- Aṅguttara Nikāya 3.18
- 2. Rathakāravagga
Bản dịch
AN 3.18 — Thiên Giới
Devalokasutta
—Nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các thầy như sau: “Chư Hiền, có phải Sa-môn Gotama sống Phạm hạnh để được sanh lên cõi Trời? “Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có bực phiền, tủi nhục, chán ngấy hay không ?
—Thưa có , bạch Thế Tôn.
—Như vậy, này các Tỷ Kheo, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy đối với thiên thọ mạng; các Thầy bực phiền , tủi nhục, chán ngấy đối với thiên sắc, thiên lạc, thiên danh vọng, thiên thù thắng, còn nói gì, này các Tỷ Kheo, đối vói thân làm ác, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào, đối với miệng nói ác…. đối với ý nghĩ ác, các Thầy cảm thấy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.18
- 2. The Chariot-Maker
The Realm of the Gods
8. Kinh Cõi Trời
“Sace vo, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ: ‘devalokūpapattiyā, āvuso, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussathā’ti? Nanu tumhe, bhikkhave, evaṁ puṭṭhā aṭṭīyeyyātha harāyeyyātha jiguccheyyāthā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Iti kira tumhe, bhikkhave, dibbena āyunā aṭṭīyatha harāyatha jigucchatha, dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbenādhipateyyena aṭṭīyatha harāyatha jigucchatha; pageva kho pana, bhikkhave, tumhehi kāyaduccaritena aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabbaṁ, vacīduccaritena … manoduccaritena aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabban”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, if wanderers who follow another religion were to ask you: ‘Reverend, do you lead the spiritual life with the ascetic Gotama so that you can be reborn in the realm of the gods?’ Being questioned like this, wouldn’t you be horrified, repelled, and disgusted?”
“Yes, sir.”
“So it seems that you are horrified, repelled, and disgusted by heavenly lifespan, beauty, happiness, glory, and sovereignty. How much more then should you be horrified, embarrassed, and disgusted by bad conduct by way of body, speech, and mind.”
18. “Này các tỳ khưu, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ngươi như vầy: ‘Này chư hiền, có phải các vị sống đời phạm hạnh với Sa-môn Gotama là để được sanh vào cõi trời không?’ Này các tỳ khưu, khi được hỏi như vậy, há các ngươi không cảm thấy bực bội, hổ thẹn, và ghê tởm hay sao?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Này các tỳ khưu, như vậy, các ngươi bực bội, hổ thẹn, ghê tởm với tuổi thọ cõi trời, với sắc đẹp cõi trời, với lạc thú cõi trời, với danh vọng cõi trời, với quyền lực cõi trời; thì này các tỳ khưu, các ngươi lại càng phải bực bội, hổ thẹn, ghê tởm hơn nữa đối với thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh.” Kinh thứ tám.