- Aṅguttara Nikāya 3.30
- 3. Puggalavagga
Bản dịch
AN 3.30 — Lộn Ngược
Avakujjasutta
—Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ lộn ngược? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo, các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị lộn ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … không có tác ý đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ lộn ngược.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … Người ấy, tại chỗ ngồi ấy … có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có trí tuệ rộng lớn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè được dựng đứng, nước chứa trong ấy được giữ lại, không có chảy đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ở đây, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có trí tuệ rộng lớn.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.
Hạng trí tuệ lộn ngược
Không thông minh, không mắt
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Họ không học được gì,
Họ không có trí tuệHạng trí tuệ bắp vế
Ðược gọi là tốt hơn
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Ðứng dậy không hiểu rõ
Quên mất điều đã nắmBậc trí tuệ rộng lớn
Ðược gọi tốt hơn cả
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Thọ trì điều được nghe
Suy tư điều tối thắng
Với ý không dao động
Là hạng người như vậy
Thực hành pháp, tùy pháp
Có thể đoạn khổ đau.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.30
- 3. Individuals
Upside-down
10. Kinh Trí Tuệ Úp Ngược
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame tayo? Avakujjapañño puggalo, ucchaṅgapañño puggalo, puthupañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, avakujjapañño puggalo? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya. Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti. So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti; vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti. Seyyathāpi, bhikkhave, kumbho nikujjo tatra udakaṁ āsittaṁ vivaṭṭati, no saṇṭhāti; evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya. Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti. So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti; vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avakujjapañño puggalo.
“These three individuals are found in the world. What three? One with upside-down wisdom, one with wisdom on their lap, and one with widespread wisdom.
And who is the individual with upside-down wisdom? It’s an individual who often goes to the monastery to hear the teaching in the presence of the mendicants. The mendicants teach them Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. But even while sitting there, that person doesn’t apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. And when they rise from their seat, they don’t apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. It’s like when a pot full of water is tipped over, so the water drains out and doesn’t stay. In the same way, an individual often goes to the monastery to hear the teaching in the presence of the mendicants. The mendicants teach them Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. But even while sitting there, that person doesn’t apply the mind to the discussion in the beginning, middle, or end. And when they rise from their seat, they don’t apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. This is called an individual with upside-down wisdom.
30. “Này các Tỳ khưu, có ba hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Thế nào là ba? Người có trí tuệ úp ngược, người có trí tuệ như vạt áo, và người có trí tuệ rộng lớn. Này các Tỳ khưu, thế nào là người có trí tuệ úp ngược? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người thường xuyên đi đến tu viện để nghe Pháp từ các Tỳ khưu. Các Tỳ khưu thuyết Pháp cho vị ấy, pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Khi đang ngồi ở chỗ đó, vị ấy không tác ý đến phần đầu, không tác ý đến phần giữa, không tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy. Và sau khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vị ấy cũng không tác ý đến phần đầu, không tác ý đến phần giữa, không tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy. Này các Tỳ khưu, ví như một cái bình bị úp ngược, nước đổ vào đó sẽ chảy đi chứ không đọng lại. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, ở đây, có người thường xuyên đi đến tu viện để nghe Pháp từ các Tỳ khưu. Các Tỳ khưu thuyết Pháp cho vị ấy, pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Khi đang ngồi ở chỗ đó, vị ấy không tác ý đến phần đầu, không tác ý đến phần giữa, không tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy. Và sau khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vị ấy cũng không tác ý đến phần đầu, không tác ý đến phần giữa, không tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là người có trí tuệ úp ngược.
Katamo ca, bhikkhave, ucchaṅgapañño puggalo? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya. Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti. So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti; vuṭṭhito ca kho tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti. Seyyathāpi, bhikkhave, purisassa ucchaṅge nānākhajjakāni ākiṇṇāni—tilā taṇḍulā modakā badarā. So tamhā āsanā vuṭṭhahanto satisammosā pakireyya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya. Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti. So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti; vuṭṭhito ca kho tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ucchaṅgapañño puggalo.
