- Aṅguttara Nikāya 4.187
- 19. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 4.187 — Vassakàra
Vassakārasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Bà-la-môn Vassakàra, một đại thần nước Magadha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi. Sau khi nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi thân hữu, Bà-la-môn Vassakàra, bậc đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, bậc không phải chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”?
—Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.
TTC 2—Thưa Tôn giả Gotama, bậc không phải chân nhân có thể biết bậc chân nhân là: “Vị này là bậc chân nhân”?
—Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”.
TTC 3—Thưa Tôn giả Gotama, bậc chân nhân có thể biết một bậc chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”?
—Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”.
TTC 4—Nhưng thưa Tôn giả Gotama, có trường hợp một người chân nhân biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”?
—Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.
TTC 5—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật khéo là lời nói này của Tôn giả Gotama: “Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”. Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.
TTC 6Một thời, thưa Tôn giả Gotama, hội chúng của Bà-la-môn Todeyya đang nói lên những lời nhiếc mắng người khác như sau: “Ngu si là vua Eleyya, đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện. Lại nữa, những tập đoàn này của vua Eleyya là ngu si, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa. Những người này đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện”.
—Này Bà-la-môn, Ông có thấy như thế nào Bà-la-môn Todeyya dẫn dắt chúng bằng cách dắt dẫn này: “Các vị nghĩ thế nào, hiền trí là vua Eleyya? Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, có phải vua Eleyya được xem là vị có minh kiến thù thắng?”
—Thưa vâng, Tôn giả! Hiền trí là vua Eleyya. Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, vua Eleyya được xem là vị có minh kiến thù thắng. Vì rằng Sa-môn Ràmaputta còn hiền trí hơn sự hiền trí, còn có minh kiến thù thắng hơn sự minh kiến thù thắng của vua Eleyya, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích; do vậy vua Eleyya đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện.
—Các Tôn giả nghĩ thế nào “Hiền trí là tập đoàn của vua Eleyya, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa không? Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, có phải tập đoàn của vua Eleyya là những bậc có minh kiến thù thắng?
—Thưa vâng, Tôn giả! Hiền trí là tập đoàn của vua Eleyya, như Yamaka, Moggalla, Ugga, Nàvindaki, Gandhabba, Aggivessa. Giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề cần được giải thích, tập đoàn của vua Eleyya được xem là những bậc có minh kiến thù thắng. Vì rằng Sa-môn Ràmaputta được xem còn hiền trí hơn sự hiền trí, còn có minh kiến thù thắng hơn sự minh kiến thù thắng của tập đoàn vua Eleyya, giữa những người có minh kiến giải quyết những vấn đề tranh chấp, giữa những người có minh kiến giải thích những vấn đề cần được giải thích; do vậy tập đoàn của vua Eleyya đã quá hoan hỷ với Sa-môn Ràmaputta, đã làm những cử chỉ hết sức hạ liệt như sau đối với Sa-môn Ràmaputta, tức là đảnh lễ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, đối xử thân thiện.
TTC 7—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật khéo là lời nói này của Tôn giả Gotama: “Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải bậc chân nhân có thể biết một người không phải chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”. Không có trường hợp này, này Bà-la-môn, không có cơ hội để một người không phải bậc chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người chân nhân: “Vị này là bậc chân nhân”. Có trường hợp, này Bà-la-môn, có cơ hội để một người chân nhân có thể biết một người không phải là chân nhân: “Vị này không phải là bậc chân nhân”.
Thưa Tôn giả Gotama, nay chúng tôi phải đi, chúng tôi có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.
—Này Bà-la-môn, Ông hãy làm những gì mà Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Bà-la-môn Vassakàra, một đại thần xứ Magadha, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.187
- 19. Brahmins
With Vassakāra
7. Kinh Vassakāra
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then Vassakāra the brahmin, a chief minister of Magadha, went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
187. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong vườn Trúc Lâm, nơi cho sóc ăn. Khi ấy, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng Đức Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, bạch với Đức Thế Tôn điều này:
“Jāneyya nu kho, bho gotama, asappuriso asappurisaṁ: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ asappuriso asappurisaṁ jāneyya: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti.
