- Aṅguttara Nikāya 4.122
- 13. Bhayavagga
Bản dịch
AN 4.122 — Sóng Biển
Ūmibhayasutta
TTC 1—Có bốn sự sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi với người đi xuống nước. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ. Có bốn sự sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi với người đi xuống nước.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, đối với một số thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, có bốn sự sợ hãi được chờ đợi. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về sóng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta nay bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo: “Thầy cần phải đi ra như vậy, Thầy cần phải đi về như vậy, Thầy cần phải ngó tới như vậy, Thầy cần phải ngó quanh như vậy. Thầy cần phải co tay như vậy, Thầy cần phải duỗi tay như vậy, Thầy cần phải mang y sanghati như vậy, mang bát y như vậy”. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, khi chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyên giáo người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng ta, cần phải khuyên giáo chúng ta”. Vị ấy phẫn nộ, không hoan hỷ, từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này được gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi về sóng. Này các Tỷ Kheo sợ hãi về sóng là đồng nghĩa với phẫn não. Này các Tỷ Kheo đây gọi là sợ hãi về sóng.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá sấu?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta nay bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo: “Thầy cần phải nhai cái này, Thầy không nên nhai cái này; Thầy nên ăn cái này, Thầy không nên ăn cái này; Thầy nên nếm cái này, Thầy không nên nếm cái này; Thầy nên uống cái này, Thầy không nên uống cái này. Cái gì Thầy được phép, Thầy nên nhai; cái gì Thầy không được phép, Thầy không nên nhai. Cái gì được phép, Thầy nên ăn; cái gì không được phép, Thầy không nên ăn. Cái gì được phép, Thầy nên nếm, cái gì không được phép, Thầy không nên nếm. Cái gì được phép, Thầy nên uống, cái gì không được phép, Thầy không nên uống. Đúng thời, Thầy nên nhai; không đúng thời, Thầy không nên nhai. Đúng thời, Thầy nên ăn; không đúng thời, Thầy không nên ăn. Đúng thời, Thầy nên nếm; không đúng thời, Thầy không nên nếm. Đúng thời, Thầy nên uống; không đúng thời, Thầy không nên uống”. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, khi chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta ăn; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không ăn. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nếm. Cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được phép, chúng ta nhai; cái gì không được phép, chúng ta cũng nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn; cái gì không được phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm; cái gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép, chúng ta uống; cái gì không được phép, chúng ta cũng uống. Cái gì đúng thời, chúng ta nhai; cái gì không đúng thời, chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn; cái gì không đúng thời, chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm; cái gì không đúng thời, chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời, chúng ta uống; cái gì không đúng thời, chúng ta cũng uống. Khi các gia đình có tín tâm cúng dường chúng ta ban ngày, phi thời, những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, hình như những món này, chúng ta bị chận đứng lại trên miệng”. Như vậy, vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Này các Tỷ kheo, đây được gọi là vị Tỷ kheo bị sợ hãi với sự sợ hãi về cá sấu, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tham ăn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sự sợ hãi về cá sấu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về nước xoáy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta nay bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không phòng hộ, hưởng thụ được cung cấp đầy đủ, được thực hiện năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã hưởng thọ, được cung cấp đầy đủ, được thực hiện năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong đó. Vì nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các công đức”. Vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về nước xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi về nước xoáy.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá dữ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Vị này thấy ở đây những phụ nữ mặc y phục không đoan chánh hay đắp y phục không đoan chánh. Khi thấy những phụ nữ mặc y phục không đoan chánh hay đắp y phục không đoan chánh, ái dục phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị ái dục phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá dữ, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ nữ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sợ hãi về cá dữ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn sự sợ hãi này, ở đây, một số thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.122
- 13. Fears
The Danger of Waves
2. Kinh Về Sự Sợ Hãi Sóng
“Cattārimāni, bhikkhave, bhayāni udakorohantassa pāṭikaṅkhitabbāni. Katamāni cattāri? Ūmibhayaṁ, kumbhīlabhayaṁ, āvaṭṭabhayaṁ, susukābhayaṁ—
Imāni kho, bhikkhave, cattāri bhayāni udakorohantassa pāṭikaṅkhitabbāni. Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattāri bhayāni idhekaccassa kulaputtassa imasmiṁ dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa pāṭikaṅkhitabbāni. Katamāni cattāri? Ūmibhayaṁ, kumbhīlabhayaṁ, āvaṭṭabhayaṁ, susukābhayaṁ.
“Mendicants, anyone who enters the water should anticipate four dangers. What four? The dangers of waves, gharials, whirlpools, and sharks.
