- Aṅguttara Nikāya 3.53
- 6. Brāhmaṇavagga
Bản dịch
AN 3.53 — Vị Bà-La-Môn
Aññatarabrāhmaṇasutta
Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
—Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
—Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Bị sân làm uế nhiễm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Sân được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Bị si làm cho mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.53
- 6. Brahmins
A Certain Brahmin
3. Kinh Một Vị Bà-la-môn Khác
Atha kho aññataro brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi …pe… ekamantaṁ nisinno kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“‘sandiṭṭhiko dhammo sandiṭṭhiko dhammo’ti, bho gotama, vuccati. Kittāvatā nu kho, bho gotama, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti?
Then a brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. Seated to one side he said to the Buddha:
“Worthy Gotama, they speak of ‘a teaching apparent in the present life’. In what way is the teaching apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”
54. Bấy giờ, một vị Bà-la-môn đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng với Thế Tôn nói lên những lời chào đón hỏi thăm... vân vân... Sau khi ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch với Thế Tôn lời này: ‘Thưa Tôn giả Gotama, được nói rằng: “Pháp là thiết thực hiện tại, Pháp là thiết thực hiện tại.” Thưa Tôn giả Gotama, cho đến mức độ nào, Pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?’
“Ratto kho, brāhmaṇa, rāgena abhibhūto pariyādinnacitto attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Rāge pahīne nevattabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti, na cetasikaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Ratto kho …pe… kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati.
“A greedy person, overcome and overwhelmed by greed, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They experience mental pain and sadness. When greed has been given up, they don’t intend to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They don’t experience mental pain and sadness.
‘Này Bà-la-môn, người tham ái, bị tham ái chinh phục, tâm bị xâm chiếm, suy nghĩ làm hại mình, suy nghĩ làm hại người, suy nghĩ làm hại cả hai, và cảm thọ khổ ưu thuộc về tâm. Khi tham ái được đoạn tận, vị ấy không suy nghĩ làm hại mình, không suy nghĩ làm hại người, không suy nghĩ làm hại cả hai, và không cảm thọ khổ ưu thuộc về tâm. (Người tham ái... vân vân... làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Khi tham ái được đoạn tận, vị ấy không làm ác hạnh về thân, không làm ác hạnh về lời, không làm ác hạnh về ý. Người tham ái... vân vân... không biết như thật lợi ích của mình, không biết như thật lợi ích của người, không biết như thật lợi ích của cả hai. Khi tham ái được đoạn tận, vị ấy biết như thật lợi ích của mình, biết như thật lợi ích của người, biết như thật lợi ích của cả hai.) Này Bà-la-môn, như vậy Pháp là thiết thực hiện tại... vân vân...
‘Này Bà-la-môn, người tham ái, bị tham ái chinh phục, tâm bị xâm chiếm, làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Khi tham ái được đoạn tận, vị ấy không làm ác hạnh về thân, không làm ác hạnh về lời, không làm ác hạnh về ý.
Duṭṭho kho, brāhmaṇa, dosena abhibhūto pariyādinnacitto attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Dose pahīne nevattabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti, na cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti.
A hateful person, overcome by hate, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They experience mental pain and sadness. When hate has been given up, they don’t intend to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They don’t experience mental pain and sadness.
‘Này Bà-la-môn, người tham ái, bị tham ái chinh phục, tâm bị xâm chiếm, không biết như thật lợi ích của mình, không biết như thật lợi ích của người, không biết như thật lợi ích của cả hai. Khi tham ái được đoạn tận, vị ấy biết như thật lợi ích của mình, biết như thật lợi ích của người, biết như thật lợi ích của cả hai. Này Bà-la-môn, như vậy Pháp là thiết thực hiện tại... vân vân...
Mūḷho kho, brāhmaṇa, mohena abhibhūto pariyādinnacitto attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Mohe pahīne nevattabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti, na cetasikaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti.
A deluded person, overcome by delusion, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They experience mental pain and sadness. When delusion has been given up, they don’t intend to hurt themselves, hurt others, and hurt both. They don’t experience mental pain and sadness.
"Này Bà-la-môn, người bị sân hận... (lược)... Này Bà-la-môn, người si mê, bị si chi phối, tâm bị xâm chiếm, có ý định làm hại mình, có ý định làm hại người, có ý định làm hại cả hai, và cảm thọ nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Khi si đã được đoạn tận, vị ấy không có ý định làm hại mình, không có ý định làm hại người, không có ý định làm hại cả hai, và không cảm thọ nỗi khổ ưu thuộc về tâm."
"Này Bà-la-môn, người si mê, bị si chi phối, tâm bị xâm chiếm, không biết như thật lợi ích của mình, không biết như thật lợi ích của người, không biết như thật lợi ích của cả hai. Khi si đã được đoạn tận, vị ấy biết như thật lợi ích của mình, biết như thật lợi ích của người, biết như thật lợi ích của cả hai. Này Bà-la-môn, Pháp là như vậy, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình liễu tri."
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Tatiyaṁ.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
"Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!... (lược)... Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là người cận sự nam đã quy y cho đến trọn đời, kể từ hôm nay." Hết kinh thứ tư.