung hăng áp đảo, không bị chiếm đoạt, không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và cũng không khuyến khích người khác làm như vậy, điều đó có đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho người ấy không? – Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaddiya, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Kusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Anavajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññuppasatthā, bhante”.
“Samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti no vā? Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti. Evaṁ no ettha hotī”ti.
“What do you think, Bhaddiya, are these things skillful or unskillful?”
“Skillful, sir.”
“Blameworthy or blameless?”
“Blameless, sir.”
“Criticized or praised by sensible people?”
“Praised by sensible people, sir.”
“When you undertake them, do they lead to welfare and happiness, or not? Or how do you see this?”
“When you undertake them, they lead to welfare and happiness. That’s how we see it.”
Này Bhaddiya, các ông nghĩ thế nào về điều này? Các pháp này là thiện hay bất thiện? – Bạch Thế Tôn, là thiện. – Là có tội lỗi hay không có tội lỗi? – Bạch Thế Tôn, là không có tội lỗi. – Bị người trí chê trách hay được người trí tán thán? – Bạch Thế Tôn, được người trí tán thán. – Khi được thực hành và chấp nhận, chúng đưa đến hạnh phúc và an lạc hay không? Ở đây, ý của các ông thế nào? – Bạch Thế Tôn, khi được thực hành và chấp nhận, chúng đưa đến hạnh phúc và an lạc. Ở đây, ý của chúng con là như vậy.
“Iti kho, bhaddiya, yaṁ taṁ te avocumhā—etha tumhe, bhaddiya, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā ‘samaṇo no garū’ti. Yadā tumhe, bhaddiya, attanāva jāneyyātha: ‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantīti, atha tumhe, bhaddiya, upasampajja vihareyyāthā’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
“So, Bhaddiya, when we said: ‘Please, Bhaddiya, don’t go by oral transmission, don’t go by lineage, don’t go by testament, don’t go by canonical authority, don’t rely on logic, don’t rely on inference, don’t go by reasoned train of thought, don’t go by the acceptance of a view after deliberation, don’t go by the appearance of competence, and don’t think “The ascetic is our respected teacher.” But when you know for yourselves: “These things are skillful, blameless, praised by sensible people, and when you undertake them, they lead to welfare and happiness”, then you should acquire them and keep them.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này Bhaddiya, như vậy, lời mà chúng ta đã nói với các ông rằng: 'Này Bhaddiya, các ông hãy đến đây, chớ vội tin vì nghe nói lại, chớ vội tin vì theo truyền thống, chớ vội tin vì nghe đồn, chớ vội tin vì phù hợp kinh điển, chớ vội tin vì lý luận suông, chớ vội tin vì suy diễn, chớ vội tin vì cân nhắc các lý do, chớ vội tin vì phù hợp với định kiến đã được nghiền ngẫm, chớ vội tin vì người nói có vẻ đáng tin, chớ vội tin vì nghĩ rằng: 'Vị Sa-môn này là thầy của chúng ta'. Này Bhaddiya, khi nào các ông tự mình biết rõ: 'Các pháp này là thiện, các pháp này là không có tội lỗi, các pháp này được người trí tán thán, các pháp này khi được thực hành và chấp nhận sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc', thì này Bhaddiya, các ông hãy thành tựu và an trú trong chúng.' Lời đã được nói ra đó là do duyên vào điều này mà được nói.
Ye kho te, bhaddiya, loke santo sappurisā te sāvakaṁ evaṁ samādapenti: ‘ehi tvaṁ, ambho purisa, lobhaṁ vineyya viharāhi. Lobhaṁ vineyya viharanto na lobhajaṁ kammaṁ karissasi kāyena vācāya manasā. Dosaṁ vineyya viharāhi. Dosaṁ vineyya viharanto na dosajaṁ kammaṁ karissasi kāyena vācāya manasā. Mohaṁ vineyya viharāhi. Mohaṁ vineyya viharanto na mohajaṁ kammaṁ karissasi kāyena vācāya manasā. Sārambhaṁ vineyya viharāhi. Sārambhaṁ vineyya viharanto na sārambhajaṁ kammaṁ karissasi kāyena vācāya manasā’”ti.
The good and true persons in the world encourage their disciples: ‘Please, my man, live rid of greed. Then you won’t act out of greed by way of body, speech, or mind. Live rid of hate … delusion … aggression. Then you won’t act out of hate … delusion … aggression by way of body, speech, or mind.”
Này Bhaddiya, những bậc chân nhân thanh tịnh nào có mặt ở trên đời, các vị ấy khuyến khích đệ tử như sau: 'Này thiện nam tử, hãy đến đây, hãy nhiếp phục tham và an trú. Khi an trú với tham đã được nhiếp phục, ngươi sẽ không làm nghiệp do tham sanh khởi qua thân, khẩu, ý. Hãy nhiếp phục sân và an trú. Khi an trú với sân đã được nhiếp phục, ngươi sẽ không làm nghiệp do sân sanh khởi qua thân, khẩu, ý. Hãy nhiếp phục si và an trú. Khi an trú với si đã được nhiếp phục, ngươi sẽ không làm nghiệp do si sanh khởi qua thân, khẩu, ý. Hãy nhiếp phục sự hung hăng và an trú. Khi an trú với sự hung hăng đã được nhiếp phục, ngươi sẽ không làm nghiệp do sự hung hăng sanh khởi qua thân, khẩu, ý.'
