- Aṅguttara Nikāya 4.110
- 11. Valāhakavagga
Bản dịch
AN 4.110 — Các Con Rắn
Āsīvisasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn. Thế nào là bốn?
Loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc; loại ác độc nhưng không nọc độc; loại có nọc độc và ác độc; loại không có nọc độc, không có ác độc. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn độc này.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại rắn này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Hạng người có nọc độc nhưng không ác độc; hạng người ác độc nhưng không nọc độc; hạng người có nọc độc, có ác độc; hạng người không có nọc độc, không có ác độc.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc… giống như ví dụ ấy.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc và có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ và phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc và có ác độc… giống như ví dụ ấy.
TTC 6Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không có nọc độc và không có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ và phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có nọc độc, và không có ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn không có nọc độc, không có ác độc ấy, Ta nói rằng, hạng người này giống như ví dụ ấy.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.110
- 11. Clouds
Vipers
10. Kinh Rắn Độc
“Cattārome, bhikkhave, āsīvisā. Katame cattāro?
- Āgataviso na ghoraviso,
- ghoraviso na āgataviso,
- āgataviso ca ghoraviso ca,
- nevāgataviso na ghoraviso—
Ime kho, bhikkhave, cattāro āsīvisā. Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattāro āsīvisūpamā puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
- Āgataviso na ghoraviso,
- ghoraviso na āgataviso,
- āgataviso ca ghoraviso ca,
- nevāgataviso na ghoraviso.
Kathañca, bhikkhave, puggalo āgataviso hoti, na ghoraviso? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhiṇhaṁ kujjhati. So ca khvassa kodho na dīgharattaṁ anuseti. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo āgataviso hoti, na ghoraviso.
“Mendicants, there are these four kinds of viper. What four?
- One whose venom is fast-acting but not lethal,
- one whose venom is lethal but not fast-acting,
- one whose venom is both fast-acting and lethal, and
- one whose venom is neither fast-acting nor lethal.
These are the four kinds of viper. In the same way, these four individuals similar to vipers are found in the world. What four?
- One whose venom is fast-acting but not lethal,
- one whose venom is lethal but not fast-acting,
- one whose venom is both fast-acting and lethal, and
- one whose venom is neither fast-acting nor lethal.
And how is an individual’s venom fast-acting but not lethal? It’s when an individual is often angry, but their anger doesn’t linger long. That’s how an individual’s venom is fast-acting but not lethal.
110. “Này các Tỳ khưu, có bốn loại rắn độc này. Bốn loại nào? Rắn có nọc độc phát tác nhanh nhưng không kịch độc, rắn có nọc độc kịch độc nhưng không phát tác nhanh, rắn có nọc độc vừa phát tác nhanh vừa kịch độc, và rắn có nọc độc không phát tác nhanh cũng không kịch độc – này các Tỳ khưu, đây là bốn loại rắn độc. Tương tự như vậy, này các Tỳ khưu, có bốn hạng người ví như rắn độc đang hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào? Người có nọc độc phát tác nhanh nhưng không kịch độc, người có nọc độc kịch độc nhưng không phát tác nhanh, người có nọc độc vừa phát tác nhanh vừa kịch độc, và người có nọc độc không phát tác nhanh cũng không kịch độc.”
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người có nọc độc phát tác nhanh nhưng không kịch độc? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người thường hay phẫn nộ. Nhưng cơn phẫn nộ của người ấy không tồn tại lâu dài. Này các Tỳ khưu, như vậy là người có nọc độc phát tác nhanh nhưng không kịch độc. Này các Tỳ khưu, ví như con rắn kia có nọc độc phát tác nhanh nhưng không kịch độc; này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng có ví dụ tương tự như vậy.”
Kathañca, bhikkhave, puggalo ghoraviso hoti, na āgataviso? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho abhiṇhaṁ kujjhati. So ca khvassa kodho dīgharattaṁ anuseti. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo ghoraviso hoti, na āgataviso. Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso ghoraviso, na āgataviso; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
And how is an individual’s venom lethal but not fast-acting? It’s when an individual is not often angry, but their anger lingers for a long time.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người có nọc độc kịch độc nhưng không phát tác nhanh? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người không thường hay phẫn nộ. Nhưng cơn phẫn nộ của người ấy lại tồn tại lâu dài. Này các Tỳ khưu, như vậy là người có nọc độc kịch độc nhưng không phát tác nhanh. Này các Tỳ khưu, ví như con rắn kia có nọc độc kịch độc nhưng không phát tác nhanh; này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng có ví dụ tương tự như vậy.”
Kathañca, bhikkhave, puggalo āgataviso ca hoti ghoraviso ca? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhiṇhaṁ kujjhati. So ca khvassa kodho dīgharattaṁ anuseti. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo āgataviso ca hoti ghoraviso ca. Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso āgataviso ca ghoraviso ca; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
And how is an individual’s venom both fast-acting and lethal? It’s when an individual is often angry, and their anger lingers for a long time.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người có nọc độc vừa phát tác nhanh vừa kịch độc? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người thường hay phẫn nộ. Và cơn phẫn nộ của người ấy lại tồn tại lâu dài. Này các Tỳ khưu, như vậy là người có nọc độc vừa phát tác nhanh vừa kịch độc. Này các Tỳ khưu, ví như con rắn kia có nọc độc vừa phát tác nhanh vừa kịch độc; này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng có ví dụ tương tự như vậy.”
Kathañca, bhikkhave, puggalo nevāgataviso hoti na ghoraviso? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho abhiṇhaṁ kujjhati. So ca khvassa kodho na dīgharattaṁ anuseti. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo nevāgataviso hoti, na ghoraviso. Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso nevāgataviso na ghoraviso; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ime kho, bhikkhave, cattāro āsīvisūpamā puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Dasamaṁ.
And how is an individual’s venom neither fast-acting nor lethal? It’s when an individual is not often angry, and their anger doesn’t linger long.
These four individuals similar to vipers are found in the world.”
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người có nọc độc không phát tác nhanh cũng không kịch độc? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người không thường hay phẫn nộ. Và cơn phẫn nộ của người ấy không tồn tại lâu dài. Này các Tỳ khưu, như vậy là người có nọc độc không phát tác nhanh cũng không kịch độc. Này các Tỳ khưu, ví như con rắn kia có nọc độc không phát tác nhanh cũng không kịch độc; này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng có ví dụ tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, bốn hạng người ví như rắn độc này đang hiện hữu, có mặt ở trên đời.” (Kinh) thứ mười.
Valāhakavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Mây, thứ nhất.
Dve valāhā kumbha udaka, rahadā dve honti ambāni; Mūsikā balībaddā rukkhā, āsīvisena te dasāti.
Hai (kinh) về mây, (kinh) về bình, (kinh) về hồ nước, hai (kinh) về xoài; (kinh) về chuột, (kinh) về bò đực, (kinh) về cây, và (kinh) về rắn độc, như vậy là mười (kinh).