- Aṅguttara Nikāya 3.101
- 10. Loṇakapallavagga
Bản dịch
AN 3.101 — Kẻ Lọc Vàng
Paṁsudhovakasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có những uế nhiễm thô tạp của vàng như bụi, cát, đá, sạn và đá sỏi. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đã lọc bụi đem đổ vào trong cái máng, rồi rửa sạch qua, rửa sạch lại, rửa sạch thêm nữa.
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, còn lại những uế nhiễm bậc trung của vàng, như cát đá, sạn tế nhị và các hột cát thô tạp. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đãi lọc bụi rửa sạch, rửa sạch thêm nữa, rửa sạch hoàn toàn.
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, còn lại những uế nhiễm tế nhị, như cát mịn và cát bụi đen. Người đãi lọc bụi hay đệ tử của người đãi lọc bụi rửa sạch, rửa sạch thêm nữa, rửa sạch hoàn toàn.
Làm xong như vậy, làm như vậy hoàn tất, chỉ còn lại bụi vàng.
TTC 2Rồi người thợ vàng hay đệ tử người thợ vàng bỏ bụi vàng ấy vào trong cái lò, rồi thụt ống bệ, thụt ống bệ thêm, thụt ống bệ cho đến khi vàng bắt đầu chảy, nhưng không chảy ra khỏi miệng lò. Vàng ấy được thụt bệ, được thụt bệ thêm nữa, được thụt bệ hơn nữa, nhưng không chảy ra khỏi miệng lò, chưa làm xong, chưa sạch các uế nhiễm, chưa có nhu nhuyễn, chưa có kham nhậm, chưa có sáng chói. Vàng ấy còn có thể bể vụn và chưa có thể được tác thành tốt đẹp.
Có một thời, này các Tỷ-kheo, người thợ vàng hay đệ tử người thợ vàng ấy lại thụt bệ, thụt bệ thêm nữa, thụt bệ hơn nữa, cho đến khi vàng chảy ra khỏi lò. Vàng ấy lại được thụt bệ, được thụt bệ thêm nữa, được thụt bệ hơn nữa, cho đến khi vàng ấy chảy ra khỏi lò, được làm xong, được sạch các uế nhiễm, được nhu nhuyễn, được kham nhậm, và được sáng chói. Vàng ấy còn không bị bể vụn và có thể tác thành tốt đẹp. Và loại trang sức nào người ấy muốn, như vàng lá, hay nhẫn, hay vòng cổ, hay dây chuyền, người ấy có thể làm thành như ý muốn.
TTC 3Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử thô tạp, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Tỷ-kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt, không cho sanh khởi lại.
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, Tỷ-kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử thuộc bậc trung, dục tầm, sân tầm, hại tầm. Tỷ-kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt, không cho sanh khởi .
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, Tỳ kheo tu tập tăng thượng tâm, còn tồn tại các kiết sử tế nhị, như tư tưởng về gia tộc, tư tưởng về quốc độ, tư tuởng không bị khinh rẻ. Tỳ kheo có tư lự, có thông minh, từ bỏ, gột sạch, chấm dứt không cho chúng sanh khởi.
Làm như vậy xong, làm như vậy hoàn tất, chỉ còn lại các pháp tầm (tư tưởng về pháp).
TTC 4Ðịnh như vậy không có an tịnh, không có thù thắng, không được khinh an, không đạt đến nhứt tâm, nhưng là một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép. Nhưng đến một thời, này các Tỷ-kheo, tâm của vị ấy được nội trú, lắng đứng lại, được nhứt tâm, được định tĩnh. Ðịnh ấy được an tịnh, được thù diệu, được khinh an, đạt đến nhứt tâm, không phải một trạng thái chế ngự thường xuyên dằn ép, tùy thuộc vào pháp gì tâm người ấy hướng đến để thắng tri, để chứng ngộ; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 5Nếu vị ấy ước muốn, ta sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, ngồi kiết già đi đến hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 6Vị ấy nếu ước muốn: “Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài người”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 7Nếu vị ấy ước muốn: “Mong rằng với tâm của mình có thể biết tâm của các loại chúng sanh khác, tâm của các loài Người khác như sau: Tâm có tham biết là tâm có tham. Tâm không tham biết là tâm không tham. Tâm có sân biết là tâm có sân. Tâm không sân biết là tâm không sân. Tâm có si biết là tâm có si. Tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm biết là không phải đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm thiền định biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định biết là tâm không thiền định.Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 8Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp; vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh tại đây”. Vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào”.