And who is the individual with wisdom on their lap? It’s an individual who often goes to the monastery to hear the teaching in the presence of the mendicants. The mendicants teach them Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. While sitting there, that person applies the mind to the discussion in the beginning, middle, and end. But when they rise from their seat, they don’t apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. It’s like a person who has different kinds of food crammed on their lap—such as sesame, rice, sweets, or jujube—so that if they rise from the seat without mindfulness, everything gets scattered. In the same way, an individual often goes to the monastery to hear the teaching in the presence of the mendicants. The mendicants teach them Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. While sitting there, that person applies the mind to the discussion in the beginning, middle, and end. But when they rise from their seat, they don’t apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. This is called an individual with wisdom on their lap.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người có trí tuệ vạt áo? Ở đây, này các Tỳ khưu, có người thường xuyên đi đến tu viện, đến gần các vị Tỳ khưu để nghe Pháp. Các vị Tỳ khưu thuyết Pháp cho người ấy, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; các Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Người ấy, trong khi ngồi ở chỗ đó, tác ý đến phần đầu, tác ý đến phần giữa, và tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy; nhưng khi đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi đó, người ấy không còn tác ý đến phần đầu, không tác ý đến phần giữa, không tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy nữa. Ví như, này các Tỳ khưu, trong vạt áo của một người có chứa đầy các loại đồ ăn vặt khác nhau – như mè, gạo, bánh ngọt, táo ta. Khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi đó, do thất niệm, người ấy làm rơi vãi cả ra. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, ở đây có người thường xuyên đi đến tu viện, đến gần các vị Tỳ khưu để nghe Pháp. Các vị Tỳ khưu thuyết Pháp cho người ấy, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; các Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Người ấy, trong khi ngồi ở chỗ đó, tác ý đến phần đầu, tác ý đến phần giữa, và tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy; nhưng khi đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi đó, người ấy không còn tác ý đến phần đầu, không tác ý đến phần giữa, không tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là người có trí tuệ vạt áo.”
Katamo ca, bhikkhave, puthupañño puggalo? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya. Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti. So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti; vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti. Seyyathāpi, bhikkhave, kumbho ukkujjo tatra udakaṁ āsittaṁ saṇṭhāti no vivaṭṭati; evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya. Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti. So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti; vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puthupañño puggalo.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasminti.
And who is the individual with widespread wisdom? It’s an individual who often goes to the monastery to hear the teaching in the presence of the mendicants. The mendicants teach them Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. While sitting there, they apply the mind to the discussion in the beginning, middle, and end. And when they rise from their seat, they continue to apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. It’s like when a pot full of water is set straight, so the water stays and doesn’t drain out. In the same way, an individual often goes to the monastery to hear the teaching in the presence of the mendicants. The mendicants teach them Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. While sitting there, they apply the mind to the discussion in the beginning, middle, and end. And when they rise from their seat, they continue to apply the mind to the beginning, middle, or end of the discussion. This is called an individual with widespread wisdom.
These are the three individuals found in the world.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người có trí tuệ rộng lớn? Ở đây, này các Tỳ khưu, có người thường xuyên đi đến tu viện, đến gần các vị Tỳ khưu để nghe Pháp. Các vị Tỳ khưu thuyết Pháp cho người ấy, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; các Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Người ấy, trong khi ngồi ở chỗ đó, tác ý đến phần đầu, tác ý đến phần giữa, và tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy; và cả khi đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi đó, người ấy vẫn tác ý đến phần đầu, tác ý đến phần giữa, và tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy. Ví như, này các Tỳ khưu, một cái bình được đặt ngửa lên, nước được đổ vào đó sẽ được giữ lại, không chảy đi mất; cũng vậy, này các Tỳ khưu, ở đây có người thường xuyên đi đến tu viện, đến gần các vị Tỳ khưu để nghe Pháp. Các vị Tỳ khưu thuyết Pháp cho người ấy, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; các Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Người ấy, trong khi ngồi ở chỗ đó, tác ý đến phần đầu, tác ý đến phần giữa, và tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy; và cả khi đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi đó, người ấy vẫn tác ý đến phần đầu, tác ý đến phần giữa, và tác ý đến phần cuối của bài pháp ấy. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là người có trí tuệ rộng lớn. Này các Tỳ khưu, ba hạng người này có mặt, hiện hữu trong thế gian.”