These are the four dangers that anyone who enters the water should anticipate. In the same way, a gentleman gone forth from the lay life to homelessness in this teaching and training should anticipate four dangers. What four? The dangers of waves, gharials, whirlpools, and sharks.
122. “Này các Tỳ khưu, có bốn sự sợ hãi này mà người xuống nước phải đối mặt. Bốn là gì? Sợ hãi sóng, sợ hãi cá sấu, sợ hãi xoáy nước, sợ hãi cá mập – này các Tỳ khưu, đây là bốn sự sợ hãi mà người xuống nước phải đối mặt. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, có bốn sự sợ hãi mà một thiện nam tử, đã từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật này, phải đối mặt. Bốn là gì? Sợ hãi sóng, sợ hãi cá sấu, sợ hãi xoáy nước, sợ hãi cá mập.
Katamañca, bhikkhave, ūmibhayaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto; appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. Tamenaṁ tathā pabbajitaṁ samānaṁ sabrahmacārino ovadanti anusāsanti: ‘evaṁ te abhikkamitabbaṁ, evaṁ te paṭikkamitabbaṁ, evaṁ te āloketabbaṁ, evaṁ te viloketabbaṁ, evaṁ te samiñjitabbaṁ, evaṁ te pasāritabbaṁ, evaṁ te saṅghāṭipattacīvaraṁ dhāretabban’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘mayaṁ kho pubbe agāriyabhūtā samānā aññe ovadāmapi anusāsāmapi. Ime panamhākaṁ puttamattā maññe nattamattā maññe ovaditabbaṁ anusāsitabbaṁ maññantī’ti. So kupito anattamano sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu ūmibhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto. Ūmibhayanti kho, bhikkhave, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, ūmibhayaṁ.
And what, mendicants, is the danger of waves? It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking: ‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering. Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’ When they’ve gone forth, their spiritual companions advise and instruct them: ‘You should go out like this, and come back like that. You should look to the front like this, and to the side like that. You should contract your limbs like this, and extend them like that. This is how you should bear your outer robe, bowl, and robes.’ They think: ‘Formerly, as laypeople, we advised and instructed others. And now these mendicants—who you’d think were our children or grandchildren—imagine they can advise and instruct us!’ Angry and upset, they resign the training and return to a lesser life. This is called a mendicant who resigns the training and returns to a lesser life for fear of the danger of waves. ‘Danger of waves’ is a term for anger and distress. This is called the danger of waves.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sự sợ hãi sóng dữ? Này các Tỳ khưu, ở đây, có thiện gia nam tử do có lòng tin nên đã từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm ngập bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến!’ Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, được các vị đồng phạm hạnh khuyên dạy và chỉ bảo rằng: ‘Thầy phải đi tới như thế này, thầy phải đi lui như thế này, thầy phải nhìn thẳng như thế này, thầy phải liếc nhìn như thế này, thầy phải co tay như thế này, thầy phải duỗi tay như thế này, thầy phải mang y Tăng-già-lê, bát, và y như thế này.’ Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, khi còn là người tại gia, chúng ta đã từng khuyên dạy và chỉ bảo người khác. Còn những vị này, ta nghĩ họ chỉ đáng tuổi con, tuổi cháu của chúng ta, mà lại cho rằng cần phải khuyên dạy và chỉ bảo chúng ta.’ Vị ấy tức giận, không hài lòng, từ bỏ học pháp và hoàn tục trở về đời sống thấp kém. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người sợ hãi sóng dữ, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục trở về đời sống thấp kém. Này các Tỳ khưu, ‘sự sợ hãi sóng dữ’ chính là một tên gọi khác của sự tức giận và phiền muộn. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự sợ hãi sóng dữ.”