TTC 9Nếu vị ấy ước muốn: Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh ấy làm những ác nghiệp về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục, đọa xứ. Các chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những vị này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, ta có thể thấy sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 10Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí, ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 11Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, cần phải thỉnh thoảng tác ý ba tướng. Cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng định, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng cần, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng xả.
TTC 12Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu một chiều tác ý tướng định, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến thụ động. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng tinh cần, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến trạo cử. Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Nhưng nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu thỉnh thoảng tác ý tướng định, thỉnh thoảng tác ý tướng tinh cần, thỉnh thoảng tác ý tướng xả, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, chơn chánh định tĩnh để đoạn tận các lậu hoặc.
TTC 13Ví như một thợ làm vàng, này các Tỷ-kheo, hay đệ tử người làm vàng, xây lên các lò đúc. Sau khi xây lên các lò đúc, người ấy nhóm lửa đốt miệng lò. Sau khi đốt miệng lò, với cái kềm, người ấy cầm vàng bỏ vào miệng lò; rồi thỉnh thoảng người ấy thụt ống bệ, thỉnh thoảng người ấy rưới nước, thỉnh thoảng người ấy quan sát kỹ lưỡng. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều thổi ống bệ, thì có sự kiện vàng ấy bị cháy. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều rưới nước, thì có sự kiện vàng ấy bị nguội lạnh. Nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, một chiều quan sát kỹ lưỡng, thì có sự kiện vàng ấy không chơn chánh đi đến thuần thục. Còn nếu người làm vàng hay đệ tử người làm vàng, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng thổi ống bệ vàng ấy, thỉnh thoảng rưới nước, thỉnh thoảng quan sát kỹ lưỡng, thời vàng ấy trở thành trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, và được thành tốt đẹp. Và loại trang sức nào người ấy muốn như vàng lá, hay nhẫn, hay vòng cổ, hay dây chuyền, người ấy có thể làm thành như ý muốn.
TTC 14Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo siêng năng tu tập tăng thượng tâm, cần phải thỉnh thoảng tác ý ba tướng. Cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng định, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng tinh cần, cần phải thỉnh thoảng tác ý tướng xả. Nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, nếu một chiều tác ý tướng định, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến thụ động. Nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng tinh cần, thời có sự kiện tâm vị ấy đi đến trạo cử. Nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ kheo, nếu một chiều tác ý tướng xả, thời có sự kiện tâm vị ấy không chơn chánh định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Nhưng nếu Tỷ-kheo siêng tu tập tăng thượng tâm, này các Tỷ-kheo, thỉnh thoảng tác ý tướng định, thỉnh thoảng tác ý tướng tinh cần, thỉnh thoảng tác ý tướng xả, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, không bể vụn, chơn chánh định tĩnh để đoạn tận các lậu hoặc. Tùy thuộc theo pháp gì, tâm vị ấy hướng đến để thắng tri, để chứng ngộ, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 15Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ chứng đạt nhiều loại thần thông … (như 100.5) … chứng tri sáu loại thắng trí … do đoạn diệt các lậu hoặc … (như 100.10) … sau khi chứng ngộ, ta sẽ chứng đạt và an trú”; vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.101
