- Aṅguttara Nikāya 3.77
- 8. Ānandavagga
Bản dịch
AN 3.77 — Tư và Khởi Ðiểm
Dutiyabhavasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
(như kinh trên cho đến) …
—Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên tư được an lập, khởi điểm được an lập trong giới thấp kém. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.
(Ðoạn còn lại như kinh trên, chỉ khác “thức” được “tư” và “khởi điểm” thay thế) …
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.77
- 8. Ānanda
Continued Existence (2nd)
7. Kinh Hữu (Thứ Hai)
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“bhavo, bhavoti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, bhavo hotī”ti?
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of this thing called ‘continued existence’. How is continued existence defined?”
78. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn... ...Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, được gọi là 'hữu, hữu'. Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì có hữu?"
“Kāmadhātuvepakkañca, ānanda, kammaṁ nābhavissa, api nu kho kāmabhavo paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Iti kho, ānanda, kammaṁ khettaṁ, viññāṇaṁ bījaṁ, taṇhā sneho. Avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ hīnāya dhātuyā cetanā patiṭṭhitā patthanā patiṭṭhitā evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hoti.
“If, Ānanda, there were no deeds to result in the sensual realm, would continued existence in the sensual realm still come about?”
“No, sir.”
“So, Ānanda, deeds are the field, consciousness is the seed, and craving is the moisture. The intention and aim of sentient beings—shrouded by ignorance and fettered by craving—is established in a lower realm. That’s how there is regeneration into a new state of existence in the future.
“Này Ānanda, nếu nghiệp có quả dị thục ở cõi Dục không hiện hữu, thì Dục hữu có thể được biết đến chăng?” “Bạch Thế Tôn, điều ấy không thể được.” “Này Ānanda, chính vì thế, nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là chất ẩm. Đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, tư được an lập, nguyện được an lập ở trong hạ giới. Như vậy, sự tái sanh vào đời sau được hiện hữu.”
Rūpadhātuvepakkañca, ānanda, kammaṁ nābhavissa, api nu kho rūpabhavo paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Iti kho, ānanda, kammaṁ khettaṁ, viññāṇaṁ bījaṁ, taṇhā sneho. Avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ majjhimāya dhātuyā cetanā patiṭṭhitā patthanā patiṭṭhitā evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hoti.
If there were no deeds to result in the realm of luminous form, would continued existence in the realm of luminous form still come about?”
“No, sir.”
“So, Ānanda, deeds are the field, consciousness is the seed, and craving is the moisture. The intention and aim of sentient beings—shrouded by ignorance and fettered by craving—is established in a middle realm. That’s how there is regeneration into a new state of existence in the future.
“Này Ānanda, nếu nghiệp có quả dị thục ở cõi Sắc không hiện hữu, thì Sắc hữu có thể được biết đến chăng?” “Bạch Thế Tôn, điều ấy không thể được.” “Này Ānanda, chính vì thế, nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là chất ẩm. Đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, tư được an lập, nguyện được an lập ở trong trung giới. Như vậy, sự tái sanh vào đời sau được hiện hữu.”
Arūpadhātuvepakkañca, ānanda, kammaṁ nābhavissa, api nu kho arūpabhavo paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Iti kho, ānanda, kammaṁ khettaṁ, viññāṇaṁ bījaṁ, taṇhā sneho. Avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ paṇītāya dhātuyā cetanā patiṭṭhitā patthanā patiṭṭhitā evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hoti. Evaṁ kho, ānanda, bhavo hotī”ti.
Sattamaṁ.
If there were no deeds to result in the formless realm, would continued existence in the formless realm still come about?”
“No, sir.”
“So, deeds are the field, consciousness is the seed, and craving is the moisture. The intention and aim of sentient beings—shrouded by ignorance and fettered by craving—is established in a higher realm. That’s how there is regeneration into a new state of existence in the future. That’s how continued existence is defined.”
“Này Ānanda, nếu nghiệp có quả dị thục ở cõi Vô Sắc không hiện hữu, thì Vô Sắc hữu có thể được biết đến chăng?” “Bạch Thế Tôn, điều ấy không thể được.” “Này Ānanda, chính vì thế, nghiệp là thửa ruộng, thức là hạt giống, ái là chất ẩm. Đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, tư được an lập, nguyện được an lập ở trong thượng giới. Như vậy, sự tái sanh vào đời sau được hiện hữu. Này Ānanda, sự hiện hữu là như vậy đó.” (Kinh thứ bảy)