- Aṅguttara Nikāya 3.74
- 8. Ānandavagga
Bản dịch
AN 3.74 — Vị Lõa Thể
Nigaṇṭhasutta
TTC 1Một thời, Tôn giả Ananda trú tại Vesàli, rừng Ðại Lâm, trong ngôi giảng đường có góc nhọn. Rồi Abhaya người Licchavi và Panditakumàrako người Licchiva, đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Abhaya người Licchiva thưa với Tôn giả Ananda:
—Niganthà Nàthaputta, thưa Tôn giả, tự cho là toàn tri, toàn kiến, có tri kiến toàn diện: “Khi ta đi, ta đứng, ta ngủ, ta thức, tri kiến luôn luôn được an trú, không có gián đoạn”. Vị ấy tuyên bố chấm dứt các nghiệp cũ với khổ hạnh, và phá hoại các nghiệp mới với vô vi (không hành động). Như vậy, do nghiệp đoạn diệt nên khổ đoạn diệt; do khổ đoạn diệt nên thọ đoạn diệt; do thọ đoạn diệt nên tất cả khổ sẽ được tiêu diệt. Như vậy là (pháp môn) siêu thoát, thanh tịnh, diệt nhiệt não, thiết thực hiện tại. Ở đây, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói thế nào?
TTC 2—Này Abhaya, có ba (pháp môn) thanh tịnh, diệt nhiệt não, được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh tuyên bố, khiến chúng sanh được thanh tịnh, khiến vượt qua sầu bi, khiến chấm dứt khổ ưu, khiến đạt được chánh lý, khiến chứng được Niết bàn. Thế nào là ba?
Ở đây, này Abhaya, vị Tỷ-kheo giữ giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Vị ấy không làm các nghiệp mới, và với các nghiệp cũ ảnh hưởng đến mình, chấm dứt các nghiệp ấy. Ðây là (sự thanh tịnh thứ nhất), thiết thực hiện tại, diệt nhiệt não, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Vị Tỷ-kheo ấy, này Abhaya, đầy đủ với giới như vậy, ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền … Thiền thứ hai .. Thiền thứ ba … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy không làm các nghiệp mới, và với các nghiệp cũ ảnh hưởng đến mình, chấm dứt các nghiệp ấy. Ðây là (sự thanh tịnh thứ hai), thiết thực hiện tại, diệt nhiệt não, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Vị Tỷ-kheo ấy, này Abhaya, đầy đủ với giới như vậy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy không làm các nghiệp mới, và với các nghiệp cũ ảnh hưởng đến mình, chấm dứt các nghiệp ấy. Ðây là (sự thanh tịnh thứ ba), thiết thực hiện tại, diệt nhiệt não, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Này Abhaya, có ba sự thanh tịnh, diệt nhiệt não này, được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh tuyên bố, khiến chúng sanh được thanh tịnh, vượt qua sầu bi, chấm dứt ưu khổ, đạt được chánh lý, chứng được Niết bàn.
TTC 3—Khi được nói như vậy, Panditakumàrako người Licchavi nói với Abhaya người Licchavi:
—Này bạn Abhaya, bạn có tín thọ lời khéo nói của Tôn giả Ananda là khéo nói không?
—Này bạn, tôi là ai lại không tín thọ lời khéo nói của Tôn giả Ananda là khéo nói. Ðầu người ấy sẽ vỡ tan, nếu ai không tín thọ lời khéo nói của Tôn giả Ananda là khéo nói.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.74
- 8. Ānanda
Jains
4. Kinh Nigaṇṭha
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Atha kho abhayo ca licchavi paṇḍitakumārako ca licchavi yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho abhayo licchavi āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti: ‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti. So purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvaṁ paññāpeti navānaṁ kammānaṁ akaraṇā setughātaṁ. Iti kammakkhayā dukkhakkhayo, dukkhakkhayā vedanākkhayo, vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissati—evametissā sandiṭṭhikāya nijjarāya visuddhiyā samatikkamo hoti. Idha, bhante, bhagavā kimāhā”ti?
At one time Venerable Ānanda was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then the Licchavis Abhaya and Paṇḍitakumāra went up to Venerable Ānanda, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, the Jain ascetic of the Ñātika clan claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus: ‘Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.’ He advocates the elimination of past deeds by fervent mortification, and breaking the bridge by not doing any new deeds. So with the ending of deeds, suffering ends; with the ending of suffering, feeling ends; and with the ending of feeling, all suffering will have been worn away. This is how to go beyond suffering by means of this purification by wearing away in the present life. What, sir, does the Buddha say about this?”
