- Aṅguttara Nikāya 3.128
- 13. Kusināravagga
Bản dịch
AN 3.128 — Thối Nát
Kaṭuviyasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana vườn Nai
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Thế Tôn, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, gần cây sung, chỗ cột đàn bò, thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với vị Tỷ-kheo ấy:
—Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra.
TTC 2Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới như vậy, cảm thấy xúc động mạnh. Rồi Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Ba-la-nại xong, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, ở đây, sau khi đắp y vào buổi sáng, Ta cầm lấy y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Này các Tỷ-kheo, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, Ta thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Ta liền nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra”.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được ta giáo giới với lời giáo giới này, cảm thấy xúc động mạnh.
TTC 3Khi nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thối nát cái gì, mùi hôi thối cái gì, các loài ruồi lằng là gì?
—Tham cầu, này các Tỷ-kheo, là thối nát; sân là mùi hôi thối, các suy tầm ác bất thiện là ruồi lằng. Này các Tỷ-kheo, ai làm cho các tự ngã thối nát, đầy ứ, thoát ra mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không chiếm cứ”, sự kiện như vậy không xảy ra.
Tai mắt không giữ gìn
Các căn không phòng hộ
Ruồi lằng sẽ bu đậu
Các tư duy tham ái
Tỷ-kheo làm thối nát
Ðầy ứ những mùi hôi
Xa thay là Niết-bàn!
Chịu phần về bất hạnh
Tại làng hay trong rừng
Tự ngã không an tịnh
Kẻ ngu và không trí
Ði đứng đầy ruồi lằng
Ai đầy đủ giới luật
Thích tịch tịnh trí tuệ
Sống an tịnh hạnh phúc
Mọi ruồi lằng diệt trừ
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.128
- 13. Kusinārā
Bitter
6. Kinh Kaṭuviya (Miếng Đồ Ăn Thừa)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bārāṇasiṁ piṇḍāya pāvisi. Addasā kho bhagavā goyogapilakkhasmiṁ piṇḍāya caramāno aññataraṁ bhikkhuṁ rittassādaṁ bāhirassādaṁ muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ pākatindriyaṁ.
Disvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: “Mā kho tvaṁ, bhikkhu, attānaṁ kaṭuviyamakāsi. Taṁ vata, bhikkhu, kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
At one time the Buddha was staying near Varanasi in the deer park at Isipatana.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Varanasi for alms. While the Buddha was walking for alms near the cow-hitching place at the wavy leaf fig, he saw a disgruntled monk who was looking for pleasure in external things, unmindful, without situational awareness or immersion, with straying mind and undisciplined faculties.
The Buddha said to him, “Monk, don’t be bitter. If you’re bitter, festering with putrefaction, flies will, without a doubt, plague and infest you.”
129. Một thời, Thế Tôn trú ở Bārāṇasī, tại Isipatana, Migadāya. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, vào thành Bārāṇasī để khất thực. Khi đang đi khất thực ở gần cây đa Goyoga, Thế Tôn thấy một Tỳ khưu nọ, người có vị giác trống rỗng, có vị giác bên ngoài, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn buông thả. Thấy vậy, Ngài nói với vị Tỳ khưu ấy điều này:
Atha kho so bhikkhu bhagavatā iminā ovādena ovadito saṁvegamāpādi. Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto bhikkhū āmantesi:
Hearing this advice of the Buddha, that monk was struck with a sense of urgency. Then, after the meal, on his return from almsround, the Buddha told the mendicants what had happened. …
‘Này Tỳ khưu, chớ làm cho tự thân mình giống như miếng đồ ăn thừa. Này Tỳ khưu, đối với người đã tự làm cho mình giống như miếng đồ ăn thừa, bị ướt đẫm bởi mùi hôi tanh, mà các con ruồi sẽ không bu đến, sẽ không bám theo, trường hợp ấy không xảy ra.’ Bấy giờ, vị Tỳ khưu ấy, được Thế Tôn khuyên dạy bằng lời giáo huấn này, đã đạt đến sự xúc động. Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Bārāṇasī, lúc về sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đã gọi các Tỳ khưu:
“Idhāhaṁ, bhikkhave, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bārāṇasiṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Addasaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, goyogapilakkhasmiṁ piṇḍāya caramāno aññataraṁ bhikkhuṁ rittassādaṁ bāhirassādaṁ muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ pākatindriyaṁ. Disvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
Này các Tỳ-kheo, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, Ta đã đi vào thành Bārāṇasī để khất thực. Này các Tỳ-kheo, khi đang đi khất thực gần cây đa Goyoga, Ta thấy một vị Tỳ-kheo vắng bóng hỷ lạc nội tâm, chỉ tìm cầu hỷ lạc bên ngoài, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không thu thúc. Thấy vị Tỳ-kheo ấy, Ta đã nói lời này:
‘Mā kho tvaṁ, bhikkhu, attānaṁ kaṭuviyamakāsi. Taṁ vata bhikkhu kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti. Atha kho, bhikkhave, so bhikkhu mayā iminā ovādena ovadito saṁvegamāpādī”ti. Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, kaṭuviyaṁ? Ko āmagandho? Kā makkhikā”ti?