“Jāneyya pana, bho gotama, asappuriso sappurisaṁ: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Etampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ anavakāso yaṁ asappuriso sappurisaṁ jāneyya: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti.
“Jāneyya nu kho, bho gotama, sappuriso sappurisaṁ: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Ṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, vijjati yaṁ sappuriso sappurisaṁ jāneyya: ‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti.
“Jāneyya pana, bho gotama, sappuriso asappurisaṁ: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Etampi kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ vijjati yaṁ sappuriso asappurisaṁ jāneyya: ‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti.
“Worthy Gotama, could an untrue person know of an untrue person: ‘This worthy one is an untrue person’?”
“That’s impossible, brahmin, it can’t happen.”
“Could an untrue person know of a true person: ‘This worthy one is a true person’?”
“That too is impossible, it can’t happen.”
“Worthy Gotama, could a true person know of a true person: ‘This worthy one is a true person’?”
“That, brahmin, is possible.”
“Could a true person know of an untrue person: ‘This worthy one is an untrue person’?”
“That too is possible.”
“Thưa Tôn giả Gotama, người không phải chân nhân có thể biết được người không phải chân nhân: ‘Vị này là người không phải chân nhân’ chăng?” “Này Bà-la-môn, không có lý do, không có cơ hội để người không phải chân nhân biết được người không phải chân nhân: ‘Vị này là người không phải chân nhân’.” “Thưa Tôn giả Gotama, người không phải chân nhân có thể biết được bậc chân nhân: ‘Vị này là bậc chân nhân’ chăng?” “Này Bà-la-môn, cũng không có lý do, không có cơ hội để người không phải chân nhân biết được bậc chân nhân: ‘Vị này là bậc chân nhân’.” “Thưa Tôn giả Gotama, bậc chân nhân có thể biết được bậc chân nhân: ‘Vị này là bậc chân nhân’ chăng?” “Này Bà-la-môn, có lý do, có cơ hội để bậc chân nhân biết được bậc chân nhân: ‘Vị này là bậc chân nhân’.” “Thưa Tôn giả Gotama, bậc chân nhân có thể biết được người không phải chân nhân: ‘Vị này là người không phải chân nhân’ chăng?” “Này Bà-la-môn, cũng có lý do, có cơ hội để bậc chân nhân biết được người không phải chân nhân: ‘Vị này là người không phải chân nhân’.”
“Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāva subhāsitañcidaṁ bhotā gotamena: ‘aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ asappuriso asappurisaṁ jāneyya—asappuriso ayaṁ bhavanti. Etampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ anavakāso yaṁ asappuriso sappurisaṁ jāneyya—sappuriso ayaṁ bhavanti. Ṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, vijjati yaṁ sappuriso sappurisaṁ jāneyya—sappuriso ayaṁ bhavanti. Etampi kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ vijjati yaṁ sappuriso asappurisaṁ jāneyya—asappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Ekamidaṁ, bho gotama, samayaṁ todeyyassa brāhmaṇassa parisati parūpārambhaṁ vattenti: ‘bālo ayaṁ rājā eḷeyyo samaṇe rāmaputte abhippasanno, samaṇe ca pana rāmaputte evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karoti, yadidaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammanti. Imepi rañño eḷeyyassa parihārakā bālā—yamako moggallo uggo nāvindakī gandhabbo aggivesso, ye samaṇe rāmaputte abhippasannā, samaṇe ca pana rāmaputte evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karonti, yadidaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikamman’ti.
“It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing, how well said this was by the worthy Gotama: ‘It’s impossible, it can’t happen, that an untrue person could know … But it is possible that a true person could know …’
Once, members of the brahmin Todeyya’s assembly were going on complaining about others: ‘This King Eḷeyya is a fool to be so devoted to the ascetic Rāmaputta. He even shows him the utmost deference by bowing down to him, rising up for him, greeting him with cupped palms, and observing proper etiquette for him. And these king’s men are fools too—Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, and Aggivessa—for they show the same kind of deference to Rāmaputta.’