75. Một thời, Tôn giả Ānanda trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có nóc nhọn. Bấy giờ, Licchavi Abhaya và Licchavi Paṇḍitakumāraka đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Licchavi Abhaya nói với Tôn giả Ānanda điều này: Thưa Tôn giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến, tuyên bố có tri kiến không còn dư sót: ‘Khi ta đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến luôn luôn, liên tục hiện khởi nơi ta.’ Vị ấy chế định sự chấm dứt nghiệp cũ bằng khổ hạnh, và sự ngăn chặn do không tạo nghiệp mới. Như vậy, do nghiệp diệt nên khổ diệt; do khổ diệt nên thọ diệt; do thọ diệt nên tất cả khổ sẽ được tiêu mòn. Như thế, sự vượt qua (vòng luân hồi) xảy ra nhờ sự thanh tịnh bằng cách làm tiêu mòn (phiền não) có thể thấy ngay. Thưa Tôn giả, về vấn đề này, Thế Tôn nói như thế nào?
“Tisso kho imā, abhaya, nijjarā visuddhiyo tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya. Katamā tisso?
Idha, abhaya, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti. Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhīti.
“Abhaya, these three kinds of purification by wearing away have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment. What three?
It’s when, Abhaya, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little. This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Này Abhaya, có ba sự thanh tịnh làm tiêu mòn (phiền não) này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy khéo thuyết giảng, để thanh tịnh chúng sanh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đạt chánh trí, để giác ngộ Niết-bàn. Thế nào là ba? Này Abhaya, ở đây vị Tỳ khưu có giới hạnh... (v.v.)... thọ trì và thực hành các học giới. Vị ấy không tạo nghiệp mới, và làm cho nghiệp cũ chấm dứt dần dần. Sự tiêu mòn (phiền não) này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Sa kho so, abhaya, bhikkhu evaṁ sīlasampanno vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti. Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhīti.
Sa kho so, abhaya, bhikkhu evaṁ samādhisampanno āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. So navañca kammaṁ na karoti, purāṇañca kammaṁ phussa phussa byantīkaroti. Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhīti.
Then a mendicant accomplished in ethics, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little. This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Then a mendicant accomplished in immersion realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. They don’t perform any new deeds, and old deeds are eliminated by experiencing their results little by little. This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
Này Abhaya, vị Tỳ khưu ấy, sau khi đã đầy đủ giới như vậy, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, diệt trừ hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy không tạo nghiệp mới, và làm cho nghiệp cũ chấm dứt dần dần. Sự tiêu mòn (phiền não) này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Imā kho, abhaya, tisso nijjarā visuddhiyo tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātā sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
These are the three kinds of purification by wearing away that have been rightly explained by the Buddha … in order to realize extinguishment.”
Này Abhaya, vị Tỳ khưu ấy, sau khi đã đầy đủ định như vậy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc. Vị ấy không tạo nghiệp mới, và làm cho nghiệp cũ chấm dứt dần dần. Sự tiêu mòn (phiền não) này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này Abhaya, đây là ba sự thanh tịnh làm tiêu mòn (phiền não) đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy khéo thuyết giảng, để thanh tịnh chúng sanh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đạt chánh trí, để giác ngộ Niết-bàn.
Evaṁ vutte, paṇḍitakumārako licchavi abhayaṁ licchaviṁ etadavoca: “kiṁ pana tvaṁ, samma abhaya, āyasmato ānandassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodasī”ti?
“Kyāhaṁ, samma paṇḍitakumāraka, āyasmato ānandassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodissāmi. Muddhāpi tassa vipateyya yo āyasmato ānandassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā”ti.
Catutthaṁ.
When he said this, Paṇḍitakumāra said to Abhaya, “Dear Abhaya, is there anything in what Ānanda has said so well that you would disagree with?”
“How could I not agree with what was said so well by Ānanda? If anyone didn’t agree with him, their head would explode!”
Khi được nói như vậy, hoàng tử Paṇḍitakumāraka người Licchavi nói với hoàng tử Abhaya người Licchavi điều này: "Này hiền hữu Abhaya, tại sao hiền hữu không hoan hỷ tán thán lời khéo nói của Tôn giả Ānanda là lời khéo nói?" "Này hiền hữu Paṇḍitakumāraka, tại sao tôi lại không hoan hỷ tán thán lời khéo nói của Tôn giả Ānanda là lời khéo nói chứ! Đầu của người nào không hoan hỷ tán thán lời khéo nói của Tôn giả Ānanda là lời khéo nói, có thể bị vỡ ra." (Kinh) thứ tư.