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha:
“Sir, what is this ‘bitterness’? What is ‘putrefaction’? And what are the ‘flies’?”
‘‘Này Tỳ khưu, chớ làm cho tự thân mình giống như miếng đồ ăn thừa. Này Tỳ khưu, đối với người đã tự làm cho mình giống như miếng đồ ăn thừa, bị ướt đẫm bởi mùi hôi tanh, mà các con ruồi sẽ không bu đến, sẽ không bám theo, trường hợp ấy không xảy ra.’ Này các Tỳ khưu, bấy giờ, vị Tỳ khưu ấy, được Ta khuyên dạy bằng lời giáo huấn này, đã đạt đến sự xúc động.’ Khi được nói vậy, một Tỳ khưu khác bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, thế nào là miếng đồ ăn thừa? Thế nào là mùi hôi tanh? Thế nào là các con ruồi?’
“Abhijjhā kho, bhikkhu, kaṭuviyaṁ; byāpādo āmagandho; pāpakā akusalā vitakkā makkhikā. Taṁ vata, bhikkhu, kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatīti.
“Desire is bitterness; ill will is the putrefaction; and bad, unskillful thoughts are the flies. If you’re bitter, festering with putrefaction, flies will, without a doubt, plague and infest you.
‘Này Tỳ khưu, tham ái chính là miếng đồ ăn thừa; sân hận chính là mùi hôi tanh; các tư duy xấu ác, bất thiện chính là các con ruồi. Này Tỳ khưu, đối với người đã tự làm cho mình giống như miếng đồ ăn thừa, bị ướt đẫm bởi mùi hôi tanh, mà các con ruồi sẽ không bu đến, sẽ không bám theo, trường hợp ấy không xảy ra.’
Aguttaṁ cakkhusotasmiṁ, indriyesu asaṁvutaṁ; Makkhikānupatissanti, saṅkappā rāganissitā.
When your eyes and ears are unguarded, and you’re not restrained in your sense faculties, flies—those lustful thoughts—will plague you.
‘Không phòng hộ ở mắt và tai, không thu thúc trong các căn, các con ruồi sẽ bu đến, tức là các ý nghĩ dựa vào tham ái.
Kaṭuviyakato bhikkhu, āmagandhe avassuto; Ārakā hoti nibbānā, vighātasseva bhāgavā.
A mendicant who’s bitter, festering with putrefaction, is far from being extinguished, distress is their lot.
‘Vị Tỳ khưu đã trở thành miếng đồ ăn thừa, bị ướt đẫm bởi mùi hôi tanh, thì xa lìa Nibbāna, chỉ có phần trong sự phiền não.
Gāme vā yadi vāraññe, aladdhā samathamattano; Pareti bālo dummedho, makkhikāhi purakkhato.
Whether in village or wilderness, if they don’t find serenity in themselves, the fool, the simpleton departs, honored only by flies.
‘Dù ở làng hay ở rừng, kẻ ngu si, trí tuệ thấp kém, không đạt được sự an tịnh cho tự thân, đi lang thang, bị các con ruồi vây quanh.
Ye ca sīlena sampannā, paññāyūpasameratā; Upasantā sukhaṁ senti, nāsayitvāna makkhikā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
But those who have ethics, lovers of wisdom and peace, they, being peaceful, sleep at ease, since they’ve got rid of the flies.”
‘Còn những ai đầy đủ giới hạnh, ưa thích sự an tịnh bằng trí tuệ, các vị ấy, sau khi đã diệt trừ các con ruồi, được an tịnh, sống an lạc.’ Kinh thứ sáu.