- Aṅguttara Nikāya 3.145
- 14. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 3.145 — Morannivàpa
Tatiyamoranivāpasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha tại Moranivàpa. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
—Ðầy đủ ba pháp, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đạt đến tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba? Với vô học giới uẩn, với vô học định uẩn, với vô học tuệ uẩn, đầy đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
TTC 2Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
Với thần biến thần thông, với ký thuyết thần thông, với giáo giới thần thông; đầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người
TTC 3Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
Với chánh tri kiến, với chánh trí, với chánh giải thoát, đầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo là tột cùng tối hảo, tột cùng an ổn khỏi các khổ ách, tột cùng Phạm hạnh, tột cùng cứu cánh, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.145
- 14. A Warrior
At the Peacocks’ Feeding Ground (3rd)
13. Kinh Moranivāpa Thứ Ba
“Tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ. Katamehi tīhi? Sammādiṭṭhiyā, sammāñāṇena, sammāvimuttiyā—
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
Terasamaṁ.
“Mendicants, a mendicant with three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans. What three? Right view, right knowledge, and right freedom.
A mendicant with these three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans.”
146. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thành tựu ba pháp là người đã đạt đến mục đích tối hậu, đã đạt đến sự an ổn tối hậu khỏi các ách trược, là người sống đời phạm hạnh tối hậu, đã đạt đến sự kết thúc tối hậu, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người. Ba pháp nào? Với chánh kiến, với chánh trí, với chánh giải thoát. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thành tựu ba pháp này là người đã đạt đến mục đích tối hậu, đã đạt đến sự an ổn tối hậu khỏi các ách trược, là người sống đời phạm hạnh tối hậu, đã đạt đến sự kết thúc tối hậu, là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.” (Kinh) thứ mười ba.
Yodhājīvavaggo cuddasamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Yodhājīva, thứ mười bốn.
Yodho parisamittañca, uppādā kesakambalo; Sampadā vuddhi tayo assā, tayo moranivāpinoti.
Yodho, parisā, và mitta, uppādā, kesakambalo; Sampadā, vuddhi, ba (kinh), assā, ba (kinh) ở Moranivāpa.