Katamañca, bhikkhave, kumbhīlabhayaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto; appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. Tamenaṁ tathā pabbajitaṁ samānaṁ sabrahmacārino ovadanti anusāsanti: ‘idaṁ te khāditabbaṁ, idaṁ te na khāditabbaṁ, idaṁ te bhuñjitabbaṁ, idaṁ te na bhuñjitabbaṁ, idaṁ te sāyitabbaṁ, idaṁ te na sāyitabbaṁ, idaṁ te pātabbaṁ, idaṁ te na pātabbaṁ, kappiyaṁ te khāditabbaṁ, akappiyaṁ te na khāditabbaṁ, kappiyaṁ te bhuñjitabbaṁ, akappiyaṁ te na bhuñjitabbaṁ, kappiyaṁ te sāyitabbaṁ, akappiyaṁ te na sāyitabbaṁ, kappiyaṁ te pātabbaṁ, akappiyaṁ te na pātabbaṁ, kāle te khāditabbaṁ, vikāle te na khāditabbaṁ, kāle te bhuñjitabbaṁ, vikāle te na bhuñjitabbaṁ, kāle te sāyitabbaṁ, vikāle te na sāyitabbaṁ, kāle te pātabbaṁ, vikāle te na pātabban’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘mayaṁ kho pubbe agāriyabhūtā samānā yaṁ icchāma taṁ khādāma, yaṁ na icchāma na taṁ khādāma; yaṁ icchāma taṁ bhuñjāma, yaṁ na icchāma na taṁ bhuñjāma; yaṁ icchāma taṁ sāyāma, yaṁ na icchāma na taṁ sāyāma; yaṁ icchāma taṁ pivāma, yaṁ na icchāma na taṁ pivāma; kappiyampi khādāma akappiyampi khādāma kappiyampi bhuñjāma akappiyampi bhuñjāma kappiyampi sāyāma akappiyampi sāyāma kappiyampi pivāma akappiyampi pivāma, kālepi khādāma vikālepi khādāma kālepi bhuñjāma vikālepi bhuñjāma kālepi sāyāma vikālepi sāyāma kālepi pivāma vikālepi pivāma; yampi no saddhā gahapatikā divā vikāle paṇītaṁ khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā denti, tatrapime mukhāvaraṇaṁ maññe karontī’ti. So kupito anattamano sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu kumbhīlabhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto. Kumbhīlabhayanti kho, bhikkhave, odarikattassetaṁ adhivacanaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, kumbhīlabhayaṁ.
And what, mendicants, is the danger of gharials? It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness … When they’ve gone forth, their spiritual companions advise and instruct them: ‘You may eat, consume, taste, and drink these things, but not those. You may eat what’s allowable, but not what’s unallowable. You may eat at the right time, but not at the wrong time.’ They think: ‘Formerly, as laypeople, we used to eat, consume, taste, and drink what we wanted, not what we didn’t want. We ate and drank both allowable and unallowable things, at the right time and the wrong time. And these faithful householders give us delicious fresh and cooked foods at the wrong time of day. But these guys imagine they can gag our mouths!’ Angry and upset, they resign the training and return to a lesser life. This is called a mendicant who resigns the training and returns to a lesser life for fear of the danger of gharials. ‘Danger of gharials’ is a term for gluttony. This is called the danger of gharials.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sự sợ hãi cá sấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, có thiện gia nam tử do có lòng tin nên đã từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm ngập bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến!’ Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, được các vị đồng phạm hạnh khuyên dạy và chỉ bảo rằng: ‘Thầy nên ăn món này, không nên ăn món này; thầy nên dùng món này, không nên dùng món này; thầy nên nếm món này, không nên nếm món này; thầy nên uống món này, không nên uống món này. Thầy nên ăn vật thích hợp, không nên ăn vật không thích hợp; thầy nên dùng vật thích hợp, không nên dùng vật không thích hợp; thầy nên nếm vật thích hợp, không nên nếm vật không thích hợp; thầy nên uống vật thích hợp, không nên uống vật không thích hợp. Thầy nên ăn đúng thời, không nên ăn phi thời; thầy nên dùng đúng thời, không nên dùng phi thời; thầy nên nếm đúng thời, không nên nếm phi thời; thầy nên uống đúng thời, không nên uống phi thời.’ Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, khi còn là người tại gia, chúng ta muốn ăn gì thì ăn nấy, không muốn ăn gì thì không ăn; muốn dùng gì thì dùng nấy, không muốn dùng gì thì không dùng; muốn nếm gì thì nếm nấy, không muốn nếm gì thì không nếm; muốn uống gì thì uống nấy, không muốn uống gì thì không uống. Chúng ta ăn cả vật thích hợp lẫn vật không thích hợp; dùng cả vật thích hợp lẫn vật không thích hợp; nếm cả vật thích hợp lẫn vật không thích hợp; uống cả vật thích hợp lẫn vật không thích hợp. Chúng ta ăn cả đúng thời lẫn phi thời; dùng cả đúng thời lẫn phi thời; nếm cả đúng thời lẫn phi thời; uống cả đúng thời lẫn phi thời. Ngay cả khi các gia chủ có lòng tin cúng dường chúng ta những món ăn cứng, món ăn mềm ngon hảo hạng vào ban ngày, vào lúc phi thời, thì ở đây, ta nghĩ rằng họ như đang bịt miệng chúng ta lại.’ Vị ấy tức giận, không hài lòng, từ bỏ học pháp và hoàn tục trở về đời sống thấp kém. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người sợ hãi cá sấu, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục trở về đời sống thấp kém. Này các Tỳ khưu, ‘sự sợ hãi cá sấu’ chính là một tên gọi khác của sự tham ăn. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự sợ hãi cá sấu.”