- 10. A Lump of Salt
A Panner
10. Kinh Người Giặt Bụi
“Santi, bhikkhave, jātarūpassa oḷārikā upakkilesā paṁsuvālukā sakkharakaṭhalā. Tamenaṁ paṁsudhovako vā paṁsudhovakantevāsī vā doṇiyaṁ ākiritvā dhovati sandhovati niddhovati. Tasmiṁ pahīne tasmiṁ byantīkate santi jātarūpassa majjhimasahagatā upakkilesā sukhumasakkharā thūlavālukā. Tamenaṁ paṁsudhovako vā paṁsudhovakantevāsī vā dhovati sandhovati niddhovati. Tasmiṁ pahīne tasmiṁ byantīkate santi jātarūpassa sukhumasahagatā upakkilesā sukhumavālukā kāḷajallikā. Tamenaṁ paṁsudhovako vā paṁsudhovakantevāsī vā dhovati sandhovati niddhovati. Tasmiṁ pahīne tasmiṁ byantīkate athāparaṁ suvaṇṇasikatāvasissanti. Tamenaṁ suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā jātarūpaṁ mūsāyaṁ pakkhipitvā dhamati sandhamati niddhamati. Taṁ hoti jātarūpaṁ dhantaṁ sandhantaṁ niddhantaṁ aniddhantakasāvaṁ, na ceva mudu hoti na ca kammaniyaṁ, na ca pabhassaraṁ pabhaṅgu ca, na ca sammā upeti kammāya. Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā taṁ jātarūpaṁ dhamati sandhamati niddhamati. Taṁ hoti jātarūpaṁ dhantaṁ sandhantaṁ niddhantaṁ niddhantakasāvaṁ, mudu ca hoti kammaniyañca pabhassarañca, na ca pabhaṅgu, sammā upeti kammāya. Yassā yassā ca pilandhanavikatiyā ākaṅkhati—yadi paṭṭikāya, yadi kuṇḍalāya, yadi gīveyyake, yadi suvaṇṇamālāya—tañcassa atthaṁ anubhoti.
“Native gold has coarse corruptions: sand, soil, and gravel. A panner or their apprentice pours it into a pan, where they wash, rinse, and clean it. When that’s been eliminated, there are medium corruptions in the native gold: fine grit and coarse sand. The panner washes it again. When that’s been eliminated, there are fine corruptions in the native gold: fine sand and black grime. The panner washes it again. When that’s been eliminated, only golden flecks remain. A goldsmith or their apprentice places the native gold in a crucible where they blow, melt, and smelt it. Still the native gold is not settled and the dross is not totally gone. It’s not pliable, workable, or radiant, but is brittle and not completely ready for working. But the goldsmith keeps on blowing, melting, and smelting it. The native gold becomes pliable, workable, and radiant, not brittle, and ready to be worked. Then the goldsmith can successfully create any kind of ornament they want, whether a bracelet, earrings, a necklace, or a golden garland.
102. “Này các Tỳ khưu, vàng có những cấu uế thô lậu: bụi đất, cát, sỏi đá, mảnh sành. Người thợ đãi vàng hay đệ tử của người thợ đãi vàng đổ chúng vào máng rồi đãi, đãi kỹ, đãi sạch. Khi những thứ ấy đã được loại bỏ, đã được làm cho biến mất, vàng vẫn còn những cấu uế cỡ trung bình: sỏi nhỏ, cát thô. Người thợ đãi vàng hay đệ tử của người thợ đãi vàng lại đãi, đãi kỹ, đãi sạch. Khi những thứ ấy đã được loại bỏ, đã được làm cho biến mất, vàng vẫn còn những cấu uế vi tế: cát mịn, bụi đen. Người thợ đãi vàng hay đệ tử của người thợ đãi vàng lại đãi, đãi kỹ, đãi sạch. Khi những thứ ấy đã được loại bỏ, đã được làm cho biến mất, sau đó chỉ còn lại cát vàng. Người thợ luyện vàng hay đệ tử của người thợ luyện vàng cho vàng ấy vào nồi nấu rồi thổi, thổi đều, thổi mạnh. Vàng ấy được thổi, được thổi đều, được thổi mạnh, nhưng cặn bã chưa được loại bỏ hết, thì nó không mềm mại, không dễ uốn nắn, không sáng chói, và giòn gãy, không thể dùng để chế tác được. Này các Tỳ khưu, có lúc người thợ luyện vàng hay đệ tử của người thợ luyện vàng thổi, thổi đều, thổi mạnh vàng ấy. Vàng ấy được thổi, được thổi đều, được thổi mạnh, cặn bã đã được loại bỏ hết, thì nó trở nên mềm mại, dễ uốn nắn, sáng chói, và không giòn gãy, có thể dùng để chế tác được. Và người ấy muốn làm bất cứ loại trang sức nào – dù là tấm vàng, đôi bông tai, vòng cổ, hay vòng hoa vàng – nó đều đáp ứng được mục đích ấy.”