“Thưa Tôn giả Gotama, thật vi diệu! Thưa Tôn giả Gotama, thật hy hữu! Lời này đã được Tôn giả Gotama khéo nói biết bao: ‘Này Bà-la-môn, không có lý do, không có cơ hội để người không phải chân nhân biết được người không phải chân nhân: ‘Vị này là người không phải chân nhân’. Này Bà-la-môn, cũng không có lý do, không có cơ hội để người không phải chân nhân biết được bậc chân nhân: ‘Vị này là bậc chân nhân’. Này Bà-la-môn, có lý do, có cơ hội để bậc chân nhân biết được bậc chân nhân: ‘Vị này là bậc chân nhân’. Này Bà-la-môn, cũng có lý do, có cơ hội để bậc chân nhân biết được người không phải chân nhân: ‘Vị này là người không phải chân nhân’.”
“Thưa Tôn giả Gotama, có một thời, trong hội chúng của Bà-la-môn Todeyya, họ đã nói lời chỉ trích người khác: ‘Vua Eḷeyyo này thật ngu dốt, đã rất tín thành với Sa-môn Rāmaputta, và còn thực hành sự khiêm hạ tột bậc đối với Sa-môn Rāmaputta, tức là đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, cung kính.’ Cả những người hầu cận của vua Eḷeyyo này cũng ngu dốt — Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, Aggivessa — họ cũng rất tín thành với Sa-môn Rāmaputta, và cũng thực hành sự khiêm hạ tột bậc đối với Sa-môn Rāmaputta, tức là đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, cung kính.’ Khi ấy, Bà-la-môn Todeyya đã giải thích cho họ theo cách này: ‘Thưa quý vị, quý vị nghĩ sao? Vua Eḷeyyo là người hiền trí, trong những việc nên làm và những việc cần làm hơn nữa, trong những lời nên nói và những lời cần nói hơn nữa, có phải ngài có khả năng thấy được lợi ích hơn những người có khả năng thấy được lợi ích khác không?’ ‘Thưa ngài, đúng vậy. Vua Eḷeyyo là người hiền trí, trong những việc nên làm và những việc cần làm hơn nữa, trong những lời nên nói và những lời cần nói hơn nữa, ngài có khả năng thấy được lợi ích hơn những người có khả năng thấy được lợi ích khác.’”
Yasmā ca kho, bho, samaṇo rāmaputto raññā eḷeyyena paṇḍitena paṇḍitataro karaṇīyādhikaraṇīyesu vacanīyādhivacanīyesu alamatthadasatarena alamatthadasataro, tasmā rājā eḷeyyo samaṇe rāmaputte abhippasanno, samaṇe ca pana rāmaputte evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karoti, yadidaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ’.
‘It’s because the ascetic Rāmaputta is even more astute and expert than King Eḷeyya that the king is so devoted to him. That’s why he even shows Rāmaputta the utmost deference by bowing down to him, rising up for him, greeting him with cupped palms, and observing proper etiquette for him.
Này các ngài, bởi vì sa-môn Rāmaputta so với vua Eḷeyya là người trí tuệ, lại còn trí tuệ hơn, trong các công việc cần làm và các công việc cần làm một cách vượt trội, trong các lời nói cần nói và các lời nói cần nói một cách vượt trội, và có khả năng thấy được lợi ích hơn cả những người có khả năng thấy được lợi ích nhất, do đó vua Eḷeyya rất hoan hỷ với sa-môn Rāmaputta, và đối với sa-môn Rāmaputta, vua thực hiện hành vi khiêm hạ tột bậc như thế này, đó là đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, và thể hiện sự tôn kính.
‘Taṁ kiṁ maññanti, bhonto, paṇḍitā rañño eḷeyyassa parihārakā—yamako moggallo uggo nāvindakī gandhabbo aggivesso, karaṇīyādhikaraṇīyesu vacanīyādhivacanīyesu alamatthadasatarehi alamatthadasatarā’ti? ‘Evaṁ, bho, paṇḍitā rañño eḷeyyassa parihārakā—yamako moggallo uggo nāvindakī gandhabbo aggivesso, karaṇīyādhikaraṇīyesu vacanīyādhivacanīyesu alamatthadasatarehi alamatthadasatarāti.
‘What do the good fellows think? When it comes to the various duties and speeches, aren’t the king’s men—Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, and Aggivessa—astute, even better than the experts?’ ‘That’s true, worthy sir.’
