- Aṅguttara Nikāya 4.124
- 13. Bhayavagga
Bản dịch
AN 4.124 — Các Hạng Người Sai Khác (2)
Dutiyanānākaraṇasutta
TTC 1—Có bốn hạng người này, này các Tỷ kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly ác pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người làm cho tịnh chỉ tầm và tứ … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … Thiền thứ tư và an trú. Vị ấy, ở đây về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc trưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng các hàng phàm phu.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.124
- 13. Fears
Difference (2nd)
4. Kinh Về Sự Sai Khác Thứ Hai
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ, te dhamme aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā suddhāvāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ, bhikkhave, upapatti asādhāraṇā puthujjanehi.
“Mendicants, these four individuals are found in the world. What four?
Take an individual who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the pure abodes. This rebirth is distinct from that of ordinary people.
124. Này các Tỳ khưu, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở trên đời. Thế nào là bốn? Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người, do ly dục... (như trên)... chứng và trú thiền thứ nhất. Bất cứ những gì ở đấy thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, vị ấy quán các pháp ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là tai họa, là bệnh tật, là ngoại vật, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư thiên ở Tịnh Cư Thiên (Suddhāvāsa). Này các Tỳ khưu, sự tái sanh này không phải là chung cho các phàm phu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco puggalo vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ, te dhamme aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā suddhāvāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ, bhikkhave, upapatti asādhāraṇā puthujjanehi.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Catutthaṁ.
Furthermore, take an individual who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption … third absorption … fourth absorption … They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the pure abodes. This rebirth is distinct from that of ordinary people.
These are the four individuals found in the world.”
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người, do làm cho lắng dịu tầm và tứ... (như trên)... chứng và trú thiền thứ hai... (như trên)... thiền thứ ba... (như trên)... chứng và trú thiền thứ tư. Bất cứ những gì ở đấy thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, vị ấy quán các pháp ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là tai họa, là bệnh tật, là ngoại vật, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư thiên ở Tịnh Cư Thiên. Này các Tỳ khưu, sự tái sanh này không phải là chung cho các phàm phu. Này các Tỳ khưu, bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở trên đời. Hết phẩm thứ tư.