Evamevaṁ kho, bhikkhave, santi adhicittamanuyuttassa bhikkhuno oḷārikā upakkilesā kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ, tamenaṁ sacetaso bhikkhu dabbajātiko pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Tasmiṁ pahīne tasmiṁ byantīkate santi adhicittamanuyuttassa bhikkhuno majjhimasahagatā upakkilesā kāmavitakko byāpādavitakko vihiṁsāvitakko, tamenaṁ sacetaso bhikkhu dabbajātiko pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Tasmiṁ pahīne tasmiṁ byantīkate santi adhicittamanuyuttassa bhikkhuno sukhumasahagatā upakkilesā ñātivitakko janapadavitakko anavaññattipaṭisaṁyutto vitakko, tamenaṁ sacetaso bhikkhu dabbajātiko pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Tasmiṁ pahīne tasmiṁ byantīkate athāparaṁ dhammavitakkāvasissanti. So hoti samādhi na ceva santo na ca paṇīto nappaṭippassaddhaladdho na ekodibhāvādhigato sasaṅkhāraniggayhavāritagato.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ taṁ cittaṁ ajjhattaṁyeva santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. So hoti samādhi santo paṇīto paṭippassaddhiladdho ekodibhāvādhigato na sasaṅkhāraniggayhavāritagato. Yassa yassa ca abhiññā sacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññā sacchikiriyāya tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
In the same way, a mendicant who is committed to the higher mind has coarse corruptions: bad bodily, verbal, and mental conduct. A sincere, proficient mendicant gives these up, dispels, eliminates, and obliterates them.
When they’ve been given up and eliminated, there are middling corruptions: sensual, malicious, or cruel thoughts. A sincere, proficient mendicant gives these up, dispels, eliminates, and obliterates them.
When they’ve been given up and eliminated, there are fine corruptions: thoughts of family, country, and status. A sincere, proficient mendicant gives these up, dispels, eliminates, and obliterates them.
When they’ve been given up and eliminated, only thoughts about the teaching are left. That immersion is not peaceful or sublime or tranquil or unified, but is held in place by forceful suppression.
But there comes a time when that mind is stilled internally; it settles, unifies, and becomes immersed in samādhi. That immersion is peaceful and sublime and tranquil and unified, not held in place by forceful suppression. They extend the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and they are capable of realizing those things, since each and every one is within range.