Này các ngài, các ngài nghĩ sao? Các vị cận thần trí tuệ của vua Eḷeyya – Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, Aggivessa – trong các công việc cần làm và các công việc cần làm một cách vượt trội, trong các lời nói cần nói và các lời nói cần nói một cách vượt trội, có khả năng thấy được lợi ích hơn cả những người có khả năng thấy được lợi ích nhất chăng? ‘Thưa ngài, đúng vậy. Các vị cận thần trí tuệ của vua Eḷeyya – Yamaka, Moggalla, Ugga, Nāvindakī, Gandhabba, Aggivessa – trong các công việc cần làm và các công việc cần làm một cách vượt trội, trong các lời nói cần nói và các lời nói cần nói một cách vượt trội, có khả năng thấy được lợi ích hơn cả những người có khả năng thấy được lợi ích nhất.’
Yasmā ca kho, bho, samaṇo rāmaputto rañño eḷeyyassa parihārakehi paṇḍitehi paṇḍitataro karaṇīyādhikaraṇīyesu vacanīyādhivacanīyesu alamatthadasatarehi alamatthadasataro, tasmā rañño eḷeyyassa parihārakā samaṇe rāmaputte abhippasannā; samaṇe ca pana rāmaputte evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karonti, yadidaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikamman’ti.
‘It’s because Rāmaputta is even more astute and expert than the king’s men that they have such devotion to him. … It’s because Rāmaputta is even more astute and expert than King Eḷeyya that the king is so devoted to him. That’s why he even shows Rāmaputta the utmost deference by bowing down to him, rising up for him, greeting him with cupped palms, and observing proper etiquette for him.’
Này các ngài, bởi vì sa-môn Rāmaputta so với các vị cận thần trí tuệ của vua Eḷeyya lại còn trí tuệ hơn, trong các công việc cần làm và các công việc cần làm một cách vượt trội, trong các lời nói cần nói và các lời nói cần nói một cách vượt trội, và có khả năng thấy được lợi ích hơn cả những người có khả năng thấy được lợi ích nhất, do đó các vị cận thần của vua Eḷeyya rất hoan hỷ với sa-môn Rāmaputta; và đối với sa-môn Rāmaputta, họ thực hiện hành vi khiêm hạ tột bậc như thế này, đó là đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, và thể hiện sự tôn kính.
Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāva subhāsitañcidaṁ bhotā gotamena: ‘aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ asappuriso asappurisaṁ jāneyya—asappuriso ayaṁ bhavanti. Etampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ anavakāso yaṁ asappuriso sappurisaṁ jāneyya—sappuriso ayaṁ bhavanti. Ṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, vijjati yaṁ sappuriso sappurisaṁ jāneyya—sappuriso ayaṁ bhavanti. Etampi kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ vijjati yaṁ sappuriso asappurisaṁ jāneyya—asappuriso ayaṁ bhavan’ti. Handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma. Bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, brāhmaṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmīti.
Sattamaṁ.
It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing, how well said this was by the worthy Gotama: ‘It’s impossible, it can’t happen, that an untrue person could know … But it is possible that a true person could know …’ Well, now, worthy Gotama, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, brahmin, go at your convenience.”
Then Vassakāra the brahmin, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat and left.
Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Lời này đã được Tôn giả Gotama khéo nói biết bao: ‘Này Bà-la-môn, không có lý do, không có cơ hội để người xấu biết được người xấu: ‘Vị này là người xấu’. Này Bà-la-môn, cũng không có lý do, không có cơ hội để người xấu biết được người tốt: ‘Vị này là người tốt’. Này Bà-la-môn, có lý do, có cơ hội để người tốt biết được người tốt: ‘Vị này là người tốt’. Này Bà-la-môn, cũng có lý do, có cơ hội để người tốt biết được người xấu: ‘Vị này là người xấu’. Thôi, bây giờ chúng con xin đi, thưa Tôn giả Gotama. Chúng con có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.’ ‘Này Bà-la-môn, nay ông hãy làm những gì ông cho là phải thời.’ Bấy giờ, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Magadha, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Hết kinh thứ bảy.