Evaṁ vutte, bhaddiyo licchavi bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he said this, Bhaddiya the Licchavi said to the Buddha, “Excellent, sir! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, người Licchavi tên Bhaddiya đã bạch với Thế Tôn lời này: 'Bạch Thế Tôn, thật vi diệu... (vân vân)... Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y trọn đời kể từ hôm nay.'
“Api nu tāhaṁ, bhaddiya, evaṁ avacaṁ: ‘ehi me tvaṁ, bhaddiya, sāvako hohi; ahaṁ satthā bhavissāmī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhaddiya, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti: ‘māyāvī samaṇo gotamo āvaṭṭaniṁ māyaṁ jānāti yāya aññatitthiyānaṁ sāvake āvaṭṭetī’”ti.
“Bhaddikā, bhante, āvaṭṭanī māyā. Kalyāṇī, bhante, āvaṭṭanī māyā. Piyā me, bhante, ñātisālohitā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ, piyānampi me assa ñātisālohitānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhante, khattiyā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhante, brāhmaṇā … vessā … suddā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Well, Bhaddiya, did I say to you: ‘Please, Bhaddiya, be my disciple, and I will be your teacher’?”
“No, sir.”
“Though I state and assert this, certain ascetics and brahmins misrepresent me with the incorrect, hollow, false, untruthful claim: ‘The ascetic Gotama is deceitful. He knows a conversion trick, and uses it to convert the disciples of those of other religions.’”
“Sir, this conversion trick is excellent. This conversion trick is lovely! If my loved ones—relatives and kin—were to be converted by this, it would be for their lasting welfare and happiness. If all the aristocrats, brahmins, peasants, and menials were to be converted by this, it would be for their lasting welfare and happiness.”
“Này Bhaddiya, Ta có nói với ngươi như vầy chăng: ‘Này Bhaddiya, hãy đến đây, ngươi hãy làm đệ tử của Ta; Ta sẽ là bậc Đạo Sư’?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Này Bhaddiya, Ta có quan điểm như vậy, có thuyết giảng như vậy, (thế mà) một số Sa-môn, Bà-la-môn đã vu khống Ta bằng điều không thật, trống rỗng, dối trá, không có thực rằng: ‘Sa-môn Gotama là người xảo trá, biết ma thuật lôi kéo, dùng ma thuật ấy để lôi kéo các đệ tử của ngoại đạo’.” – “Bạch Thế Tôn, ma thuật lôi kéo ấy thật là tốt đẹp. Bạch Thế Tôn, ma thuật lôi kéo ấy thật là thiện lành. Bạch Thế Tôn, mong rằng những người thân quyến huyết thống thân yêu của con được lôi kéo bởi ma thuật lôi kéo này. Điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho những người thân quyến huyết thống thân yêu của con. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả Sát-đế-lỵ được lôi kéo bởi ma thuật lôi kéo này, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho tất cả Sát-đế-lỵ. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả Bà-la-môn... Phệ-xá... Thủ-đà được lôi kéo bởi ma thuật lôi kéo này, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho tất cả Thủ-đà.”
“Evametaṁ, bhaddiya, evametaṁ, bhaddiya. Sabbe cepi, bhaddiya, khattiyā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ akusaladhammappahānāya kusaladhammūpasampadāya, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhaddiya, brāhmaṇā … vessā … suddā āvaṭṭeyyuṁ akusaladhammappahānāya kusaladhammūpasampadāya, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sadevako cepi, bhaddiya, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ akusaladhammappahānāya kusaladhammūpasampadāya, sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Ime cepi, bhaddiya, mahāsālā imāya āvaṭṭaniyā āvaṭṭeyyuṁ akusaladhammappahānāya kusaladhammūpasampadāya, imesampissa mahāsālānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya (…). Ko pana vādo manussabhūtassā”ti.
Tatiyaṁ.
“That’s so true, Bhaddiya! That’s so true, Bhaddiya! If all the aristocrats, brahmins, peasants, and menials were to be converted by this, it would be for their lasting welfare and happiness. If the whole world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—were to be converted by this, for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities, it would be for their lasting welfare and happiness. If these great sal trees were to be converted by this, for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities, it would be for their lasting welfare and happiness—if they were sentient. How much more then a human being!”
“Này Bhaddiya, đúng vậy! Này Bhaddiya, đúng vậy! Này Bhaddiya, nếu tất cả Sát-đế-lỵ được lôi kéo bởi ma thuật lôi kéo này để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho tất cả Sát-đế-lỵ. Này Bhaddiya, nếu tất cả Bà-la-môn... Phệ-xá... Thủ-đà được lôi kéo để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho tất cả Thủ-đà. Này Bhaddiya, nếu thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người được lôi kéo bởi ma thuật lôi kéo này để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Này Bhaddiya, nếu cả những cây Sāla lớn này được lôi kéo bởi ma thuật lôi kéo này để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc lâu dài cho cả những cây Sāla lớn này. Huống nữa là con người.” Hết kinh thứ ba.