“Này các Tỳ khưu, cũng vậy, đối với vị Tỳ khưu chuyên tâm vào tăng thượng tâm, có những cấu uế thô lậu: thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Vị Tỳ khưu có trí, sáng suốt, từ bỏ chúng, loại trừ chúng, làm cho chúng biến mất, đưa chúng đến chỗ không còn tồn tại. Khi những thứ ấy đã được loại bỏ, đã được làm cho biến mất, đối với vị Tỳ khưu chuyên tâm vào tăng thượng tâm, vẫn còn những cấu uế cỡ trung bình: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vị Tỳ khưu có trí, sáng suốt, từ bỏ chúng, loại trừ chúng, làm cho chúng biến mất, đưa chúng đến chỗ không còn tồn tại. Khi những thứ ấy đã được loại bỏ, đã được làm cho biến mất, đối với vị Tỳ khưu chuyên tâm vào tăng thượng tâm, vẫn còn những cấu uế vi tế: tầm về quyến thuộc, tầm về quốc độ, tầm liên quan đến việc không bị khinh rẻ. Vị Tỳ khưu có trí, sáng suốt, từ bỏ chúng, loại trừ chúng, làm cho chúng biến mất, đưa chúng đến chỗ không còn tồn tại. Khi những thứ ấy đã được loại bỏ, đã được làm cho biến mất, sau đó chỉ còn lại các tầm về Pháp. Định ấy không tĩnh lặng, không cao thượng, không đạt được sự an tịnh, không đạt được nhất tâm, và được duy trì bằng sự nỗ lực cố gắng chế ngự. Này các Tỳ khưu, có lúc tâm ấy được an trú, lắng đọng, nhất tâm, và định tĩnh ngay trong nội tâm. Định ấy trở nên tĩnh lặng, cao thượng, đạt được sự an tịnh, đạt được nhất tâm, và không được duy trì bằng sự nỗ lực cố gắng chế ngự. Và vị ấy hướng tâm đến bất cứ pháp nào cần được chứng ngộ bằng thắng trí để chứng ngộ, vị ấy đều đạt được khả năng chứng thực ngay tại đó, khi có cơ sở.”
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ—ekopi hutvā bahudhā assaṁ, bahudhāpi hutvā eko assaṁ; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gaccheyyaṁ, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ kareyyaṁ, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gaccheyyaṁ, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kameyyaṁ, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimaseyyaṁ parimajjeyyaṁ; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
If they wish: ‘May I wield the many kinds of psychic power: multiplying myself and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful; controlling the body as far as the realm of divinity.’ They are capable of realizing these things, since each and every one is within range.
“Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng ta có thể trải nghiệm nhiều loại thần thông: một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân; hiện hình, biến mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên trong đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm, như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không như loài chim có cánh; với bàn tay, chạm và vuốt ve cả mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, đại oai lực như vậy; có thể dùng thân để tác động quyền lực cho đến tận cõi Phạm thiên’, vị ấy đều đạt được khả năng chứng thực ngay tại đó, khi có cơ sở.”
So sace ākaṅkhati: ‘dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇeyyaṁ dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
If they wish: ‘With clairaudience that is purified and superhuman, may I hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.’ They are capable of realizing these things, since each and every one is within range.
“Nếu vị ấy mong muốn: ‘Mong rằng với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu việt cõi người, ta có thể nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần’, vị ấy đều đạt được khả năng chứng thực ngay tại đó, khi có cơ sở.”
So sace ākaṅkhati: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ—sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ; sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ; samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītamohaṁ vā cittaṁ vītamohaṁ cittanti pajāneyyaṁ; saṅkhittaṁ vā cittaṁ saṅkhittaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vikkhittaṁ vā cittaṁ vikkhittaṁ cittanti pajāneyyaṁ; mahaggataṁ vā cittaṁ mahaggataṁ cittanti pajāneyyaṁ, amahaggataṁ vā cittaṁ amahaggataṁ cittanti pajāneyyaṁ; sauttaraṁ vā cittaṁ sauttaraṁ cittanti pajāneyyaṁ, anuttaraṁ vā cittaṁ anuttaraṁ cittanti pajāneyyaṁ; samāhitaṁ vā cittaṁ samāhitaṁ cittanti pajāneyyaṁ, asamāhitaṁ vā cittaṁ asamāhitaṁ cittanti pajāneyyaṁ; vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajāneyyaṁ, avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
If they wish: ‘May I understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with my mind. May I understand mind with greed as “mind with greed”, and mind without greed as “mind without greed”; mind with hate as “mind with hate”, and mind without hate as “mind without hate”; mind with delusion as “mind with delusion”, and mind without delusion as “mind without delusion”; constricted mind as “constricted mind”, and scattered mind as “scattered mind”; expansive mind as “expansive mind”, and unexpansive mind as “unexpansive mind”; mind that is not supreme as “mind that is not supreme”, and mind that is supreme as “mind that is supreme”; mind immersed in samādhi as “mind immersed in samādhi”, and mind not immersed in samādhi as “mind not immersed in samādhi”; freed mind as “freed mind”, and unfreed mind as “unfreed mind”.’ They are capable of realizing these things, since each and every one is within range.