Avakujjapañño puriso, dummedho avicakkhaṇo; Abhikkhaṇampi ce hoti, gantā bhikkhūna santike.
A person with upside-down wisdom, is a simpleton and cannot see, and even if they frequently go into the mendicants’ presence,
“Người trí tuệ úp ngược, kẻ ngu si không sáng suốt; Dầu cho thường xuyên lui tới, đến gần các vị Tỳ khưu.”
Ādiṁ kathāya majjhañca, pariyosānañca tādiso; Uggahetuṁ na sakkoti, paññā hissa na vijjati.
such a person can’t learn the beginning, middle, or end of the discussion, for their wisdom is lacking.
“Người như thế, phần đầu, phần giữa, và cả phần cuối của bài pháp; Chẳng thể nào tiếp thu được, vì người ấy không có trí tuệ.”
Ucchaṅgapañño puriso, seyyo etena vuccati; Abhikkhaṇampi ce hoti, gantā bhikkhūna santike.
the individual with wisdom on their lap is better than that, it’s said; but even if they frequently go into the mendicants’ presence,
“Người trí tuệ vạt áo, được gọi là hơn người kia; Dầu cho thường xuyên lui tới, đến gần các vị Tỳ khưu.”
Ādiṁ kathāya majjhañca, pariyosānañca tādiso; Nisinno āsane tasmiṁ, uggahetvāna byañjanaṁ; Vuṭṭhito nappajānāti, gahitaṁ hissa mussati.
such a person can only learn the beginning, middle, and end while sitting in that seat; but they’ve only grasped the phrasing, for when they rise their understanding fails, and what they’ve learned is lost.
“Người như thế, phần đầu, phần giữa, và cả phần cuối của bài pháp; Trong khi ngồi ở chỗ đó, đã tiếp thu được văn cú; Nhưng khi đứng dậy lại không hiểu, điều đã tiếp thu liền quên mất.”
Puthupañño ca puriso, seyyo etehi vuccati; Abhikkhaṇampi ce hoti, gantā bhikkhūna santike.
The person with widespread wisdom is better than that, it’s said; and if they, too, frequently go into the mendicants’ presence,
“Còn người trí tuệ rộng lớn, được gọi là hơn những người kia; Dầu cho thường xuyên lui tới, đến gần các vị Tỳ khưu.”
Ādiṁ kathāya majjhañca, pariyosānañca tādiso; Nisinno āsane tasmiṁ, uggahetvāna byañjanaṁ.
one such can learn the beginning, middle, and end while sitting in that seat; and when they’ve grasped the phrasing,
“Người như thế, phần đầu, phần giữa, và cả phần cuối của bài pháp; Trong khi ngồi ở chỗ đó, đã tiếp thu được văn cú.”
Dhāreti seṭṭhasaṅkappo, Abyaggamānaso naro; Dhammānudhammappaṭipanno, Dukkhassantakaro siyā”ti.
Dasamaṁ.
they remember it with the best of intentions. That peaceful-hearted man, practicing in line with the teaching, would make an end of suffering.”
“Người có tư duy cao thượng, tâm không dao động, ghi nhớ được (pháp ấy); Thực hành pháp và tùy pháp, có thể chấm dứt khổ đau.” (Kinh thứ mười)
Puggalavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Người, thứ ba.
Samiddha gilāna saṅkhārā, bahukārā vajirena ca; Sevi jiguccha gūthabhāṇī, andho ca avakujjatāti.
Samiddha, người bệnh, các hành, người giúp nhiều, và Vajira; Người đáng thân cận, đáng chán ghét, người nói lời hôi thối, người mù, và người trí tuệ úp ngược.