Katamañca, bhikkhave, āvaṭṭabhayaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi, dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇo dukkhapareto; appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi. So tattha passati gahapatiṁ vā gahapatiputtaṁ vā pañcahi kāmaguṇehi samappitaṁ samaṅgībhūtaṁ paricārayamānaṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘mayaṁ kho pubbe agāriyabhūtā samānā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārimhā; saṁvijjanti kho pana me kule bhogā. Sakkā bhoge ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Yannūnāhaṁ sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjeyyaṁ puññāni ca kareyyan’ti. So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu āvaṭṭabhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto. Āvaṭṭabhayanti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, āvaṭṭabhayaṁ.
And what, mendicants, is the danger of whirlpools? It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness … When they’ve gone forth, they robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There they see a householder or their child amusing themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. They think: ‘Formerly, as laypeople, we amused ourselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. And it’s true that my family is wealthy. I can both enjoy my wealth and make merit. Why don’t I resign the training and return to a lesser life, so I can enjoy my wealth and make merit?’ They resign the training and return to a lesser life. This is called a mendicant who resigns the training and returns to a lesser life for fear of the danger of whirlpools. ‘Danger of whirlpools’ is a term for the five kinds of sensual stimulation. This is called the danger of whirlpools.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sự sợ hãi xoáy nước? Này các Tỳ khưu, ở đây, có thiện gia nam tử do có lòng tin nên đã từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, suy nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm ngập bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm ngập trong đau khổ, bị đau khổ chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến!’ Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực, với thân không được phòng hộ, lời nói không được phòng hộ, tâm không được phòng hộ, niệm không được an trú, các căn không được chế ngự. Ở đó, vị ấy thấy một gia chủ hoặc con của gia chủ đang thụ hưởng, vui đùa với năm dục trưởng dưỡng. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước đây, khi còn là người tại gia, chúng ta đã từng thụ hưởng, vui đùa với năm dục trưởng dưỡng. Hơn nữa, trong gia đình ta vẫn còn tài sản. Ta có thể vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các việc phước đức. Hay là ta từ bỏ học pháp, hoàn tục trở về đời sống thấp kém để vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các việc phước đức!’ Vị ấy từ bỏ học pháp và hoàn tục trở về đời sống thấp kém. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người sợ hãi xoáy nước, đã từ bỏ học pháp và hoàn tục trở về đời sống thấp kém. Này các Tỳ khưu, ‘sự sợ hãi xoáy nước’ chính là một tên gọi khác của năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự sợ hãi xoáy nước.”
Katamañca, bhikkhave, susukābhayaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti: ‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto; appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. So evaṁ pabbajito samāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi. So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā. Tassa mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti. So rāgānuddhaṁsitena cittena sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu susukābhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto. Susukābhayanti kho, bhikkhave, mātugāmassetaṁ adhivacanaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, susukābhayaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri bhayāni idhekaccassa kulaputtassa imasmiṁ dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa pāṭikaṅkhitabbānī”ti.
Dutiyaṁ.
And what, mendicants, is the danger of sharks? It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness … When they’ve gone forth, they robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There they see a lady scantily clad, with revealing clothes. Lust infects their mind, so they resign the training and return to a lesser life. This is called a mendicant who resigns the training and returns to a lesser life because they’re afraid of the danger of sharks. ‘Danger of sharks’ is a term for ladies. This is called the danger of sharks.
These are the four dangers that a gentleman gone forth from the lay life to homelessness in this teaching and training should anticipate.”
“Này các Tỳ khưu, thế nào là nỗi sợ hãi cá sấu? Này các Tỳ khưu, ở đây, có thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: ‘Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ lấn át, bị khổ chi phối. Mong rằng có thể chấm dứt được toàn bộ khối khổ này!’ Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, vào làng hoặc thị trấn để khất thực, với thân không được phòng hộ, lời nói không được phòng hộ, tâm không được phòng hộ, niệm không được an trú, các căn không được chế ngự. Ở đó, vị ấy thấy người phụ nữ ăn mặc hở hang hoặc che đậy không kín đáo. Khi thấy người phụ nữ ăn mặc hở hang hoặc che đậy không kín đáo, tham ái khuấy động tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái khuấy động, từ bỏ học giới, hoàn tục về đời thấp hèn. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người sợ hãi nỗi sợ cá sấu, đã từ bỏ học giới, hoàn tục về đời thấp hèn. Này các Tỳ khưu, ‘nỗi sợ hãi cá sấu’ chính là tên gọi khác của người phụ nữ. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là nỗi sợ hãi cá sấu. Này các Tỳ khưu, đây là bốn nỗi sợ hãi mà một thiện nam tử, trong Pháp và Luật này, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cần phải lường trước.” Hết kinh thứ hai.