“Vị ấy nếu mong muốn rằng: ‘Mong rằng ta, với tâm của mình, có thể bao quát và thấu hiểu tâm của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Ta có thể biết được tâm có tham là tâm có tham; hoặc tâm không tham là tâm không tham; tâm có sân là tâm có sân; hoặc tâm không sân là tâm không sân; tâm có si là tâm có si; hoặc tâm không si là tâm không si; tâm co rút là tâm co rút; hoặc tâm tán loạn là tâm tán loạn; tâm quảng đại là tâm quảng đại; hoặc tâm không quảng đại là tâm không quảng đại; tâm hữu hạn là tâm hữu hạn; hoặc tâm vô thượng là tâm vô thượng; tâm có định là tâm có định; hoặc tâm không có định là tâm không có định; tâm giải thoát là tâm giải thoát; hoặc tâm không giải thoát là tâm không giải thoát.’ – thì vị ấy đạt được khả năng chứng ngộ ngay tại nơi ấy, khi có nhân duyên.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: “amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno”ti, iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
If they wish: ‘May I recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. May I remember: “There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.” May I recollect my many past lives, with features and details.’ They are capable of realizing these things, since each and every one is within range.
“Vị ấy nếu mong muốn rằng: ‘Mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại. Ở nơi kia, ta đã có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, đã trải nghiệm khổ lạc như thế, có tuổi thọ giới hạn như thế. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh ra ở nơi kia. Ở đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, đã trải nghiệm khổ lạc như thế, có tuổi thọ giới hạn như thế. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh ra ở đây.’ – như vậy, mong rằng ta có thể nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các đặc điểm và chi tiết của chúng.’ – thì vị ấy đạt được khả năng chứng ngộ ngay tại nơi ấy, khi có nhân duyên.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyyaṁ cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyyaṁ: “ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā”ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyyaṁ cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane.
If they wish: ‘With clairvoyance that is purified and superhuman, may I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place—and understand how sentient beings pass on according to their deeds: “These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.” And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, may I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. And may I understand how sentient beings pass on according to their deeds.’ They are capable of realizing these things, since each and every one is within range.
“Vị ấy nếu mong muốn rằng: ‘Mong rằng ta, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, có thể thấy các chúng sanh đang chết đi, đang sanh ra; những chúng sanh hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đi về thiện thú, ác thú; mong rằng ta có thể biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Này các bạn, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ hành động theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này, này các bạn, đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ hành động theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.’ – như vậy, mong rằng ta, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, có thể thấy các chúng sanh đang chết đi, đang sanh ra; những chúng sanh hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đi về thiện thú, ác thú; mong rằng ta có thể biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.’ – thì vị ấy đạt được khả năng chứng ngộ ngay tại nơi ấy, khi có nhân duyên.
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati satiāyatane”ti.
Dasamaṁ.
If they wish: ‘May I realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.’ They are capable of realizing these things, since each and every one is within range.”
“Vị ấy nếu mong muốn rằng: ‘Mong rằng ta, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ và đạt đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, và an trú trong đó.’ – thì vị ấy đạt được khả năng chứng ngộ ngay tại nơi ấy, khi có nhân duyên.” Hết phẩm thứ mười.